- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Lê Thị T - Lê Văn Th"
- Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị Lê Thị T. Chị Lê Thị T được ly hôn với anh Lê Văn Th.
- Căn cứ chính? Điều 186 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MỎ CÀY NAM | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| TỈNH BẾN TRE Bản án số: 28/2023/HN- ST Ngày 07/3/2023 V/v: “Xin ly hôn ” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MỎ CÀY NAM, TỈNH BẾN TRE
Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
- Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Trần Thanh Phong
- Các Hội thẩm nhân dân: Ông Sử Văn Trai Em.
Ông Ngô Bá Đức.
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thư Linh - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Mỏ Cày Nam, tỉnh Bến Tre.
- Kiểm sát viên tham gia phiên tòa: Bà Lê Thị Diệu.
Ngày 07 tháng 3 năm 2023 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Mỏ Cày Nam, tỉnh Bến Tre xét xử sơ thẩm công khai vụ án Hôn nhân và gia đình thụ lý số: 386/2022/TLST-HN ngày 19 tháng 12 năm 2022 về việc “xin ly hôn” theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 36A/2022/QĐXXST-HN ngày 13/02/2023 và quyết định hoãn phiên toà số: 53A /2023/QĐST-HN ngày 24/02/2023 giữa các đương sự:
* Nguyên đơn: Lê Thị T, sinh 1982 (có yêu cầu xét xử vắng mặt)
Trú tại: Ấp An Trạch Đ, xã Thành Thới A, huyện Mỏ Cày N, tỉnh Bến Tre.
* Bị đơn: Lê Văn Th, sinh 1979 (vắng mặt không có lý do)
Trú tại: Ấp An Nhơn 1, xã Đa Phước H, huyện Mỏ Cày N, tỉnh Bến Tre.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện nguyên đơn chị T trình bày:
Vào năm 2002 tôi và anh Th đã tiến tới hôn nhân, vợ chồng có đăng ký kết hôn tại UBND xã Đa Phước Hội, huyện Mỏ Cày Nam, tỉnh Bến Tre. Sau khi cưới nhau vợ chồng sống hạnh phúc được một thời gian thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân do bất đồng quan điểm trong cuộc sống, tính tình không hợp, anh Th thường xuyên đánh đập tôi, từ đó chúng tôi sống ly thân từ tháng 3/2022 đến nay. Nay tôi xin ly hôn với anh Th.
Quá trình sống chung vợ chồng có 02 con chung tên Lê Văn Thanh Tú, sinh ngày 25/01/2003 hiện đã trưởng thành nên không yêu cầu giải quyết; Lê Văn Thanh Tú, sinh ngày 15/7/2007 hiện đang sống cùng tôi, tôi xin nuôi con, tôi không yêu cầu cấp dưỡng nuôi con.
Tài sản chung: Vợ chồng tự thoả thuận giải quyết, không yêu cầu giải quyết.
Nợ chung: Không có.
Bị đơn Lê Văn Th vắng mặt trong các giai đoạn tố tụng của Tòa án và cũng không có bất cứ lời trình bày nào đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát phát biểu quan điểm cho rằng các giai đoạn tố tụng của Tòa án từ khi thụ lý vụ án đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án Thẩm phán, Hội thẩm nhân dân, Thư ký Tòa án thực hiện nhiệm vụ tuân thủ đúng các quy định pháp luật, người tham gia tố tụng nguyên đơn chấp hành đúng pháp luật, bị đơn không chấp hành theo giấy triệu tập của Toà án, nhưng không ảnh hưởng đến việc giải quyết vụ án, nên đề nghị tiếp tục xét xử vụ án. Về nội dung vụ án đề nghị Áp dụng điều 56, 58, 81, 82, 83, 84 luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị T.
Về con chung: Đề nghị giao bé Lê Văn Thanh Tú, sinh ngày 15/7/2007 cho chị T trực tiếp nuôi dưỡng. Ghi nhận chị T không yêu cầu cấp dưỡng nuôi con.
Tài sản chung: Vợ chồng tự thoả thuận giải quyết, không yêu cầu giải quyết, nên không xem xét.
Nợ chung: Không có, nên không xem xét.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ vào lời trình bày của các đương sự, căn cứ vào kết quả tranh luận, Hội đồng xét xử nhận thấy:
* Về áp dụng pháp luật tố tụng:
Về quyền khởi kiện: Chị T cho rằng quá trình sống chung giữa vợ chồng không còn hạnh phúc nên muốn ly hôn, do đó chị khởi kiện. Căn cứ điều 51 luật hôn nhân và gia đình; khoản 2 điều 68, điều 186 Bộ luật Tố tụng dân sự thì chị T có quyền khởi kiện.
Về thẩm quyền giải quyết: Đối với yêu cầu của chị T là tranh chấp về việc ly hôn. Căn cứ khoản 1 điều 28 Bộ luật Tố tụng dân sự thì loại việc thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án và nơi cư trú của bị đơn thuộc xã Đa Phước Hội, huyện Mỏ Cày Nam. Căn cứ điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự thì Tòa án nhân dân huyện Mỏ Cày Nam thụ lý giải quyết là phù hợp pháp luật.
