- Tranh chấp gì? án hình sự — "Vũ Anh Trường - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Vũ Anh Tr phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Nghị quyết số Số: 01/2022/NQ-HĐTP Sửa đổi, bổ sung một số đi…; Nghị quyết số 02/2018/NQ-HĐTP Hướng dẫn áp dụng Điều 65 của…
| TOÀ ÁN ND HUYỆN VÕ NHAI CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM TỈNH THÁI NGUYÊN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 28/2022/HS-ST Ngày 12-8-2022 |
NHÂN DANH
NƢỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIÊT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN VÕ NHAI, TỈNH THÁI NGUYÊN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
- Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Hoàng Thị Hương.
- Các Hội thẩm nhân dân: Bà Triệu Thị Xuân và ông Dương Bảo Khánh.
- Thư ký Toà án ghi biên bản phiên tòa: Bà Kim Thị Thanh Thúy.
- Đại diện VKSND huyện Võ Nhai, tỉnh Thái Nguyên tham gia phiên tòa: Ông Đặng Văn Hoàng - Kiểm sát viên.
Ngày 12 tháng 8 năm 2022, tại Hội Tr xét xử Toà án nhân dân huyện Võ Nhai, tỉnh Thái Nguyên, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 29/2022/TLST-HS ngày15 tháng 7 năm 2022; theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 30/2022/QĐXXST-HS ngày 28 tháng 7năm 2022 đối với bị cáo:
- Họ và tên Vũ Anh Tr; Tên gọi khác: Không; Giới tính: Nam; Sinh ngày: 20 tháng 11 năm 2005; Nơi đăng ký HKTT và nơi cư trú: Đồng Quán, Dân Tiến, Võ Nhai, Thái Nguyên; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Cao lan; Tôn giáo: Không; Trình độ văn hóa: 11/12; Nghề nghiệp: Học sinh; Con ông Vũ Anh T, sinh năm 1979 và bà Nguyễn Thị H, sinh năm 1978 (đã chết); Gia đình có 02 anh chị em, bị cáo là con thứ 02; Vợ, con: Chưa có.
- Tiền án, tiền sự: Không.
- Khi phạm tội bị cáo mới được 16 tuổi 02 tháng 29 ngày.
- Hiện bị cáo đang tại ngoại tại địa phương theo quyết định giao người bị buộc tội là người dưới 18 tuổi cho người đại diện giám sát, có mặt.
- Ngƣời đại diện cho bị cáo Vũ Anh Tr: Ông Vũ Anh T, sinh năm 1979, có mặt.
Địa chỉ: Xóm ĐQ, xã DT, huyện VN, tỉnh TN.
- Ngƣời bào chữa cho bị cáo Vũ Anh Tr: Bà Lê Thúy Hằng - Trợ giúp viên pháp lý, Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh Thái Nguyên, có mặt.
- Đại diện Tr Trung học phổ thông Hoàng Quốc Việt: Bà Nguyễn Thị Ngọc H1, sinh năm 1985 - Giáo viên chủ nhiệm lớp 11 A7, có mặt.
Địa chỉ: xã TX, huyện VN, tỉnh TN
- Bị hại: Anh Nguyễn Văn Th, sinh năm 1993, có đơn đề nghị xét xử vắng mặt.
Địa chỉ: Xóm V, xã BL, huyện VN, tỉnh TN.
- Ngƣời có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Chị Nguyễn Thị Thanh X, sinh năm 1989, có đơn đề nghị xét xử vắng mặt.
Địa chỉ: Xóm An Long, xã BL, huyện Võ Nhai, tỉnh Thái Nguyên.
- Ngƣời làm chứng:
+ Anh Vi Đức D, sinh năm 2005, vắng mặt.
Địa chỉ: Xóm CT (nay là xóm ĐT), xã BL, huyện VN, tỉnh TN.
+ Anh Triệu Anh T2, sinh năm 2005, vắng mặt.
Địa chỉ: Xóm P, xã BL, huyện VN, tỉnh TN.
- Ngƣời đại diện cho Vi Đức D: Ông Vi Đức L, sinh năm 1973, vắng mặt.
Địa chỉ: Xóm CT (nay là xóm ĐT), xã BL, huyện VN, tỉnh TN.
- Ngƣời đại diện cho anh Triệu Anh T2: Bà Đỗ Thị C, sinh năm 1977, vắng mặt.
