- Tranh chấp gì? án hình sự — "Hình sự - phạm tội sản xuất, tàng trữ, vận chuyển, mua bán các phương tiện, dụng cụ dùng vào việc sản xuất hoặ sử dụng trái phép chất ma tuý…"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Dương Ngọc H phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
- Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 249 Bộ luật Hình sự; Điều 51 Bộ luật Hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ HÒA THÀNH TỈNH TÂY NINH ––––––––––––––– | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 28/2022/HSST Ngày: 18-5-2022 |
NHÂN DANH
NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ HÒA THÀNH, TỈNH TÂY NINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ toạ phiên toà: Bà Dương Thị Bích Hằng
Các Hội thẩm nhân dân: 1/ Ông Trần Văn Thạch;
2/ Bà Võ Thị Trâm.
Thư ký phiên tòa: Ông Lưu Sử Ngọc Quân – Thư ký Tòa án nhân dân thị xã Hòa Thành, tỉnh Tây Ninh.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Hòa Thành tham gia phiên tòa: Bà Trần Kim Hồng – Kiểm sát viên.
Ngày 18 tháng 5 năm 2022, tại trụ sở Tòa án nhân dân thị xã Hòa Thành xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 25/2022/TLST-HS ngày 06 tháng 4 năm 2022, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số:27/2022/QĐXXST-HS ngày 04 tháng 5 năm 2022 đối với bị cáo:
Dương Ngọc H (tên gọi khác: không); sinh ngày 16-4-1995; tại tỉnh Tây Ninh; hộ khẩu thường trú và nơi ở hiện nay: Tổ 6, ấp Thạnh Lợi, xã Thạnh Bình, huyện Tân Biên, tỉnh Tây Ninh, quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; nghề nghiệp: Phụ hồ; trình độ học vấn: 7/12; Con ông Dương Ngọc S và bà Nguyễn Thị V;vợ Lê Thị Yến L, sinh năm: 1995 (đã ly hôn); con: 01 người con sinh năm 2014, tiền án: không. Tiền sự: Có 01 tiền sự: Tại Quyết định số 25/QĐ-XPHC, ngày 12/10/2021, bị Công xã Thạnh Bình xử phạt 750.000 đồng, về hành vi xử dụng trái phép chất ma túy (đã chấp hành xong); Bị cáo bị tạm giữ ngày 07-01-2022, tạm giam ngày 16-01-2022 cho đến nay.Bị cáo có mặt tại phiên tòa.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Dương Ngọc H là đối tượng sử dụng ma túy. Lúc 10 giờ ngày 07/01/2022 H đi xe buýt từ Tân Biên xuống bến xe Tây Ninh, sau đó đi xe ôm đến gặp một thanh niên tên thường gọi là D (không rõ họ tên, địa chỉ cụ thể) ở khu vực đình Long Thần thuộc xã Long Thành Nam, thị xã Hòa Thành nhờ D mua giúp 500.000 đồng ma túy để sử dụng. Khi mua được ma túy, H cầm bịch ma túy bằng tay trái rồi đi bộ đến khu vực Ngã tư Trường Khuyết tật để đón xe về nhà. Khoảng 13 giờ 30 phút cùng ngày, trên Quốc lộ 22 đoạn thuộc ấp Long Yên, xã Long Thành Nam, thị xã Hòa Thành, tỉnh Tây Ninh lực lượng Công an thị xã Hòa Thành, tỉnh Tây Ninh bắt quả tang H đang cầm trên tay trái 01 (một) bịch nylon loại bóp dính miệng bên trong chứa chất tinh thể rắn màu trắng, được niêm phong ký hiệu M.
Quá trình điều tra, bị cáo H đã thành khẩn khai báovề hành vi của mình.
Tại Kết luận giám định số 69, ngày 11/01/2022 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Tây Ninh kết luận: Mẫu chất rắn màu trắng bên trong 01(một) bịch nylon loại bóp dính miệng (ký hiệu M) gửi đến giám định là chất ma túy; Loại Methamphetamine; Khối lượng 1,1375 gam.
Kết quả thu giữ và xử lý vật chứng: Có bảng thống kê kèm theo.
Qua xác minh bị cáo H không có tài sản nên không kê biên.
Tại bản Cáo trạng số 23/CT-VKSHT ngày 06 tháng 4 năm 2022, Viện kiểm sát nhân dân thị xã Hòa Thành đã truy tố bị cáo Dương Ngọc H về tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa:
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Hòa Thành giữ nguyên cáo trạng truy tố bị cáo. Đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo H phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự đề nghị xử phạt bị cáo H từ 01 (một) năm tù đến 02 (hai) năm tù.
