vanban.org

Bản án 28/2023/DS-PT — Tranh chấp về quyền sở hữu và các quyền khác đối với tài sản

TAND tỉnh Bình Thuận Tuyên án 16/03/2023 Dân sự Phúc thẩm
Đã có hiệu lực pháp luật — từ ngày tuyên án 16/03/2023 Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nh n yêu cầu h i iện của nguyên đơn như sau:

Buộc ông Trương Quốc H giao trả lại cho bà Lê Thị Mộng T thửa đất số 216, tờ bản đồ số 17, tọa lạc tại đường Nguyễn Thanh H, hu phố 2, phường M, thành phố P, t nh B nh Thu n, diện tích 652,2 m2 và hai ngôi nhà cấp 4A, cấp 4C có trên thửa đất số 216. Theo bản đồ vị trí hu đất tranh chấp năm 2020 ( èm… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Tranh chấp về quyền sở hữu và các quyền khác đối với tài sản — án dân sự — "Đòi lại tài sản"
  • Tòa quyết gì? Chấp nh n yêu cầu h i iện của nguyên đơn như sau:
  • Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TÒA ÁN NHÂN DÂN
TỈNH BÌNH THUẬN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 28/2023/DS-PT
Ngày: 16/3/2023
V/v: Tranh chấp đòi lại tài sản
(Quyền sử dụng đất- tài sản gắn
liền với đất)

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA N NH N D N TỈNH BÌNH THUẬN

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Vũ Thị Thanh Hòa

Các Thẩm phán:

Ông Đặng Văn Cường

Ông Trần Phước Hiệu

- Thư ký phiên tòa: Ông Thanh Lê Anh Tuấn- Thư Tòa án nh n d n t nh B nh Thu n.

- Đại di n Vi n i m s t nh n d n t nh B nh Thu n tham gia phiên tòa: ông Đinh Văn Lai- Kiểm sát viên.

Ngày 16 tháng 3 năm 2023 tại trụ s Tòa án nh n d n t nh B nh Thu n t ử phúc thẩm công hai vụ án d n sự thụ l số 134/2022/TLPT-DS ngày 19 tháng 12 năm 2022, về việc “Tranh chấp đòi lại tài sản (Quyền sử dụng đất và tài sản trên đất)”. Do Bản án d n sự sơ thẩm số 25/2022/DS-ST ngày 17 tháng 7 năm 2022 của Tòa án nh n d n thành phố P bị háng cáo. Theo Quyết định đưa vụ án ra t ử phúc thẩm số 10/2023/QĐ-PT ngày 08 tháng 02 năm 2023 và Thông báo thay đổi thời gian t ử số 14/2023/TB-TA ngày 20/02/2023, giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Bà Lê Thị Mộng T – sinh năm 1974 (có mặt); Địa ch : hu phố 1, phường B, thành phố P, t nh B nh Thu n.

Người đại diện theo ủy quyền của bà Lê Thị Mộng T: bà Nguyễn Thị Kim L – sinh năm 1968; Địa ch : hu phố 1, phường T, thành phố P, t nh B nh Thu n (có mặt)

2. Bị đơn: Ông Trương Quốc H – sinh năm 1978; Địa ch : hu phố 2, phường M, thành phố P, t nh B nh Thu n.

Người đại diện theo ủy quyền của ông Trương Quốc H: ông Trương Quốc B, sinh năm 1981. Địa ch : hu phố 2, phường M, thành phố P, t nh B nh Thu n (có mặt).

Người kháng cáo: Bị đơn ông Trương Quốc H.

NỘI DUNG VỤ N:

Theo bản án sơ thẩm th nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

* Theo đơn khởi ki n, bản tự khai và trong qu tr nh giải quyết vụ n nguyên đơn tr nh bày: Ngày 23/7/2004 Trung t m dịch vụ bán đấu giá tài sản t nh B đã tổ chức bán đấu giá nhà và đất vườn tại hu phố 2, phường M, thành phố P của ông Trương T và bà Huỳnh Thị N. Qua đấu giá, ông Trần B nh N đã trúng đấu giá với số tiền 337.000.000 đồng và đã nộp đủ số tiền vào ng n sách nhà nước, đã được Ủy ban nh n d n (UBND) t nh B cấp giấy chứng nh n s hữu nhà và quyền sử dụng đất số 460… ngày 04/11/2004 đứng tên Trần B nh N và Lê Thị Mộng T. Sau hi bàn giao nh n nhà và đất, bà T, ông N làm hàng rào lưới B40 bao bọc ung quanh huôn viên nhà đất đã mua. Nhà có diện tích y dựng 35,04m2, đất có diện tích 741 m2. Năm 2005 lợi dụng hoàn cảnh bà T, ông N vắng nhà, ông Trương Quốc H phá hóa vào tại căn nhà nói trên. Năm 2009 ông H y dựng trại rửa e có diện tích 23,4m2 trên đất của bà T, ông N. Ông H đã bị UBND phường M ử phạt vi phạm hành chính buộc phải tháo dỡ công tr nh y dựng trái ph p trên đất và hôi phục lại t nh trạng ban đầu của đất như trước hi vi phạm. Ông H hông chấp hành nên bà T gửi đơn nhiều cơ quan chức năng nhưng chưa được giải quyết. Nay bà Lê Thị Mộng T h i iện yêu cầu:

1/Buộc ông Trương Quốc H phải di dời bàn thờ, v t dụng sinh hoạt ra ngoài để trả lại nhà và đất cho bà Lê Thị Mộng T.