Bị đơn được triệp tập xét xử 02 lần hợp lệ nhưng vẫn vắng mặt không có lý do, nguyên đơn có yêu cầu xét xử vắng mặt. Căn cứ điều 227, 228 Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án vẫn tiến hành xét xử vắng mặt đối với nguyên đơn, bị đơn.
* Về nội dung giải quyết vụ án:
Chị T, anh Th kết hôn trên cơ sở tự tìm hiểu quen biết và tự nguyện tiến đến hôn nhân, anh, chị có đăng ký kết hôn tại UBND cấp có thẩm quyền, do đó hôn nhân của anh chị là hôn nhân hợp pháp, nên được pháp luật công nhận và bảo vệ. Sau khi kết hôn anh chị sống có hạnh phúc, có con chung, lẽ ra anh, chị phải biết gìn giữ, nhưng từ những mâu thuẫn trong đời sống thường ngày mà anh, chị không tìm cách để khắc phục, sống ly thân từ tháng 3/2022 đến nay bỏ mặt cho nhau. Quá trình Tòa án thụ lý giải quyết chị T vẫn giữ nguyên quan điểm ly hôn, còn anh Th đã được triệu tập rất nhiều lần để Tòa án tiến hành tổ chức hòa giải tạo điều kiện cho vợ chồng đoàn tụ nhưng anh vẫn cố tình vắng mặt không có lý do. Điều đó cho thấy anh Th không có thiện chí muốn trở về chung sống với chị T. Xét mâu thuẫn vợ chồng anh chị là có thật, nếu để anh chị tiếp tục chung sống thì mục đích hôn nhân sẽ không đạt được, do đó chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị T là phù hợp.
Về con chung: Anh chị có 02 con chung tên Lê Văn Thanh Tú, sinh ngày 25/01/2003 hiện đã trưởng thành, không yêu cầu giải quyết, nên không xem xét; Lê Văn Thanh Tú, sinh ngày 15/7/2007, chị T xin trực tiếp nuôi dưỡng. Xét thấy từ lúc vợ chồng anh chị sống ly thân đến nay thì bé Lê Văn Thanh Tú, sinh ngày 15/7/2007 vẫn sống chung với chị T, bé đã thích nghi với việc chăm sóc nuôi dưỡng của chị T và nguyện vọng của bé sau khi được hỏi ý kiến cũng mong muốn sống cùng chị T, nên giao Lê Văn Thanh Tú, sinh ngày 15/7/2007 cho chị T trực tiếp nuôi dưỡng là phù hợp. Do chị T không yêu cầu cấp dưỡng nuôi con, nên không xem xét.
Tài sản chung: Vợ chồng tự thoả thuận giải quyết, không yêu cầu giải quyết, nên không xem xét.
Nợ chung: Không có, nên không xem xét.
Chị T phải chịu án phí hôn nhân sơ thẩm theo quy định pháp luật.
Quan điểm của Kiểm sát viên phù hợp với quan điểm của Hội đồng xét xử, nên được chấp nhận.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Áp dụng điều 51, 56, 81, 82, 83, 84 luật Hôn nhân và gia đình năm 2014.
Áp dụng khoản 5 điều 27 nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
Chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị Lê Thị T. Chị Lê Thị T được ly hôn với anh Lê Văn Th.
Về con chung: Chị T trực tiếp nuôi dưỡng con chung tên Lê Văn Thanh Tú, sinh ngày 15/7/2007, anh Th không phải cấp dưỡng nuôi con.
Sau khi ly hôn, cha mẹ đều có quyền và nghĩa vụ ngang nhau đối với con chung, người không trực tiếp nuôi con có quyền đến thăm nom, chăm sóc, giáo dục, nuôi dưỡng con chung, không ai được quyền ngăn cản.
Vì lợi ích của con chưa thành niên, khi có căn cứ một hoặc cả hai bên chị T, anh Th được quyền yêu cầu Tòa án thay đổi người trực tiếp nuôi con và mức cấp dưỡng nuôi con.
Tài sản chung: Vợ chồng tự thoả thuận giải quyết, không yêu cầu giải quyết, nên không xem xét.
Nợ chung: Không có, nên không xem xét.
Án phí hôn nhân sơ thẩm: Chị T chịu 300.000 đồng nhưng được khấu trừ số tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu số 0001080 ngày 15/12/2022 là đủ.
Nguyên đơn, bị đơn có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày được tống đạt hợp lệ bản án.
| Nơi nhận: - TAND Bến Tre (1b); - VKSND huyện Mỏ Cày Nam (2b); - Chi cục THADS huyện Mỏ Cày Nam(1b); - UBND xã Đa Phước Hội (1b) - Những người tham gia tố tụng (2b); - Lưu HS, VP, THA (4b). | TM.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẨM PHÁN CHỦ TỌA PHIÊN TÒA đã ký |