Địa chỉ: Xóm P, xã BL, huyện VN, tỉnh TN.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Do muốn có phương tiện để đi lại Vũ Anh Tr sinh ngày 20/11/2005, trú tại xóm ĐQ, xã DT, huyện VN nảy sinh ý định trộm cắp xe mô tô. Khoảng 20 giờ 30 phút ngày 18/02/2022, Tr đi đến xóm V, xã BL để thực hiện mục đích của mình. Khi đi qua nhà ông Nguyễn Văn D, sinh năm 1971, trú tại xóm V, xã BL, Tr phát hiện thấy trong sân nhà ông D có dựng bốn chiếc xe mô tô, trong đó có chiếc xe mô tô nhãn hiệu HONDA WAVE màu xanh đen biển kiểm soát 12H1-38169 (sau này xác định là xe mô tô của anh Nguyễn Văn Th, sinh năm 1993, là con trai ông D, mượn của chị Nguyễn Thị Thanh X, sinh năm 1989, nơi cư trú: xóm AL, xã BL, huyện VN là chủ sở hữu) dựng bằng chân chống phụ ở trong sân, xe đang cắm chìa khóa tại ổ khóa của xe, đầu xe quay vào trong nhà, đuôi xe hướng ra khu vực cửa nhà ông D. Tr quan sát xung quanh không có ai nên đi đến chỗ chiếc xe trên và bật chìa khóa điện, dùng chân đạp cần số xe về số N rồi dắt chiếc xe mô tô ra khỏi sân nhà ông D, khi dắt xe được khoảng 15 mét thì Tr đề nổ máy xe và điều khiển đi. Khi đi đến gần nhà văn hóa xóm V, xã BL, Tr dừng lại tháo gương và biển số xe rồi cài ở giá để hàng của xe đồng thời kiểm tra trong cốp thấy có 01 ví giả da bên trong có 01 đăng ký xe, 01 giấy phép lái xe, 01 bảo hiểm xe máy, 02 thẻ ngân hàng, 01 căn cước công D đều mang tên Nguyễn Thị Thanh X. Tiếp đó Tr điều khiển xe mô tô đi đến khu vực xóm NS, xã BL thì vứt ví cùng với 01 giấy phép lái xe, 02 thẻ ngân hàng, 01 căn cước công D vào bao tải rác để ở lề đường, chỉ giữ lại giấy đăng ký xe, bảo hiểm xe máy. Khi điều khiển xe mô tô về nhà Tr đã nói với ông Vũ Anh T (sinh năm 1979 là bố của Tr) là xe bạn Tr để nhờ. Ngày 23/02/2022 Tr cùng Vi Đức D, sinh năm 2005, nơi cư trú: xóm Đông Thắng, xã BL, huyện Võ Nhai và Triệu Anh T2, sinh năm 2005, nơi cư trú: xóm P, xã BL, huyện VN đi chơi tại khu du lịch huyện TĐ, tỉnh VP, trên đường đi Tr bị ngã xe làm rách đôi tay nắm, vỡ đèn xi nhan, xước mặt đèn pha. Khi đi đến địa phận huyện PB, tỉnh TN, Tr điều khiển xe đi vào một cửa hàng sửa chữa xe mô tô sát lề đường, tại đây Tr đã thay 01 đèn pha, 02 xi nhan, 01 đôi tay nắm, dán 01 bộ tem xe hết tổng số tiền 1.380.000 đồng rồi đi chơi tiếp.
Sau khi phát hiện bị mất trộm chiếc xe mô tô biển kiểm soát 12H1-381.69, ngày 19/02/2022 anh Nguyễn Văn Th đã làm đơn trình báo đến Công an xã BL để đề nghị điều tra giải quyết vụ việc trên theo quy định.
Ngày 24/02/2022 khi Tr điều khiển xe mô tô tại khu vực xóm C, xã BL thì bị Công an xã BL phát hiện, Tr đã tự giác giao nộp 01 chiếc xe mô tô nhãn hiệu HONDA WAVE màu xanh đen, 01 biển kiểm soát 12H1-381.69 cùng các đồ vật tài liệu khác và khai nhận toàn bộ hành vi của mình. Ngày 25/02/2022 Công an xã BL đã chuyển hồ sơ cùng vật chứng liên quan đến Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Võ Nhai để điều tra theo thẩm quyền.
Ngày 26/02/2022 Cơ quan điều tra đã tiến hành thu giữ 01 ví giả da màu nâu, trong ví có: 01 căn cước công D; 01 thẻ ngân hàng Shinhan Bank, 01 thẻ ngân hàng Vietcom Bank, 01 giấy phép lái xe số AN 670136 đều mang tên Nguyễn Thị Thanh X.
