- Tranh chấp gì? án hình sự — "Trộm cắp tài sản - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Đặng Đức Th phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự tịc thu bán đấu giá nộp ngân sách Nhà nước
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ KỲ ANH, TỈNH HÀ TĨNH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 28/2022/HS-ST Ngày 25 - 4 - 2022 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ KỲ ANH, TỈNH HÀ TĨNH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Đinh Văn Tư.
Các Hội thẩm nhân dân:Bà Hoàng Thị Thu Lâm và bà Lê Thị Cẩm Vân.
- Thư ký phiên tòa: Bà Võ Thị Lệ Thủy - Thư ký Tòa án nhân dân thị xã Kỳ Anh.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thị xã Kỳ Anh tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Vinh - Kiểm sát viên.
Ngày 25 tháng 04 năm 2022, tại điểm cầu trung tâm Phòng xử án Tòa án nhân dân thị xã Kỳ Anh, tỉnh Hà Tĩnh kết nối với điểm cầu thành phần tại Trại tạm giam Công an Hà Tĩnh xét xử sơ thẩm trực tuyến công khai vụ án hình sự thụ lý số 23/2022/TLST- HS ngày 21 tháng 3 năm 2022, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 28/2022/QĐXXST-HS ngày 11/4/2022 đối với bị cáo:
- Họ và tên: Đặng Đức Th; Tên gọi khác: Không; Giới tính: Nam; Sinh ngày 09 tháng 02 năm 1975; Quê quán: phường X, thành phố Huế, tỉnh Thừa Thiên Huế; Trú quán và chỗ ở hiện nay: Số nhà X Kiệt X, Đường X, phường X, thành phố Huế, tỉnh Thừa Thiên Huế; Dân tộc: Kinh; Quốc tịch:Việt Nam;Tôn giáo: Phật giáo; Trình độ văn hóa: Lớp 6/12; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Chức vụ, đoàn thể, đảng phái: Quần chúng; Con ông: Đặng X, sinh năm 1952; con bà: Ngô Thị X, sinh năm 1953; Anh, chị, em ruột: Có 03 người, bị cáo là con thứ nhất; Vợ: Võ Thị X, sinh năm 1972; Con: Có 02 đứa, đứa lớn sinh năm 1995, đứa nhỏ sinh năm 2000.
Tiền án: Có 03 tiền án:
- Bản án số 145/2005/HSST, ngày 20/10/2005 Tòa án nhân dân thành phố Huế, tỉnh Thừa Thiên Huế, áp dụng khoản 1 Điều 139 Bộ luật hình sự năm 1999 xử phạt 15 tháng cải tạo không giam giữ về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”, đã chấp hành xong Bản án nhưng chưa được xóa án tích.
- Bản án số 12/2006/HSST, ngày 03/11/2006 Tòa án nhân dân huyện Quảng Điền, tỉnh Thừa Thiên Huế(Bản án xác định tái phạm) xử phạt 39 tháng tù về tội “Cướp giật tài sản” và “Trộm cắp tài sản”, đã chấp hành xong hình phạt chính vào ngày 17/02/2009 nhưng chưa thi hành phần bồi thường dân sự số tiền 2.707.500 đồng cho bị hại.
- Bản án số 29/2010/HSST, ngày 24/9/2010(Bản án xác định tái phạm nguy hiểm) Tòa án nhân dân huyện Phong Điền, tỉnh Thừa Thiên Huế áp dụng điểm c khoản 2 Điều 138, khoản 1 Điều 139 Bộ luật hình sự năm 1999 xử phạt 04 năm tù, về tội “Trộm cắp tài sản” và tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”.
- Bản án số 16/2010/HSST, ngày 30/09/2010(Bản án xác định tái phạm nguy hiểm) Tòa án nhân dân huyện Hải Lăng, tỉnh Quảng Trị áp dụng điểm c khoản 2 Điều 136 Bộ luật hình sự năm 1999 xử phạt 42 tháng tù về tội “Cướp giật tài sản”.Tổng hợp hình phạt của cả 02 Bản án buộc Đặng Đức Th chấp hành hình phạt 07 năm 06 tháng tù; Ngày 28/4/2017 đã chấp hành xong hình phạt chính nhưng chưa thi hành phần bồi thường dân sự số tiền 22.670.000 đồng cho bị hại, trong khi chưa được xóa án tích thì ngày 01/01/2022 lại thực hiện hành vi trộm cắp tài sản.