2/Buộc ông Trương Quốc H phải tháo dỡ trại rửa e y dựng trái ph p để trả lại đất cho bà T như hiện trạng ban đầu.

Tại phiên tòa, bà Lê Thị Mộng T yêu cầu ông Trương Quốc H phải di dời v t dụng sinh hoạt ra ngoài để trả lại nhà và đất cho bà. Đối với ngôi nhà cấp 4C mà ông H đã y dựng trị giá 104.800.000 đồng, bà T hông yêu cầu tháo dỡ v sẽ g y lãng phí mà sẽ tự nguyện hoàn lại giá trị nhà cho ông H.

* Theo bản tự khai và trong qu tr nh giải quyết vụ n cũng như tại phiên tòa, bị đơn ông Trương Quốc H trình bày: Căn cứ bản án h nh sự sơ thẩm số 01/HSST ngày 18/01/1997 của Tòa án nh n d n t nh B và bản án h nh sự phúc thẩm số 840/HSPT ngày 23/5/1997 của Tòa án nh n d n Tối cao tại thành phố Hồ Chí Minh đối với bị cáo Huỳnh Thị N (là mẹ ông Trương Quốc H). Trong quyết định của 2 bản án nêu rõ: hủy bỏ ê biên một căn nhà d n phố 1- phường M và Một căn nhà d n phố 2, phường M, giao cho ông Trương T (chồng bị cáo Huỳnh Thị N, mẹ của ông Trương Quốc H) quản l . Quyết định của hai bản án đã có hiệu lực pháp lu t, bà Huỳnh Thị N đi thi hành án h nh sự 8 năm 6 tháng tù th Thi hành án d n sự t nh B đã bán đấu giá tài sản mà quyết định của 2 bản án tuyên: hủy bỏ biên bản ê biên căn nhà d n phố 01 và d n phố 02, phường M, thành phố P. Bán đấu giá tài sản mà hông mời chủ s hữu tài sản tham gia hoặc thông báo cho ông Trương T biết. Ông Trương T gửi đơn êu cứu đến các lãnh đạo Trung ương. Trong năm 2004 Thanh tra Bộ tư pháp đã 2 lần đến t nh B có nói ông T về lại nhà để . Sau lần thanh tra vào đợt 2 cuối năm 2004 đến ngày 30/01/2015 ông Trương T chết, hông một cơ quan hay cá nh n nào đề c p đến căn nhà d n phố 2, phường M nữa. Khi chôn cất ông Trương T xong, gia đ nh họp đã l p văn bản giao cho ông H chịu trách nhiệm quản l thờ cúng ông Trương T (căn nhà d n phố 2, phường M). Sau đó ảy ra tranh chấp với người mua đấu giá ông Trần B nh N và bà Lê Thị Mộng T nhưng các cơ quan nhà nước hông giải quyết được v việc bán đấu giá tài sản hông trong sáng. Ông H cho rằng việc thi hành án và bán đấu giá tài sản của cha, mẹ ông H là ông Trương T và bà Huỳnh Thị N có nhiều điều hông rõ ràng. Năm 2020 bà Lê Thị Mộng T tố cáo ông H đến cơ quan điều tra về hành vi chiếm dụng nhà đất . Ngày 27/4/2020, cơ quan Cảnh sát điều tra – Công an thành phố P ra thông báo số 443 thông báo ết quả giải quyết nguồn tin về tội phạm và thông báo số 444 về việc hông h i tố vụ án h nh sự v ông H không có tội.

Ông Trương T (cha ông H) đã gửi đơn êu cứu ra Trung ương nên năm 2004 cơ quan thanh tra Hà Nội vào t nh B 02 lần để ử l nội bộ. Cha ông H trong nhà tại d n phố 2, phường M cho đến hi chết ngày 30/01/2015, còn mẹ ông bà Huỳnh Thị N th sinh sống d n phố 3, phường M. Về đất thửa đất số 216, tờ bản đồ số 17, diện tích 741m2, được Chi nhánh Văn phòng đăng đất đai P ác nh n ngày 15/9/2020. Về tài sản trên đất, căn nhà trệt loại 4C, thời điểm y dựng năm 2009, nhà có quyết định số 290/QĐXPVPHC ngày 28/10/2015 của UBND phường M, ử phạt vi phạm hành chính đối với ông Trương Quốc H, sinh năm 1978 địa ch hu phố 3, phường M. Ông H hoàn thành nghĩa vụ qu n sự uất ngũ năm 2002. Năm 2003, ông H tham gia Lực lượng thanh niên ung ích đến cuối năm 2006 về địa phương được giao làm Chi hội trư ng 02 Chi hội cựu chiến binh. Ông nuôi cha già yếu bệnh t t nên cất chòi để rửa e, địa phương tạo điều iện sinh sống và công tác cho ông H. Sau khi cha ông H chết th ông Trần B nh N hiếu nại. Ông N hiếu nại nhiều nơi hông giải quyết được nên ngày 10/4/2019 ông Trần B nh N, bà Lê Thị Mộng T đến Phòng Công chứng số 01 t nh B làm hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất. Bà T làm đơn tố cáo ông H. Ông H yêu cầu Tòa án em t, làm rõ lại biên bản bán đấu giá và văn bản bán đấu giá căn nhà, đất, iềng và hoa màu của ông Trương T, bà Huỳnh Thị N, tại hu phố 03, phường M ngày 23/7/2004 của Trung t m bán đấu giá tài sản và địa điểm giao tài sản là nhà ông Trương T, bà Huỳnh Thị N tọa lạc hu phố 03, phường M. Nhưng tại biên bản cưỡng chế thi hành án của cơ quan thi hành án d n sự lại cưỡng chế căn nhà, đất, vườn dừa của ông Trương T tại d n phố 02, phường M là trái với quyết định hủy bỏ biên bản ê biên hai căn nhà tại d n phố 01, d n phố 02, phường M của 02 bản án h nh sự sơ thẩm và phúc thẩm.

