vanban.org

Bản án 28/2022/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Văn Quan, tỉnh Lạng Sơn Tuyên án 21/12/2022 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Hứa Văn D phạm tội Trộm cắp tài sản.

Về hình phạt: Xử phạt bị cáo Hứa Văn D 01 (Một) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị bắt tạm giam 26/10/2022. Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "HỨA VĂN D TRỘM CẮP TS - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Hứa Văn D phạm tội Trộm cắp tài sản.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN VĂN QUAN
TỈNH LẠNG SƠN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 28/2022/HS-ST
Ngày 21-12-2022

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN VĂN QUAN, TỈNH LẠNG SƠN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Hoàng Thị Thu Hường

Các Hội thẩm nhân dân:

Bà Đỗ Thị Gấm

Ông Liễu Trung Nàn

- Thư ký phiên tòa: Bà Phan Thùy Linh – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Văn Quan, tỉnh Lạng Sơn.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Văn Quan, tỉnh Lạng Sơn tham gia phiên tòa: Bà Hoàng Thị Thùy Linh - Kiểm sát viên.

Ngày 21 tháng 12 năm 2022 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Văn Quan, tỉnh Lạng Sơn xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 27/2022/TLST-HS ngày 30 tháng 11 năm 2022 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 28/2022/QĐXXST-HS ngày 08 tháng 12 năm 2022 đối với bị cáo:

Hứa Văn D (tên gọi khác: Không); sinh ngày 20/4/1991; nơi sinh: Xã Đ, huyện V, tỉnh Lạng Sơn; nơi đăng ký hộ khẩu thường trú và chỗ ở hiện nay: Thôn K, xã Đ, huyện V, tỉnh Lạng Sơn; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: 05/12; dân tộc: Nùng; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông: Hứa Văn D1, sinh năm 1968 và bà: Lăng Thị N, sinh năm 1967; vợ, con: chưa có; tiền sự: Không; tiền án: Không; nhân thân: Năm 2017 bị Toà án nhân dân huyện Văn Quan, tỉnh Lạng Sơn quyết định đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc thời hạn 18 tháng tại Quyết định số 07/QĐ-TA ngày 31/8/2017, chấp hành xong ngày 08/5/2019; Bị cáo bị tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an huyện Văn Quan từ ngày 26/10/2022 đến nay. Có mặt.

- Người bào chữa cho bị cáo: Bà Chu Bích T, Trợ giúp viên pháp lý thuộc Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh Lạng Sơn. Có mặt

- Bị hại: Bà Đỗ Thị P, sinh năm 1976. Địa chỉ: Thôn B, xã B, huyện V, tỉnh Lạng Sơn. Có mặt.

- Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đến vụ án: Ông Hứa Văn D1, sinh năm 1968. Địa chỉ: Thôn K, xã Đ, huyện V, tỉnh Lạng Sơn. Có mặt

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Sáng ngày 10/10/2022, Hứa Văn D cùng Hoàng Văn H và Dương Văn Q đến nhà bà Đỗ Thị P để xây nhà kho cho bà Đỗ Thị P. Buổi trưa cùng này, Hứa Văn D ở lại ăn cơm trưa cùng ông Sầm Văn T và anh Sầm Văn H là chồng và con trai bà Đỗ Thị P. Sau khi ăn cơm xong, ông Sầm Văn T và anh Sầm Văn H đi ngủ trưa, Hứa Văn D nằm ở ghế phòng khách, nhìn thấy cửa phòng ngủ của bà Đỗ Thị P không khoá nên Hứa Văn D nảy sinh ý định trộm cắp tài sản. Khoảng 12 giờ 30 phút Hứa Văn D đi vào phòng của bà Đỗ Thị P, lật chiếu ở giường lên thấy 02 tờ tiền có mệnh giá 50.000 đồng, Hứa Văn D đã cầm 02 tờ tiền và tiếp tục mở tủ thấy trong túi áo có một tập tiền có nhiều mệnh giá khác nhau, Hứa Văn D cầm tập tiền đó đi lên quả đồi cách nhà bà Đỗ Thị P khoảng 100m rồi lấy số tiền ra đếm được 7.600.000 đồng. Hứa Văn D bỏ toàn bộ số tiền vào túi rồi quay lại nhà bà Đỗ Thị P nghỉ trưa và tiếp tục xây dựng đến khoảng 15 giờ cùng ngày thì xong việc và cùng mọi người ra về. Khoảng 15 giờ 30 phút ngày 10/10/2022, Hứa Văn D đón xe khách ra khu vực cầu vượt ga Đ, huyện C, tỉnh Lạng Sơn mua 1.000.000 đồng ma tuý với một người đàn ông không rõ tên tuổi và đã sử dụng hết, chi tiêu cá nhân hết 1.600.000 đồng. Số tiền còn lại 5.000.000 đồng ngày 13/10/2022 Hứa Văn D đã nộp lại cho cơ quan điều tra.