Tiền sự: Không
Bị cáo bị bắt tạm giam tại nhà tạm giữ Công an thị xã Kỳ Anh, tỉnh Hà Tĩnh kể từ ngày 12/01/2022 sau đó chuyển tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh Hà Tĩnh cho đến nay( Có mặt)
Bị hại:
1. Nguyễn Tiến Đ, sinh năm 1996; địa chỉ: Tổ dân phố X, phường X, thị xã Kỳ Anh, tỉnh Hà Tĩnh; nghề nghiệp: Lao động tự do, (vắng mặt)
- Người làm chứng:
1. Nguyễn Tiến Tr, sinh năm: 1963; địa chỉ: Tổ dân phố X, phường X, thị xã Kỳ Anh, tỉnh Hà Tĩnh, (vắng mặt)
2. Nguyễn Thị C, sinh năm 1961; địa chỉ: Tổ dân phố X, phường X, thị xã Kỳ Anh, tỉnh Hà Tĩnh (vắng mặt)
3. Lê Phương N, sinh năm 1982; địa chỉ: Thôn X, xã X, huyện X, tỉnh Quảng Bình, (vắng mặt)
- Người tham gia tố tụng khác:Cán bộ, chiến sỹ tại điểm cầu thành phần hỗ trợ phiên tòa: Đồng chí Nguyễn Minh Hiến, Đội phó Đội Cảnh sát bảo vệ - Trại tạm giam Công an tỉnh Hà Tĩnh.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Sáng ngày 01/01/2022, Đặng Đức Th điều khiển xe mô tô hiệu Winner x, biển kiểm soát: 73F1-563.55 đi từ tỉnh Quảng Bình ra tỉnh Hà Tĩnh, đến khoảng 09 giờ 45 phút thì đi đến quán thịt chó Truyền Cần ở tổ dân phố Đông Trinh, phường Kỳ Trinh, thị xã Kỳ Anh, tỉnh Hà Tĩnh do ông Nguyễn Tiến Tr làm chủ. Đặng Đức Th dừng xe máy ở bên lề đường Quốc lộ 1 và đi bộ vào quán, khi vào quán thì Đặng Đức Th gặp anh Nguyễn Tiến Đ là con trai ông Truyền, Nguyễn Tiến Đ chỉ cho Đặng Đức Th đi ra phía sau nhà bếp để gặp bà Nguyễn Thị C và ông Nguyễn Tiến Tr đang làm thịt chó. Khi gặp ông Truyền, Đặng Đức Th giả vờ hỏi mua thịt chó và đặt mua 1.000.000đ tiền thịt chó, hẹn 13 giờ cùng ngày sẽ quay lại lấy. Khi Đặng Đức Th và ông Nguyễn Tiến Tr đang nói chuyện với nhau thì anh Nguyễn Tiến Đ cầm một chiếc điện thoại di động hiệu Iphone Xsmax, màu vàng, bản 64GB đi vào phòng bếp, sau đó để chiếc điện thoại trên chiếc tủ lạnh trong bếp và đi vào nhà tắm. Đặng Đức Th nảy sinh ý định lấy trộm chiếc điện thoại nên đã nói với ông Truyền là sẽ đợi để lấy thịt chó luôn. Trong lúc ông Truyền và vợ không để ý, Đặng Đức Th đã đi đến chiếc tủ lạnh trong quán và lấy chiếc điện thoại Iphone Xsmax của anh Nguyễn Tiến Đ bỏ vào túi áo bên trái của mình rồi nói với ông Truyền là đi ra xe mô tô để lấy tiền vào trả tiền thịt chó. Sau đó Đặng Đức Th điều khiển xe chạy vào hướng tỉnh Quảng Bình, trên đường đi Đặng Đức Th đã bán chiếc điện thoại trộm cắp được cho một người thu mua điện thoại dạo ở tỉnh Quảng Bình được 1.150.000đồng để tiêu xài cá nhân.