Về biên bản em t thẩm định tại chổ ngày 01/10/2020 do đại diện Phòng quản l đô thị thành phố P hỏi địa chính phường M về số thửa đất 216, tờ bản đồ số 17, diện tích 741m2, viết vào biên bản, hông phải do Thư Tòa án viết. Từ đó, sau này vào các chứng từ bà T ghi số thửa đất 216, tờ bản đồ số 17.

Theo ông H giấy chứng nh n quyền s hữu nhà và quyền sử dụng đất cấp cho bà T, ông N hông đúng h nh thức, hông có số nhà, hông có số thửa, tờ bản đồ, sơ đồ đất th hông có tứ c n. Việc Chi nhánh Văn phòng đăng đất đai P đăng biến động sang tên tặng cho bà Lê Thị Mộng T ngày 15/9/2020 là đúng hay sai cần làm rõ. Ông H yêu cầu hủy giấy chứng nh n quyền s hữu nhà và quyền sử dụng đất cấp cho bà T, ông N, hủy bỏ việc đăng biến động trên giấy chứng nh n.

Nay bà T h i iện ông H hông đồng yêu cầu h i iện của bà T, ông H yêu cầu làm rõ việc ê biên bán đấu giá tài sản của ông Trương T, bà Huỳnh Thị N.

Tại Bản án dân sự sơ thẩm số 25/2022/DS-ST ngày 17 tháng 8 năm 2022 của Tòa án nhân dân thành phố P đã quyết định:

1. Căn cứ:

- Khoản 2, 9 Điều 26, điểm a hoản 1 Điều 35, điểm c hoản 1 Điều 39, Điều 266 Bộ Lu t tố tụng d n sự.

- Khoản 1 Điều 163, Điều 164, Điều 165, hoản 1 Điều 166 Bộ lu t d n sự.

- Khoản 3 Điều 100, Điều 167 Lu t đất đai năm 2013.

- Khoản 2, hoản 2 Điều 27 Nghị quyết quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản l và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016.

2. Tuyên ử:

* Chấp nh n yêu cầu h i iện của nguyên đơn như sau:

- Buộc ông Trương Quốc H giao trả lại cho bà Lê Thị Mộng T thửa đất số 216, tờ bản đồ số 17, tọa lạc tại đường Nguyễn Thanh H, hu phố 2, phường M, thành phố Phan Thiết, t nh B nh Thu n, diện tích 652,2 m2 và hai ngôi nhà cấp 4A, cấp 4C có trên thửa đất số 216. Theo bản đồ vị trí hu đất tranh chấp năm 2020 ( èm theo biên bản em t, thẩm định tại chổ ngày 01/10/2020) do công ty TNHH tư vấn, dịch vụ, hảo sát và đo đạc HTB thể hiện và chứng thư thẩm định giá số 1213/21/VNJP-HĐDV-BT ngày 13/12/2021 của công ty cổ phần thẩm định giá và tư vấn đầu tư Việt – Nh t.

- Buộc ông Trương Quốc H có nghĩa vụ thu dọn tất cả v t dụng, đồ dùng và tài sản có trong hai ngôi nhà cấp 4A, cấp 4C trên thửa đất số 216 để giao trả lại cho bà Lê Thị Mộng T.

- Bà Lê Thị Mộng T có nghĩa vụ hoàn lại cho ông Trương Quốc H 104.800.000 đồng.

Kể từ ngày bản án, quyết định có hiệu lực pháp lu t (đối với các trường hợp cơ quan thi hành án có quyền chủ động ra quyết định thi hành án) hoặc ể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với các hoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến hi thi hành án ong, bên phải thi hành án còn phải chịu hoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, Điều 468 của Bộ lu t D n sự trừ trường hợp pháp lu t có quy định khác.

- Bà Lê Thị Mộng T có quyền, nghĩa vụ liên hệ với cơ quan nhà nước có thẩm quyền để làm thủ tục cấp giấy chứng nh n quyền s hữu nhà và quyền sử dụng đất .

* Về chi phí tố tụng hác: ông Trương Quốc H hoàn lại cho bà Lê Thị Mộng T 16.090.000 đồng tạm ứng chi phí tố tụng hác.