Về hình phạt bổ sung: Miễn hình phạt bổ sung cho bị cáo H.
Các biện pháp tư pháp: Áp dụng Điều 46, 47 của Bộ luật Hình sự và Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự. Đề nghị Tòa án nhân dân thị xã Hòa Thành xử lý vật chứng theo quy định của pháp luật.
Bị cáo H thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình.
Bị cáo H nói lời nói sau cùng: Bị cáo thừa nhận đã vi phạm pháp luật. Thời gian bị tạm giam bị cáo rất hối hận. Bị cáo mong Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo. Bị cáo còn có cha mẹ già và con nhỏ.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thị xã Hòa Thành, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thị xã Hòa Thành, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Về hành vi của bị cáo thể hiện: Lúc 13 giờ 30 phút, ngày 07/01/2022, trên Quốc lộ 22 đoạn thuộc ấp Long Yên, xã Long Thành Nam, thị xã Hòa Thành, tỉnh Tây Ninh, Dương Ngọc H có hành vi tàng trữ trái phép 1,1375 gam chất ma túy, loại Methamphetamine để sử dụng, thì bị bắt quả tang. Xét lời nhận tội của bị cáo phù hợp với các tài liệu, chứng cứ đã được thu thập có trong hồ sơ vụ án, đủ căn cứ kết luận bị cáo H phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự.
Vụ án mang tính chất nghiêm trọng, hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến chế độ quản lý độc quyền của Nhà nước đối với các chất ma túy, gây hậu quả xấu về nhiều mặt cho xã hội, nên phải nghiêm trị. Viện kiểm sát nhân dân thị xã Hòa Thành, tỉnh Tây Ninh truy tố bị cáo H về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự là có căn cứ, đúng pháp luật.
Bị cáo là người có đầy đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự, nhận thức được hành vi của mình là vi phạm pháp luật nhưng vẫn cố ý thực hiện, thể hiện bị cáo không có ý thức tôn trọng pháp luật nên cần xét xử nghiêm, cần cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian mới có tác dụng răn đe, giáo dục đối với bị cáo và đảm bảo công tác phòng ngừa tội phạm chung trong xã hội. Khi nghị án Hội đồng xét xử có xem xét các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ cho bị cáo.
- Về tình tiết tăng nặng: Bị cáo H không có tình tiết tăng nặng. Nhưng bị cáo H đã có 01 tiền sự về hành vi sử dụng trái pháp chất ma túy.
- Về tình tiết giảm nhẹ: Bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải theo điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.
Hình phạt bổ sung: Xét bị cáo H không có tài sản nên miễn hình phạt bổ sung cho bị cáo.
Đối với người tên D không rõ lai lịch chưa làm việc được, khi nào làm rõ xử lý sau.
Các biện pháp tư pháp: Áp dụng Điều 46, 47 của Bộ luật Hình sự và Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự: Tịch thu tiêu hủy 01 (một) gói niêm phong ghi vụ số 69/KL-KTHS, có chữ ký của giám định viên, trợ lý và dấu niêm phong của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Tây Ninh.
Bị cáo H phải chịu 200.000 (hai trăm ngàn) đồng án phí hình sự sơ thẩm theo Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý, sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.
Tuyên bố bị cáo Dương Ngọc H phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
Xử phạt bị cáo Dương Ngọc H 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù được tính từ ngày 07-01-2022.
Hình phạt bổ sung: Miễn hình phạt bổ sung cho bị cáo H.
2. Các biện pháp tư pháp: Áp dụng Điều 46, 47 của Bộ luật Hình sự và Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự: Tịch thu tiêu hủy 01 (một) gói niêm phong ghi vụ số 69/KL-KTHS, có chữ ký của giám định viên, trợ lý và dấu niêm phong của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Tây Ninh.
3. Về án phí: Bị cáo Dương Ngọc H phải chịu 200.000 (hai trăm ngàn) đồng tiền án phí hình sự sơ thẩm.
4. Án hình sự sơ thẩm xử công khai, báo cho bị cáo biết có quyền kháng cáo lên Tòa án nhân dân tỉnh Tây Ninh trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
5. Trường hợp Bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
| Nơi nhận: - TAND. tỉnh Tây Ninh; - VKSND. thị xã Hòa Thành; - CCTHADS. thị xã Hòa Thành; - Đội ĐTTP về TTATXH; - Đội PV 27; - Thi hành án hình sự; - Bị cáo; - Những người TGTT. khác; - Công an xã, phường nơi bị cáo cư trú; - Sở tư pháp (PQLLL); - Lưu hồ sơ. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (Đã ký) Dƣơng Thị Bích Hằng |