Kết luận định giá của Hội đồng định giá tài sản trong TTHS của UBND thị xã Kỳ Anh: Chiếc điện thoại Iphone Xsmax, màu vàng, bản 64GB mà Đặng Đức Th đã lấy trộm của anh Nguyễn Tiến Đ, tại thời điểm chiếm đoạt có giá trị 8.400.000 đồng.
Vật chứng của vụ án: Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thị xã Kỳ Anh đã thu giữ của Đặng Đức Th 01 chiếc xe mô tô, hiệu Winner x, màu đỏ-đen, biển kiểm soát: 73F1-563.55, số khung: RLHKC370MY821264, số máy: KC34E1288220. Đã chuyển đến Chi cục Thi hành án dân sự thị xã Kỳ Anh chờ xử lý. Còn chiếc điện thoại Iphone Xsmax, màu vàng, bản 64GB, Đặng Đức Th đã bán cho một người thu mua điện thoại dạo ở tỉnh Quảng Bình, không thu hồi được.
Về trách nhiệm dân sự: Trong quá trình điều tra, Đặng Đức Th đã tác động bố đẻ là ông Đặng Phù bồi thường cho anh Nguyễn Tiến Đ số tiền 8.400.000đ, nay anh Nguyễn Tiến Đ không có yêu cầu gì thêm.
Cáo trạng số 25/CT –VKSTXKA ngày 17/3/2022, Viện Kiểm sát nhân dân thị xã Kỳ Anh đã truy tố bị cáo Đặng Đức Th về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại điểm g khoản 2 Điều 173 của Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa, bị cáo đã khai nhận hành vi phạm tội của mình như nội dung bản Cáo trạng đã nêu.
Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thị xã Kỳ Anh vẫn giữ nguyên quyết định truy tố, đề nghị Hội đồng xét xử: Tuyên bố bị cáo Đặng Đức Th phạm tội “Trộm cắp tài sản”; Áp dụng điểm g khoản 2 Điều 173, điểm b, s khoản 1 Điều 51, Điều 38 của Bộ luật hình sự, đề nghị xử phạt Đặng Đức Th mức án từ 30 đến 36 tháng tù thời hạn tù tính từ ngày bị cáo bị tạm giam là ngày 12/01/2022; Về hình phạt bổ sung: Đề nghị không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo; Về xử lý vật chứng: Đề nghị HĐXX áp dụng điểm a khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự, tịch thu bán đấu giá nộp ngân sách Nhà nước 01 chiếc xe mô tô, hiệu Winner x, màu đỏ-đen, biển kiểm soát: 73F1-563.55, số khung: RLHKC370MY821264, số máy: KC34E1288220 đã qua sử dụng; Về án phí: Bị cáo phải nộp án phí Hình sự sơ thẩm theo quy định.
Bị cáo nói lời sau cùng thừa nhận hành vi phạm tội của mình, không có tranh luận gì với luận tội của đại diện Viện kiểm sát và xin Hội đồng xét xử xem xét cho giảm nhẹ hình phạt, để bị cáo sớm trở về với gia đình và xã hội.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
. Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thị xã Kỳ Anh, Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân thị xã Kỳ Anh, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Bị cáo và những người tham gia tố tụng không có khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
.Về thủ tục tố tụng: Tại phiên tòa hôm nay, Bị hại vắng mặt(mặc dù đã được tống đạt thủ tục hợp lệ), Hội đồng xét xử nhận thấy: Bị hại vắng mặt đã có lời khai tại hồ sơ và không có yêu cầu gì về bồi thường, việc vắng mặt tại phiên tòa hôm nay không làm ảnh hưởng đến quá trình xét xử, không làm ảnh hưởng đến quyền và lợi ích hợp pháp của bị cáo và các đương sự trong vụ án nên Hội đồng xét xử căn cứ Điều 292 Bộ luật tố tụng hình sự tiến hành xét xử vắng mặt Bị hại trong vụ án.