* Về án phí: ông Trương Quốc H phải nộp 300.000 đồng án phí d n sự sơ thẩm. Bà Lê Thị Mộng T phải nộp 5.240.000 đồng án phí d n sự sơ thẩm. Bà Tiên đã nộp 300.000 đồng tạm ứng án phí theo biên lai số 0007607 ngày 11/6/2020 của Chi cục Thi hành án d n sự thành phố P, số tiền này được chuyển sang án phí.

Ngày 29 tháng 8 năm 2022, bị đơn ông Trương Quốc H kháng cáo yêu cầu hủy bản án d n sự sơ thẩm số 25/2022/DS-ST ngày 17/8/2022 của Tòa án nhân dân thành phố P để t ử lại do có sai phạm về thủ tục tố tụng và nội dung vụ án.

Tại phiên tòa phúc thẩm:

- Người háng cáo giữ nguyên yêu cầu háng cáo

- Nguyên đơn giữ nguyên yêu cầu h i iện.

- Kiểm sát viên phát biểu quan điểm về việc giải quyết vụ án:

+ Về tố tụng: Tòa án cấp phúc thẩm đã thực hiện đúng tr nh tự, thủ tục theo quy định của pháp lu t trong quá tr nh giải quyết vụ án.

+ Về nội dung: Tài sản của ông T, bà N (cha, mẹ của ông H) là thửa đất số 216 đã bị ê biên, định giá, bán đấu giá và cưỡng chế giao tài sản cho người mua trúng đấu giá là ông Trần B nh N, bà Lê Thị Mộng T vào năm 2004. Việc ông H cho rằng tài sản này bị ê biên đấu giá hông rõ ràng, hông mời chủ s hữu tham gia hoặc hông thông báo là hông đúng qui định. Do đó, từ thời điểm bị ê biên đến lúc bán đấu giá năm 2004, căn nhà và đất tại thửa đất số 216 hông còn thuộc quyền s hữu của bà N, ông T. Ông Trương Quốc H tự ý vào thửa đất số 216 y dựng nhà đã m phạm đến quyền s hữu tài sản hợp pháp của bà Lê Thị Mộng T. Cho đến hiện nay hông có văn bản nào của cơ quan có thẩm quyền ác định việc ê biên, định giá, bán đấu giá và cưỡng chế giao tài sản của cơ quan Thi hành án d n sự t nh B là trái pháp lu t. V v y, yêu cầu h i iện của nguyên đơn là có căn cứ.

Bị đơn ông Trương Quốc H háng cáo nhưng hông có căn cứ để chấp nh n v v y đề nghị Hội đồng t ử áp dụng hoản 1 Điều 308 Bộ lu t tố tụng d n sự. Không chấp nh n háng cáo của bị đơn, giữ nguyên bản án sơ thẩm.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA N:

Căn cứ vào các chứng cứ, tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa phúc thẩm; trên cơ s em t đầy đủ, toàn diện các tài liệu, chứng cứ, iến tr nh bày và tranh lu n tại phiên tòa của các đương sự, iến của Kiểm sát viên, Hội đồng t ử nh n thấy:

[1] Về tố tụng: Đơn háng cáo của bị đơn ông Trương Quốc H làm trong thời hạn lu t định và đã nộp tiền tạm ứng án phí theo quy định. Nội dung háng cáo nằm trong phạm vi bản án sơ thẩm nên được em t theo thủ tục phúc thẩm.

[2] X t háng cáo của bị đơn đề nghị hủy bản án sơ thẩm, Hội đồng t ử thấy:

[2.1] Về tố tụng, quan hệ pháp lu t: Bản án d n sự sơ thẩm số 25/2022/DSST ngày 17/8/2022 của Tòa án nh n d n thành phố P đã ác định đúng quan hệ pháp lu t, đưa đầy đủ những người tham gia tố tụng. Các đương sự đã được thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ theo quy định của Bộ lu t Tố tụng d n sự.

Đối với nội dung ông Trương Quốc H cho rằng cấp sơ thẩm vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng do triệu t p thiếu người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan, cụ thể: Ông Trần B nh N, người ế thừa quyền và nghĩa vụ của ông Trương T, Cục Thi hành án d n sự t nh B và Trung t m dịch vụ đấu giá thuộc S Tư pháp t nh B. Xét thấy, bà Lê Thị Mộng T h i iện về việc đòi lài tài sản (Quyền sử dụng đất và tài sản trên đất) do đó những người trên hông liên quan đến quá tr nh giải quyết vụ án nên cấp sơ thẩm hông đưa họ tham gia tố tụng là có căn cứ.