Tại Kết luận giám định số 441/KL-KTHS, ngày 08/11/2022 của Phòng kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh Lạng Sơn xác định “Toàn bộ số tiền 5.000.000 đồng được niêm phong trong phong bì giám định là tiền thật.”.

Ngày 11/11/2022, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Văn Quan đã trả lại cho bà Đỗ Thị P toàn bộ số tiền 5.000.000 đồng. Ngày 13/11/2022, ông Hứa Văn D1 là bố của Hứa Văn D đã trả cho bà Đỗ Thị P 2.600.000 đồng.

Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo Hứa Văn D thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội như cáo trạng của Viện kiểm sát đã truy tố. Bị hại Đỗ Thị P trình bày về thời gian, địa điểm và những tài sản mà gia đình bà đã bị Hứa Văn D trộm cắp đã nêu trong bản Cáo trạng là đúng, toàn bộ số tiền bị trộm cắp bà Đỗ Thị P đã được cơ quan điều tra và gia đình bị cáo trả lại, bà Đỗ Thị P không có yêu cầu gì khác và đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo. Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đến vụ án ông Hứa Văn D1 trình bày ông là bố đẻ của bị cáo Hứa Văn D, trong quá trình điều tra, Hứa Văn D đã tác động gia đình để trả lại cho bà Đỗ Thị P số tiền 2.600.000 đồng bị cáo lấy trộm, nay ông Hứa Văn D1 không yêu cầu bị cáo trả lại số tiền này.

Tại bản Cáo trạng số 27/CT-VKSVQ, ngày 28/11/2022 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Văn Quan, tỉnh Lạng Sơn đã truy tố bị cáo Hứa Văn D về tội Trộm cắp tài sản theo khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa Kiểm sát viên thực hành quyền công tố tại phiên toà vẫn giữ nguyên Cáo trạng và đề nghị Hội đồng xét xử: Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Hứa Văn D phạm tội Trộm cắp tài sản, về hình phạt: Áp dụng khoản 1 Điều 173, điểm b,i,s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38, Điều 50 Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo Hứa Văn D từ 06 tháng đến 09 tháng tù. Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo. Về vật chứng là số tiền bị cáo giao nộp, Cơ quan điều tra đã trả lại cho bị hại nên không xem xét. Về trách nhiệm bồi thường thiệt hại: Đề nghị công nhận sự thoả thuận giữa bị cáo và bị hại về việc bị cáo và gia đình đã bồi thường xong số tiền 2.600.000 đồng. Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm để sung Ngân sách nhà nước. Về quyền kháng cáo: Bị cáo, bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đến vụ án có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.

Người bào chữa cho bị cáo trình bày: Nhất trí với nội dung cáo trạng của Viện kiểm sát về căn cứ buộc tội, tội danh và các tình tiết về nhân thân, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo. Tuy nhiên về mức hình phạt, bị cáo là người dân tộc thiểu số, nhận thức pháp luật còn hạn chế, không nhận thức được mức độ nghiêm trọng của hành vi phạm tội, bị cáo đã thành khẩn khai báo, được bị hại xin giảm nhẹ trách nhiệm hình sự. Vì vậy, đề nghị Hội đồng xét xử cho bị cáo hưởng mức hình phạt thấp nhất mức đề nghị của đại diện Viện kiểm sát. Về vật chứng và các vấn đề khác: Nhất trí với đề nghị của đại diện Viện kiểm sát.

Bị cáo Hứa Văn D nhất trí ý kiến của người bào chữa, không có ý kiến tranh luận với Kiểm sát viên.

Bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đến vụ án không có ý kiến tranh luận.

Lời nói sau cùng bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt để sớm trở về với gia đình và xã hội.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên, người bào chữa trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự về thẩm quyền, trình tự, thủ tục. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa những người tham gia tố tụng không khiếu nại quyết định, hành vi của người tiến hành tố tụng. Do đó, các quyết định, hành vi tố tụng của người tiến hành tố tụng đã thực hiện là hợp pháp.