. Lời khai của bị cáo tại phiên tòa hôm nay phù hợp với lời khai của bị cáo trong quá trình điều tra, với nội dung cáo trạng của Viện Kiểm sát đã truy tố và các chứng cứ khác có tại hồ sơ, như vậy đủ cơ sở kết luận: Do có ý định trộm cắp tài sản để bán lấy tiền chi tiêu cá nhân, nên sáng ngày 01/01/2022, Đặng Đức Th đi xe mô tô từ tỉnh Quảng Bình ra tỉnh Hà Tĩnh. Đến 09 giờ 45 phút, cùng ngày thì đến trước quán thịt chó Truyền Cần ở tổ dân phố Đông Trinh, phường Kỳ Trinh, thị xã Kỳ Anh, tỉnh Hà Tĩnh, do ông Nguyễn Tiến Tr làm chủ. Đặng Đức Th để xe ở bên lề đường Quốc lộ 1, đi bộ vào quán giả vờ hỏi ông Nguyễn Tiến Tr để mua 1.000.000 đồng tiền thịt chó, hẹn 13 giờ chiều cùng ngày quay lại lấy. Lợi dụng sơ hở của vợ chồng chủ quán, Đặng Đức Th đã lấy trộm chiếc điện thoại Iphone Xsmax, màu vàng, bản 64GB, có giá trị 8.400.000 đồng của anh Nguyễn Tiến Đ, để trên chiếc tủ lạnh trong phòng bếp nhà ông Truyền để bán cho một người thu mua điện thoại dạo được 1.150.000 đồng
Hành vi lợi dụng sơ hở của chủ sở hữu, lén lút đột nhập chiếm đoạt tài sản của người khác với tổng trị giá tài sản 8.400.000 đồng của bị cáo Đăng Đức Đặng Đức Th đã phạm vào tội “Trộm cắp tài sản”, Bị cáo có đầy đủ năng lực và tuổi chịu trách nhiệm hình sự, nhưng do bản tính lười lao động thích hưởng thụ nên liên tiếp thực hiện hành vi chiếm đoạt tài sản của người khác để tiêu xài cá nhân. Năm 2010 bị Tòa án nhân dân huyện Hải Lăng, tỉnh Quảng Trị áp dụng điểm c khoản 2 Điều 136 Bộ luật hình sự năm 1999 xử phạt 42 tháng tù về tội “Cướp giật tài sản” và tổng hợp hình phạt của cả 02 Bản án buộc Đặng Đức Th chấp hành hình phạt 07 năm 06 tháng tù tại Bản án số 16/2010/HSST, ngày 30/09/2010(Bản án xác định tái phạm nguy hiểm); Ngày 28/4/2017 đã chấp hành xong hình phạt chính nhưng chưa thi hành phần bồi thường dân sự số tiền 22.670.000 đồng cho bị hại, trong khi chưa được xóa án tích thì ngày 01/01/2022 lại thực hiện hành vi trộm cắp tài sản nên Đặng Đức Th phải chịu tình tiết định khung tăng nặng “Tái phạm nguy hiểm” theo điểm g khoản 2 Điều 173 Bộ luật Hình sự.
Bị cáo Đặng Đức Th đã nhiều lần bị kết án về tội “Cướp giật tài sản”, “Trộm cắp tài sản”, “Lừa đảo,chiếm đoạt tài sản” chưa tính lần phạm tội này(chưa lần nào được xóa án tích), lẽ ra bị cáo phải chịu thêm tình tiết tăng nặng định khung “Phạm tội có tính chất chuyên nghiệp” nhưng quá trình điều tra và tại phiên tòa xác định bị cáo không lấy các lần phạm tội làm nghề sinh sống và lấy kết quả của việc phạm tội làm nguồn sống chính nên không đủ điều kiện để áp dụng tình tiết “Phạm tội có tính chất chuyên nghiệp” đối với bị cáo.
. Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
Bị cáo Đặng Đức Th không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự
Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai báo, tác động gia đình bồi thường cho bị hại nên bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự “Người phạm tội thành khẩn khai báo” và “Người phạm tội tự nguyện bồi thường, khắc phục hậu quả” quy định tại điểm b, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự.
. Trên cơ sở xem xét, đánh giá tính chất, mức độ, hành vi phạm tội, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân bị cáo. Xét thấy, Hành vi phạm tội của Đặng Đức Th là nguy hiểm cho xã hội, bị cáo có nhân thân rất xấu đã nhiều lần bị xử phạt tù về tội “Cướp giật tài sản”, “Trộm cắp tài sản”, “Lừa đảo,chiếm đoạt tài sản”, nhưng bị cáo vẫn không chịu sửa chữa bản thân, liên tiếp thực hiện hành vi phạm tội, chứng tỏ bị cáo khó cải tạo, giáo dục để trở thành người công dân tốt. Do đó cần xử phạt bị cáo mức án đủ nghiêm, cách ly bị cáo ra khởi đời sống xã hội một thời gian nhất định để cải tạo, giáo dục bản thân tiến bộ là cần thiết.
.Theo quy định tại khoản 5 Điều 173 Bộ luật hình sự quy định “Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng”. Tuy nhiên theo các tài liệu, chứng cứ và lời khai của bị cáo tại phiên tòa đều cho thấy bị cáo Đặng Đức Th không có nghề nghiệp ổn định, không có thu nhập, không có tài sản gì. Vì vậy, Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung là hình phạt tiền đối với bị cáo.
. Về dân sự: Bị hại đã nhận số tiền bồi thường thiệt hại, không yêu cầu bồi gì thêm nên Hội đồng xét xử không xem xét.
. Về xử lý vật chứng: Đối với chiếc xe mô tô, hiệu Winner x, màu đỏ-đen, biển kiểm soát: 73F1-563.55, số khung: RLHKC370MY821264, số máy: KC34E1288220. Đây là phương tiện bị cáo để thực hiện hành vi phạm tội nên cần áp dụng điểm a khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự tịc thu bán đấu giá nộp ngân sách Nhà nước.
. Về án phí và quyền kháng cáo:
Bị cáo Đặng Đức Th phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Bị cáo; Bị hại có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ điểm g khoản 2 Điều 173; điểm b,s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự;
Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; điểm a khoản 2 Điều 106, khoản 2 Điều 136, Điều 299, Điều 326, Điều 331, Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự; Điều 3, khoản 1 Điều 21; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 và mục A Danh mục án phí, lệ phí Tòa án, ban hành kèm theo Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban thường vụ Quốc hội;
1. Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Đặng Đức Th phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
2. Về hình phạt: Xử phạt Đặng Đức Th 24 (Hai tư) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày tạm giam là ngày 12/01/2022.
3. Về xử lý vật chứng: Tịch thu bán đấu giá nộp ngân sách Nhà nước 01(Một) xe mô tô hiệu Winnerx, màu đỏ-đen, biển kiểm soát: 73F1-563.55, số khung: RLHKC370MY821264, số máy: KC34E1288220 xe đã qua sử dụng.
Tình trạng các vật chứng trên có tại Biên bản giao, nhận vật chứng ngày 17/3/2022 giữa Cơ quan điều tra Công an thị xã Kỳ Anh với Chi cục Thi hành án dân sự thị xã Kỳ Anh.
4. Về án phí: Bị cáo Đặng Đức Th phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
5. Về quyền kháng cáo đối với bản án: Bị cáo được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án; Bị hại vắng mặt được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Hà Tĩnh; - VKSND thị xã Kỳ Anh; - VKSND tỉnh Hà Tĩnh; - Công an thị xã Kỳ Anh; - Trại tạm giam Công an Hà Tĩnh; - Chi cục THADS thị xã Kỳ Anh; - Sở Tư pháp Hà Tĩnh; - Phòng PC81 Công an tỉnh Hà Tĩnh; - Bị cáo, Bị hại; - Lưu: HS; VP-TA. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Đinh Văn Tư |