[2.2] Về nội dung vụ án: Tài sản có tranh chấp là thửa đất số 216, tờ bản đồ số 17, diện tích 741 m2 đất đô thị, tọa lạc tại đường Nguyễn Thanh H, khu phố 2, phường M, thành phố Phan Thiết (viết tắt là thửa đất số 216) theo giấy chứng nh n quyền s hữu nhà và quyền sử dụng đất số 460…, hồ sơ gốc số 8444, do UBND t nh B cấp ngày 04/11/2004 cho ông Trần Bình N, bà Lê Thị Mộng T. Tại công văn số 2760/SXD-QLN&PTĐT ngày 26/8/2021, S X y dựng t nh B cung cấp thông tin như sau: “trên cơ sở đề nghị của Trung tâm dịch vụ bán đấu giá tài sản (công văn số 27/CV-TTBĐG ngày 24/8/2004), Phòng Thi hành án tỉnh B (công văn số 158/CV-THA ngày 30/9/2004) và hồ sơ gửi kèm theo, Sở Xây dựng có công văn số 1932/XD-QLN ngày 15/10/2004 về việc cấp chứng nhận quyền sở hữu nhà ở và quyền sử dụng đất ở của ông Trần Bình Nghị tại khu phố 3, phường M, thành phố P. Căn cứ Nghị định số 60/CP ngày 05/7/1994 của Chính phủ về quyền sở hữu nhà ở và quyền sử dụng đất ở, UBND tỉnh cấp giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở và quyền sử dụng đất ở số 460… (hồ sơ gốc số 8444) ngày 04/11/2004 cho ông Trần Bình N, bà Lê Thị Mộng T căn nhà tại đường Nguyễn Thanh H, phường M, thành phố P, tỉnh Bình Thuận là đúng trình tự, thủ tục”. Kèm theo công văn, S X y dựng còn gửi tài liệu có liên quan đến việc cấp giấy chứng nh n quyền s hữu nhà và quyền sử dụng đất . Như v y, ể từ ngày 04/11/2004 bà T, ông N là người sử dụng hợp pháp thửa đất số 216, diện tích 741 m2 (diện tích thực tế là 652,2m2), tọa lạc tại đường Nguyễn Thanh H, hu phố 2, phường M, thành phố P, thông qua mua đấu giá tài sản và được bàn giao tài sản hợp pháp.

[2.2.1] Về việc Chi nhánh Văn phòng đăng í đất đai P c p nh t biến động ngày 15/9/2020: tặng cho bà Lê Thị Mộng T, sinh năm 1974. Ông H cho rằng việc sang tên hi tài sản đang có tranh chấp là hông đúng. HĐXX t thấy, tại công văn số 3069/STNMT-VPĐKĐĐ ngày 16/7/2021 S Tài nguyên và Môi trường t nh B đã ác định việc đăng í biến động là đúng tr nh tự, thủ tục. Bà T và ông N ly hôn theo quyết định số 69/2010/QĐ-VDS ngày 09/9/2010 của Tòa án nh n d n thành phố P. Ông N hợp đồng tặng cho bà T thửa đất số 216 bằng hợp đồng được công chứng ngày 10/4/2019 là quyền định đoạt của ông N, bà T. Việc tặng cho này hoàn toàn hợp pháp nên bà Lê Thị Mộng T là người sử dụng hợp pháp thửa đất số 216 và ể từ ngày 15/9/2020 ông N hông còn quyền s hữu đối với nhà và đất này. Việc h i iện của bà T hông còn liên quan đến ông N.

[2.2.2] Xét thấy việc cấp giấy chứng nh n quyền s hữu nhà và quyền sử dụng đất cho bà Lê Thị Mộng T, ông Trần B nh N cũng như việc đăng biến động của Chi nhánh Văn phòng đăng đất đai P hoàn toàn đúng qui định của pháp lu t. Do đó, yêu cầu hủy giấy chứng nh n của ông H hông có cơ s để em t.

[2.2.3] Tại công văn số 348/CTHADS-NV ngày 01/9/2020, Cục Thi hành án d n sự t nh B ác định: thửa đất số 216, diện tích 741 m2 có nguồn gốc của ông Trương T, bà Huỳnh Thị N. Tuy nhiên tài sản này thuộc diện phải ê biên để thực hiện nghĩa vụ phải thi hành của 06 bản án, quyết định của Tòa án đã có hiệu lực pháp lu t, với tổng số tiền và vàng phải thi hành là 229.609.000 đồng, 897 ch vàng 24 , nộp án phí 29.652.387 đồng. Trong quá tr nh giải quyết thi hành án ông Trương T, bà Huỳnh Thị N hông tự nguyện thi hành nên cơ quan Thi hành án t nh B đã áp dụng biện pháp cưỡng chế ê biên, định giá, bán đấu giá tài sản của ông T, bà N để thi hành án, gồm: 01 căn nhà tại hu phố 01; 01 căn nhà tại hu phố 3; 01 căn nhà, c y ăn trái và diện tích đất 741m2 tại hu phố 2, phường M, thành phố P, t nh B nh Thu n. Trong quá tr nh ê biên, ử l tài sản ê biên, Cục Thi hành án d n sự t nh B (trước đ y là cơ quan Thi hành án d n sự t nh B) có t đến hoàn cảnh gia đ nh của ông T, bà N nên đã để lại một phần diện tích của căn nhà hu phố 3 hoảng 40m2, chi hỗ trợ cho ông T, bà N một hoản tiền để sửa chữa nhà l p chỗ để đảm bảo cuộc sống cho ông bà. Như v y, bà N, ông T đều có chổ sau hi bị ê biên tài sản nên hông có việc ông H tr nh bày là cha, mẹ ông hông có chổ . Và thực tế hiện nay bà N vẫn đang sinh sống tại ngôi nhà hu phố 3, phường M, thành phố P.