Tại bản kết luận định giá tài sản số 03/KL-HĐĐGTS ngày 11/3/2022 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện Võ Nhai kết luận: Xe mô tô nhãn hiệu HONDA WAVE màu sơn xanh - đen - bạc, biển kiểm soát 12H1-381.69 tại thời điểm bị chiếm đoạt có giá trị 13.833.000 đồng.
Lời khai nhận tội của Vũ Anh Tr phù hợp với các tài liệu thu thập được trong quá trình điều tra như: Biên bản sự việc, đơn trình báo, kết luận định giá tài sản, biên bản khám nghiệm hiện Tr, sơ đồ hiện Tr, lời khai của bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan, người làm chứng, vật chứng đã thu giữ và các tài liệu khác thu thập được có trong hồ sơ vụ án.
Tại Bản cáo trạng số 26/CT-VKSVN ngày 14/7/2022 Viện kiểm sát nhân dân huyện Võ Nhai, tỉnh Thái Nguyên đã truy tố đối với bị cáo Vũ Anh Tr về tội “Trộm cắp tài sản” quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự. Sau khi đánh giá chứng cứ đã đề nghị xử phạt đối với bị cáo như sau:
Về hình phạt: Căn cứ khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự; điểm b, i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 65, Điều 90, Điều 91 Bộ luật hình sự; Nghị quyết số 02/2018/NQ-HĐTP ngày 15 tháng 5 năm 2018 hướng dẫn áp dụng Điều 65 của Bộ luật hình sự về án treo; Nghị quyết số 01/2022/NQ-HĐTP ngày 15 tháng 4 năm 2022 sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị quyết số 02/2018/NQ-HĐTP ngày 15 tháng 5 năm 2018 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng Điều 65 của Bộ luật hình sự về án treo xử phạt bị cáo Vũ Anh Tr từ 6 đến 9 tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách 12 đến 18 tháng. Về hình phạt bổ sung: Không áp dụng. Về trách nhiệm dân sự: Đề nghị Hội đồng xét xử ghi nhận việc bị cáo Tr đã thực hiện bồi thường khắc phục hậu quả cho chị Nguyễn Thị Thanh X số tiền 20.000.000 đồng. Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí theo quy định.
Ý kiến phát biểu của bà Lê Thúy Hằng bào chữa cho bị cáo Tr: Nhất trí với bản Cáo trạng của Viện kiểm sát truy tố bị cáo Tr về tội danh như đã nêu và nhất trí với các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự như Viện kiểm sát đề nghị. Sau khi phân tích đánh giá chứng cứ và những hành vi phạm tội của bị cáo thấy bị cáo phạm tội với lỗi cố ý, tuy nhiên khi phạm tội bị cáo dưới 18 tuổi, có nhân thân tốt chưa có tiền án tiền sự, có địa chỉ rõ ràng, quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, quá trình điều tra bị hại có đơn xin giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo Tr. Bị cáo cũng đã tác động gia đình bồi thường thiệt hại tài sản cho để khắc phục hậu quả cho người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan chị Xuân. Từ những viện dẫn nêu trên người bào chữa đề nghị HĐXX áp dụng khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự; điểm b, i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 65, Điều 90, Điều 91 Bộ luật hình sự; Nghị quyết số 02/2018/NQ-HĐTP ngày 15/5/2018 hướng dẫn áp dụng Điều 65 của Bộ luật hình sự về án treo cho bị cáo được hưởng mức án 6 tháng tù nhưng cho hưởng án treo. Phần trách nhiệm dân sự đề nghị Hội đồng xét xử ghi nhận việc bị cáo bồi thường khắc phục hậu quả cho chị Xuân theo quy định của pháp luật.
Bị cáo Tr không có ý kiến bổ sung thêm và không tranh luận với Viện kiểm sát.
Người đại diện của bị cáo không tranh luận gì với Viện kiểm sát.
Bị cáo nói lời sau cùng xin Hội đồng xét xử cho bị cáo được hưởng mức án thấp để bị cáo có cơ hội sửa chữa trở thành người tốt có ích cho xã hội.
NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
. Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Võ Nhai, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Võ Nhai, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
. Tại phiên tòa bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như nội dung bản cáo trạng đã mô tả, bị cáo xác định cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Võ Nhai truy tố là đúng người, đúng tội.