Về hành vi phạm tội của bị cáo, xét thấy lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai tại Cơ quan điều tra, phù hợp với biên bản hiện trường và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên toà. Vì vậy, có đủ cơ sở để kết luận: Ngày 10/10/2022 bị cáo Hứa Văn D đã lợi dụng sự sơ hở của chủ sở hữu, lén lút thực hiện hành vi trộm cắp số tiền 7.600.000 đồng của bà Đỗ Thị P, mục đích để mua ma tuý sử dụng và tiêu xài cho bản thân. Hành vi của bị cáo đã phạm vào tội Trộm cắp tài sản. Như vậy Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Văn Quan, tỉnh Lạng Sơn truy tố đối với bị cáo về tội Trộm cắp tài sản theo quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

Về nhân thân: Xét thấy bị cáo là đối tượng nghiện ma túy, đã một lần bị Tòa án áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc nên không được coi là có nhân thân tốt.

Tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo đã thành khẩn khai báo về hành vi phạm tội, bị cáo phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, đã tác động gia đình bồi thường toàn bộ số tiền thiệt hại cho bị hại, gia đình bị cáo thuộc hộ nghèo và bị cáo có trình độ học vấn thấp nên được nên được áp dụng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm b,i,s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

Về hình phạt chính, xét thấy hành vi của bị cáo đã xâm phạm đến quyền sở hữu về tài sản của công dân được pháp luật bảo vệ, gây mất an ninh trật tự tại địa phương, thể hiện sự coi thường pháp luật nên cần phải được xử lý nghiêm minh, cách ly khỏi đời sống xã hội một thời gian để cải tạo, giáo dục bị cáo trở thành người công dân tốt cho gia đình và xã hội.

Về hình phạt bổ sung: Theo khoản 5 Điều 173 Bộ luật hình sự thì người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng. Tuy nhiên qua xác minh tại địa phương thấy rằng bị cáo không có tài sản riêng, không có việc làm và thu nhập ổn định nên Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

Về trách nhiệm dân sự: Bị hại Đỗ Thị P đã được bị cáo và gia đình bồi thường toàn bộ số tiền 2.600.000 đồng, tại phiên toà bị hại không yêu cầu gì thêm nên Hội đồng xét xử xác nhận bị cáo đã bồi thường xong cho bị hại. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án Hứa Văn D1 không yêu cầu bị cáo hoàn trả số tiền đã bồi thường cho bà Đỗ Thị P nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Về xử lý vật chứng: Không xem xét giải quyết do Cơ quan điều tra đã trả lại cho bị hại theo đúng quy định của pháp luật.

Xét đề nghị của Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân huyện Văn Quan và ý kiến bào chữa của người bào chữa cho bị cáo tại phiên tòa về tội danh, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và tình tiết khác phù hợp với các nhận định nêu trên nên Hội đồng xét xử chấp nhận. Riêng về hình phạt chính, Hội đồng xét xử thấy rằng bị cáo là đối tượng nghiện ma tuý, tại phiên toà hôm nay bị cáo thừa nhận đã có một số lần trộm cắp tài sản của gia đình nhưng chưa bị xử lý thể hiện nhân thân không tốt, coi thường pháp luật nên cần áp dụng mức hình phạt cao hơn mức đề nghị của Kiểm sát viên để đảm bảo tính răn đe, phòng ngừa tội phạm và giáo dục pháp luật đối với bị cáo.

Về án phí: Bị cáo là người bị kết án nên phải chịu án phí hình sự sơ thẩm 200.000 đồng để sung Ngân sách Nhà nước.

Bị cáo, bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án có quyền kháng cáo bản án theo quy định pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 1 Điều 173; điểm b, i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38; Điều 50 của Bộ luật Hình sự;

Căn cứ khoản 2 Điều 135, khoản 2 Điều 136; Điều 331, Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự;

Căn cứ các Điều 584, 585, 589 Bộ luật Dân sự;

Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án.

1. Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Hứa Văn D phạm tội Trộm cắp tài sản.

2. Về hình phạt: Xử phạt bị cáo Hứa Văn D 01 (Một) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị bắt tạm giam 26/10/2022.

Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

3. Về trách nhiệm dân sự: Xác nhận bị cáo đã bồi thường xong toàn bộ số tiền thiệt hại 2.600.000 đồng cho bị hại Đỗ Thị P.

4. Án phí: Bị cáo Hứa Văn D phải chịu 200.000 đồng án phí Hình sự sơ thẩm để sung ngân sách Nhà nước.

5. Quyền kháng cáo: Bị cáo, bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đến vụ án có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Cỡ chữ