[2.2.4] Cũng theo công văn số 348/CTHADS-NV ngày 01/9/2020, Cục Thi hành án d n sự t nh B ác định việc biên bản bán đấu giá và Văn bản bán đấu giá tài sản cùng ngày 23/7/2004 tại Trung t m dịch vụ bán đấu giá tài sản B ghi tài sản bán đấu giá là nhà đất, iềng nhà và hoa màu của ông Trương T và bà Huỳnh Thị N tọa lạc tại hu phố 3, phường M, thành phố P nhưng tại Biên bản cưỡng chế thi hành án giao tài sản ngày 09/8/2004 lại ghi tài sản là căn nhà và diện tích đất vườn dừa tại hu phố 2, phường M, thành phố P. Vấn đề này là do nhầm lẫn trong h u đánh máy của Trung t m dịch vụ bán đấu giá tài sản hi đánh văn bản. HĐXX t thấy việc ghi sai địa ch của thửa đất hông phải là việc bán tài sản này nhưng giao tài sản hác, ch là nhầm lẫn địa ch thửa đất, nó hông làm sai lệch bản chất của việc thi hành án. Thực chất tài sản ê biên, định giá, bán đấu giá và cưỡng chế giao tài sản cho người mua trúng đấu giá là căn nhà và đất, c y trồng trên đất tọa lạc tại hu phố 02, phường M, thành phố P. Sai sót này đã được Chi nhánh Văn phòng đăng đất đai P điều ch nh hi ông N tặng cho bà T thửa đất số 216.

[2.2.5] Như v y, tài sản của ông T, bà N (cha, mẹ của ông H) là thửa đất số 216 đã bị ê biên, định giá, bán đấu giá và cưỡng chế giao tài sản cho người mua trúng đấu giá là ông Trần B nh N, bà Lê Thị Mộng T vào năm 2004. Việc ông H cho rằng tài sản này bị ê biên đấu giá hông rõ ràng, hông mời chủ s hữu tham gia hoặc hông thông báo là hông đúng qui định. Mặc dù có sai sót hi ghi địa ch nơi tọa lạc của tài sản (khu phố 02 ghi thành khu phố 03) nhưng sai sót này không làm sai lệch đi bản chất của việc ê biên, định giá, bán đấu giá và cưỡng chế giao tài sản. Hồ sơ thi hành án của Cục Thi hành án dân sự t nh B cũng đã thể hiện rõ trình tự, thủ tục đối với các tài sản ê biên, bán đấu giá. Do đó, từ thời điểm bị ê biên đến lúc bán đấu giá năm 2004, căn nhà và đất tại thửa đất số 216 hông còn thuộc quyền s hữu của bà N, ông T. Ông Trương Quốc H tự ý vào thửa đất số 216 y dựng nhà đã m phạm đến quyền s hữu tài sản hợp pháp của bà Lê Thị Mộng T. Việc hiếu nại, tố cáo trong thi hành án là quyền và nghĩa vụ của ông Trương T, bà Huỳnh Thị N hông phải là quyền của ông Trương Quốc H. Ông H cho rằng cán bộ Thanh tra Trung ương bảo cha, mẹ ông vào lại căn nhà đã bán đấu giá nhưng hông cung cấp bất cứ tài liệu, chứng cứ nào thể hiện vấn đề này. Trong hi đó cơ quan thi hành án đã bố trí và chi tiền cho bà N, ông T trên thửa đất hác có diện tích 40m2. Cho đến hiện nay hông có văn bản nào của cơ quan có thẩm quyền ác định việc ê biên, định giá, bán đấu giá và cưỡng chế giao tài sản của cơ quan Thi hành án d n sự t nh B là trái pháp lu t.

[2.2.6] Bị đơn cho rằng các bản án h nh sự của Tòa án trước đ y đã hủy bỏ việc ê biên ngôi nhà của ông T, bà N nhưng cơ quan thi hành án lại ê biên bán đấu giá là hông đúng pháp lu t. Quan điểm này của ông H là hông có căn cứ pháp lu t. Biện pháp ê biên tài sản của cơ quan điều tra nói chung và của Tòa án trong vụ án h nh sự được thực hiện hi áp dụng bộ lu t tố tụng h nh sự để giải quyết vụ án h nh sự nhằm tránh tẩu tán tài sản, đảm bảo việc bồi thường thiệt hại cho bị hại. Việc ê biên, cưỡng chế, bán đấu giá tài sản của cơ quan thi hành án là các biện pháp thi hành các bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp lu t được qui định b i pháp lu t thi hành án d n sự. Do đó việc hủy bỏ ê biên tài sản của bản án h nh sự hông liên quan đến việc thi hành bản án sau này của cơ quan thi hành án.

[2.2.7] Ông Trương Quốc H cho rằng tài sản bị bán đấu giá và cưỡng chế giao cho ông N, bà T năm 2004 nhưng ông H vào y dựng nhà từ năm 2006 để nuôi cha là ông Trương T cho đến 2015 mới bị ử phạt vi phạm hành chính. Trong cả quá tr nh dài hàng chục năm mà hông thấy bà T, ông N đến hay quản l tài sản. Lời tr nh bày này hông có cơ s v tài sản thuộc quyền s hữu hợp pháp của bà T, ông N thì bà T, ông N có toàn quyền quản l , sử dụng và định đoạt tài sản như thế nào là do bà T, ông N quyết định.