Xét thấy lời nhận tội của bị cáo tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa là tự nguyện, khách quan, phù hợp với các chứng cứ, tài liệu khác đã thu thập được có trong hồ sơ vụ án như: Biên bản sự việc, đơn trình báo, kết luận định giá tài sản, biên bản khám nghiệm hiện Tr, sơ đồ hiện Tr, lời khai của bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan, người làm chứng, vật chứng đã thu giữ và các tài liệu khác thu thập được có trong hồ sơ vụ án.
Như vậy, có đủ cơ sở để xác định: Khoảng 20 giờ ngày 18/02/2022 tại sân nhà ông Nguyễn Văn D, sinh năm 1971, ở xóm V, xã BL, huyện Võ Nhai, tỉnh Thái Nguyên, Vũ Anh Tr đã có hành vi trộm cắp 01 chiếc xe mô tô nhãn hiệu HONDA WAVE, màu xanh đen biển kiểm soát 12H1-38169 giá trị 13.833.000 đồng của anh Nguyễn Văn Th, sinh năm 1993, trú tại xóm V, xã BL, huyện Võ Nhai. Mục đích Tr trộm cắp xe để dùng phương tiện đi lại cho bản thân.
Hành vi của bị cáo Vũ Anh Tr đã đủ yếu tố cấu thành tội “Trộm cắp tài sản” được quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự.
Khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự quy định như sau:
1. Người nào trộm cắp tài sản của người khác trị giá từ 2.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng …, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến ba năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm...”.
Viện kiểm sát nhân dân huyện Võ Nhai, tỉnh Thái Nguyên truy tố bị cáo về tội danh và điều luật nêu trên là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật. Do đó bị cáo phải chịu hình phạt mà điều luật quy định.
. Xét tính chất hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, hành vi đó đã trực tiếp xâm phạm đến tài sản của công D được pháp luật bảo vệ, làm ảnh hưởng đến an ninh chính trị và trật tự an toàn xã hội, gây dư luận xấu trong quần chúng nhân dân. Bị cáo thực hiện hành vi phạm tội với lỗi cố ý, nên bị cáo phải chịu trách nhiệm hình sự đối với hành vi mình đã gây ra.
. Xét về các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân bị cáo thấy:
- Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào.
- Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa xác định bị cáo phạm tội lần đầu thuộc Tr hợp ít nghiêm trọng, qúa trình điều tra và tại phiên tòa thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, gia đình bị cáo đã tự nguyện bồi thường thiệt hại cho chị Xuân, bị hại có đơn xin giảm nhẹ trách nhiệm hình sự. Ngoài ra, bị cáo có đơn xin cải tạo tại địa phương được chính quyền xóm và đại diện Tr học xác nhận bị cáo chấp hành nghiêm túc nội quy xóm bản, Tr học trước khi phạm tội chưa vi phạm pháp luật nên bị cáo được áp dụng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm b, i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.
Về nhân thân: Bị cáo chưa có tiền án, tiền sự.
. Xét tính chất mức độ hành vi phạm tội, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với các bị cáo, Hội đồng xét xử thấy bị cáo khi phạm tội là học sinh lớp 11/12, có nhân thân tốt chưa có tiền án tiền sự, thành khẩn khai báo ăn năn hối cải, có nơi cư trú rõ ràng, bị hại có đơn xin giảm nhẹ hình phạt, được địa phương và đại diện Tr học xác nhận bị cáo chấp hành nghiêm túc nội quy xóm bản, Tr học trước khi phạm tội chưa vi phạm pháp luật, thời điểm bị cáo thực hiện hành vi phạm tội trên 16 tuổi nhưng dưới 18 tuổi nên áp dụng những quy định về xử lý đối với người dưới 18 tuổi tại Điều 91 Bộ luật hình sự cho bị cáo được hưởng mức án thấp hơn mức án của người trưởng thành cho phù hợp để bị cáo có cơ hội cải tạo, sửa chữa lỗi lầm. Xét bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ và có nơi cư trú rõ ràng, nên không cần cách ly xã hội mà giao bị cáo cho chính quyền địa phương nơi cư trú cải tạo, giáo dục cũng đủ điều kiện giáo dục bị cáo trở thành công D tốt và đấu tranh phòng ngừa tội phạm nói chung.
. Về hình phạt bổ sung: Xét bị cáo bị cáo là người phạm tội dưới 18 tuổi nên không áp dụng phạt bổ sung đối với bị cáo.