[2.2.8] Tại thông báo về việc hông h i tố vụ án h nh sự số 443 ngày 27/4/2020 của cơ quan Cảnh sát điều tra, Công an thành phố P và thông báo ết quả iểm sát việc giải quyết tin báo, tố giác tội phạm hoặc iến nghị h i tố số 27/TB/KSĐT/VKS-HS ngày 11/5/2020 của Viện iểm sát nh n d n thành phố P đều ác định căn nhà và đất tại thửa đất số 216 thuộc quyền s hữu hợp pháp của ông Trần B nh N, bà Lê Thị Mộng T. Đồng thời ác định hành vi tự cắt lưới B40 vào và m tiệm sửa e của Trương Quốc H là m phạm quyền s hữu hợp pháp của bà T, ông N nhưng chưa đủ yếu tố cấu thành tội phạm để ử l về h nh sự. Như v y, hành vi của ông H chưa bị điều ch nh b i pháp lu t h nh sự nhưng việc chiếm hữu tài sản như trên là hông có căn cứ pháp lu t về bảo vệ quyền s hữu trong Bộ lu t d n sự.

Tại hoản 1 Điều 163 Bộ lu t d n sự qui định về bảo vệ quyền s hữu, quyền hác đối với tài sản: Không ai có thể bị hạn chế, bị tước đoạt trái luật quyền sở hữu, quyền khác đối với tài sản. Điều 164 Bộ lu t d n sự qui định về Biện pháp bảo vệ quyền s hữu, quyền hác đối với tài sản: 1. Chủ sở hữu, chủ thể có quyền khác đối với tài sản có quyền tự bảo vệ, ngăn chặn bất kỳ người nào có hành vi xâm phạm quyền của mình bằng những biện pháp không trái với quy định của pháp luật.

2. Chủ sở hữu, chủ thể có quyền khác đối với tài sản có quyền yêu cầu Tòa án, cơ quan nhà nước có thẩm quyền khác buộc người có hành vi xâm phạm quyền phải trả lại tài sản, chấm dứt hành vi cản trở trái pháp luật việc thực hiện quyền sở hữu, quyền khác đối với tài sản và yêu cầu bồi thường thiệt hại.

[3] Quá tr nh giải quyết vụ án tại cấp sơ thẩm, theo yêu cầu của đương sự về đo đạc; thẩm định, định giá tài sản, các bên đương sự đã nộp chi phí giám định, định giá, tại phiên tòa phúc thẩm các bên đồng với chi phí giám định, định giá hông có iến g , v v y Hội đồng t ử hông em t.

Từ những ph n tích và nh n định trên, Hội đồng t ử thấy cấp sơ thẩm chấp nh n yêu cầu h i iện của nguyên đơn và tuyên ử như trên là có căn cứ, phù hợp với các quy định của pháp lu t. V v y, hông có căn cứ chấp nh n háng cáo của ông Trương Quốc H. Giữ nguyên Bản án sơ thẩm số: 25/2022/DS-ST ngày 17/7/2022 của Tòa án nh n d n thành phố P.

[4] Đề nghị của Kiểm sát viên tại phiên tòa phúc thẩm là đúng pháp lu t, phù hợp với nh n định của Hội đồng t ử.

[5] Về án phí d n sự sơ thẩm, phúc thẩm:

[5.1] Án phí sơ thẩm: Yêu cầu h i iện của nguyên đơn được chấp nh n nên bị đơn phải chịu toàn bộ án phí theo quy định.

Tuy nhiên, trong quá tr nh giải quyết vụ án nếu việc phá dỡ công tr nh y dựng nhà cấp 4C để trả lại tài sản cho bà T sẽ g y lãng phí hông đáng có, tại phiên tòa bà T thể hiện nguyện vọng sẽ hông yêu cầu phá dỡ tài sản này mà đề nghị tiếp tục giao cho bà s hữu và bà T sẽ hoàn lại tiền cho ông H. V v y, ông H có nghĩa vụ thu dọn toàn bộ đồ dùng trong trong các ngôi nhà trên thửa đất số 216 để giao trả lại nhà và đất tại thửa đất số 216 cho bà T. Bà T hoàn lại cho ông H 104.800.000 đồng giá trị ngôi nhà cấp 4C do ông H y dựng. Đ y là chí tự nguyện của bà T ( hông phải là yêu cầu của ông H) và hợp t nh, hợp l , có lợi cho bị đơn nên HĐXX chấp nh n. Do đó, đ y là sự ghi nh n chí tự nguyện của bà T nhưng cấp sơ thẩm buộc bà T phải chịu án phí sơ thẩm là chưa phù hợp, sai sót này hông cần thiết phải sửa án sơ thẩm mà Hội đồng t ử phúc thẩm sẽ điều ch nh lại cho phù hợp.

[5.2] Án phí d n sự phúc thẩm: Kháng cáo của Trương Quốc H không được chấp nh n nên phải chịu án phí phúc thẩm theo quy đinh.