. Về trách nhiệm dân sự: Anh Nguyễn Văn Th không yêu cầu Tr bồi thường gì về dân sự, HĐXX không xem xét giải quyết.
Ngày 05/5/2022, ông Vũ Anh T là bố đẻ của Tr đã tự nguyện bồi thường khắc phục hậu quả cho người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan chị Nguyễn Thị Thanh X số tiền 20.000.000 đồng, xét cần ghi nhận sự tự nguyện bồi thường giữa gia đình bị cáo Tr và chị Xuân.
. Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
. Đối với 01 chiếc xe mô tô nhãn hiệu HONDA WAVE màu xanh đen không có biển kiểm soát; 01 biển kiểm soát 12H1-381.69; 01 giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô, xe máy số 031241 mang tên Nguyễn Thị Thanh X; 01 giấy chứng nhận bảo hiểm tự nguyện xe mô tô – xe máy mang tên Nguyễn Thị Thanh X; 02 gương xe mô tô; 01 ví giả da màu nâu; 01 giấy phép lái xe số AN 670136 mang tên Nguyễn Thị Thanh X; 01 thẻ ngân hàng Shinhan Bank và 01 thẻ ngân hàng Vietcombank; 01 căn cước công D đều mang tên Nguyễn Thị Thanh X. Ngày 23/6/2022 cơ quan điều tra đã trả lại những tài sản trên cho chị Nguyễn Thị Thanh X là chủ sở hữu hợp pháp quản lý và sử dụng. Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.
. Xét đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Võ Nhai tại phiên toà về hình phạt và các vấn đề có liên quan đối với bị cáo là phù hợp.
. Xét ý kiến của người bào chữa cho bị cáo tại phiên toà về hình phạt và các vấn đề có liên quan đối với bị cáo là phù hợp, Hội đồng xét xử thấy cần được chấp nhận.
Bởi các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Tuyên bố: Bị cáo Vũ Anh Tr phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
1. Về hình phạt:
Áp dụng: Khoản 1 Điều 173; điểm b, i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 90, Điều 91, Điều 65 Bộ luật hình sự; Nghị quyết số 02/2018/NQ-HĐTP ngày 15 tháng 5 năm 2018 hướng dẫn áp dụng Điều 65 của Bộ luật hình sự về án treo; Nghị quyết số 01/2022/NQ-HĐTP ngày 15 tháng 4 năm 2022 sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị quyết số 02/2018/NQ-HĐTP ngày 15 tháng 5 năm 2018 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng Điều 65 của Bộ luật hình sự về án treo xử phạt: Vũ Anh Tr 6 (sáu) tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 12 (mười hai) tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.
Giao bị cáo Vũ Anh Tr cho UBND xã Dân Tiến, huyện Võ Nhai, tỉnh Thái Nguyên giám sát và giáo dục trong thời gian thử thách. Trong Tr hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì được thực hiện theo quy định tại Điều 92 Luật thi hành án hình sự năm 2019.
Trong thời gian thử thách, nếu người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật Thi hành án hình sự 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người đó phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.
2. Về hình phạt bổ sung: Không áp dụng.
3. Về trách nhiện dân sự: Áp dụng Điều 48 Bộ luật hình sự; Điều 589 Bộ luật dân sự.
- Ghi nhận việc gia đình bị cáo Vũ Anh Tr đã tự nguyện bồi thường khắc phục hậu quả cho chị Nguyễn Thị Thanh X 20.000.000 đồng (hai mươi triệu đồng), theo biên bản giao nhận tiền ngày 05/5/2022 giữa anh Vũ Anh T (bố đẻ bị cáo Tr) và chị Nguyễn Thị Thanh X.
4. Về án phí: Áp dụng Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễm, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Toà án;
Buộc bị cáo Vũ Anh Tr phải chịu 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm nộp vào ngân sách Nhà nước.
5. Về quyền kháng cáo: Bị cáo, Đại diện hợp pháp cho bị cáo, Người bào chữa có quyền kháng cáo Bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được Bản án hoặc Bản án được niêm yết tại UBND xã.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Thái Nguyên; - VKSND huyện Võ Nhai; - Công an huyện Võ Nhai; - Chi cục THADS huyện Võ Nhai; - Bị cáo, ĐD hợp pháp cho BC, bị hại, NCQLNVLQ; UBND xã Dân Tiến - Lưu: HS, VT, THAHS. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa Hoàng Thị Hƣơng |