Các quyết định hác của bản án d n sự sơ thẩm hông bị háng cáo, háng nghị có hiệu lực pháp lu t ể từ ngày hết thời hạn háng cáo, háng nghị.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ: Căn cứ hoản 1 Điều 308 Bộ lu t Tố tụng d n sự; Không chấp nh n háng cáo của ông Trương Quốc H: Giữ nguyên Bản án d n sự sơ thẩm số 25/2022/DS-ST ngày 17/8/2022 của Tòa án nh n d n thành phố P.

Căn cứ: - Khoản 2, 9 Điều 26, điểm a hoản 1 Điều 35, điểm c hoản 1 Điều 39, Điều 266 Bộ Lu t tố tụng d n sự.

- Khoản 1 Điều 163, Điều 164, Điều 165, hoản 1 Điều 166 Bộ lu t d n sự.

- Khoản 3 Điều 100, Điều 167 Lu t đất đai năm 2013.

- Khoản 2, hoản 2 Điều 27 Nghị quyết quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản l và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016.

Tuyên xử:

1. Chấp nh n yêu cầu h i iện của nguyên đơn như sau:

- Buộc ông Trương Quốc H giao trả lại cho bà Lê Thị Mộng T thửa đất số 216, tờ bản đồ số 17, tọa lạc tại đường Nguyễn Thanh H, hu phố 2, phường M, thành phố P, t nh B nh Thu n, diện tích 652,2 m2 và hai ngôi nhà cấp 4A, cấp 4C có trên thửa đất số 216. Theo bản đồ vị trí hu đất tranh chấp năm 2020 ( èm theo biên bản em t, thẩm định tại chổ ngày 01/10/2020) do công ty TNHH tư vấn, dịch vụ, hảo sát và đo đạc HTB thể hiện và chứng thư thẩm định giá số 1213/21/VNJP-HĐDV-BT ngày 13/12/2021 của công ty cổ phần thẩm định giá và tư vấn đầu tư Việt – Nh t.

- Buộc ông Trương Quốc H có nghĩa vụ thu dọn tất cả v t dụng, đồ dùng và tài sản có trong hai ngôi nhà cấp 4A, cấp 4C trên thửa đất số 216 để giao trả lại cho bà Lê Thị Mộng T.

- Bà Lê Thị Mộng T có nghĩa vụ hoàn lại cho ông Trương Quốc H 104.800.000 đồng (Một trăm lẻ bốn triệu tám trăm ngàn đồng) (trị giá căn nhà cấp 4C do ông H y dựng).

Kể từ ngày bản án, quyết định có hiệu lực pháp lu t (đối với các trường hợp cơ quan thi hành án có quyền chủ động ra quyết định thi hành án) hoặc ể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với các hoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến hi thi hành án ong, bên phải thi hành án còn phải chịu hoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, Điều 468 của Bộ lu t D n sự trừ trường hợp pháp lu t có quy định hác.

- Bà Lê Thị Mộng T có quyền, nghĩa vụ liên hệ với cơ quan nhà nước có thẩm quyền để làm thủ tục cấp giấy chứng nh n quyền s hữu nhà và quyền sử dụng đất .

2. Về án phí d n sự sơ thẩm: ông Trương Quốc H phải nộp 300.000 đồng án phí d n sự sơ thẩm.

Bà Lê Thị Mộng T không phải chịu án phí d n sự sơ thẩm. Hoàn lại cho bà T số tiền 300.000 đồng tạm ứng án phí theo biên lai số 0007607 ngày 11/6/2020 của Chi cục Thi hành án d n sự thành phố P.

3. Về chi phí em t thẩm định tại chỗ, định giá tài sản và đo đạc đất:

- Bà Lê Thị Mộng T không phải chịu lệ phí em t tại chỗ và định giá tài sản.

- Ông Trương Quốc H phải chịu 16.090.000 đồng (mười sáu triệu không trăm chín mươi ngàn đồng) lệ phí em t tại chỗ, định giá tài sản. Ông Trương Quốc H có nghĩa vụ hoàn lại cho bà Lê Thị Mộng T 16.090.000 đồng chi phí em t thẩm định tại chỗ, định giá tài sản và đo đạc mà bà Tiên đã nộp tạm ứng.

4. Về án phí d n sự phúc thẩm: Ông Trương Quốc H phải nộp 300.000 đồng án phí d n sự phúc thẩm; được trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu tiền số 0010050 ngày 29/8/2022 của Chi cục Thi hành án d n sự thành phố P. Ông Trương Quốc H đã nộp đủ án phí phúc thẩm theo quy định.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Lu t thi hành án d n sự, th người được thi hành án, người phải thi hành án có quyền thoả thu n thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, Điều 7, 7a, 7b, 9 Lu t thi hành án d n sự. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Lu t thi hành án d n sự.

Các quyết định hác của bản án d n sự sơ thẩm hông bị háng cáo, háng nghị có hiệu lực pháp lu t ể từ ngày hết thời hạn háng cáo, háng nghị.

5. Bản án phúc thẩm có hiệu lực ể từ ngày tuyên án. Nơi nh n:

THAY MẶT HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

- VKSND t nh B nh Thu n;

THẨM PH N – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

- TAND thành phố Phan Thiết;

- VKSND thành phố Phan Thiết;

- Chi cục THADS thành phố Phan Thiết;

- Các đương sự;

- Lưu: hồ sơ, TDS;

Vũ Thị Thanh Hòa

Cỡ chữ