- Tranh chấp gì? án hình sự — "Bản án số 28 ngày 27.01.2022 Lò Văn M phạm tội Trộm cắp tài sản - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một s…"
- Tòa quyết gì? Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự năm 2015:
- Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 12 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 173 Bộ luật Hình sự
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ML TỈNH SƠN LA | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 28/2022/HS-ST Ngày 27-01-2022 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ML, TỈNH SƠN LA
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ toạ phiên toà: Bà Lê Thị Thu Hà.
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Lò Minh Ngọc và ông Nguyễn Văn Tuấn.
- Thư ký phiên toà: Bà Đinh Thị Trà My - Thư ký Tòa án nhân dân huyện ML, tỉnh Sơn La.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện ML tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Chí Công - Kiểm sát viên.
Ngày 27 tháng 01 năm 2022, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện ML, tỉnh Sơn La xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 29/2022/TLST-HS ngày 06 tháng 01 năm 2022, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 29/2022/ QĐXXST-HS ngày 14 tháng 01 năm 2022 đối với bị cáo:
Họ và tên: Lò Văn M, sinh ngày 05/9/1998, tại PI, ML, Sơn La; Nơi ĐKHKTT: Bản CP, xã PT, huyện ML, tỉnh Sơn La; Nghề nghiệp: Trồng trọt; Trình độ văn hoá: 06/12; Dân tộc: Thái; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Đảng, đoàn thể: Không; Con ông Lò Văn B, sinh năm 1979 và con bà Lò Thị I, sinh năm 1979; bị cáo chưa có vợ, con; Tiền án, tiền sự: 02 tiền án: Ngày 24/4/2019 bị Toà án nhân dân huyện ML xử phạt 10 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”; ngày 19/6/2020 bị Toà án nhân dân huyện ML xử phạt 12 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”; Bị cáo bị bắt tạm giam giữ từ ngày 28/10/2021; Bị cáo có mặt tại phiên toà.
Người bào chữa cho bị cáo: Bà Cầm Kim Loan, Trợ giúp viên pháp lý, công tác tại Trung tâm trợ giúp pháp lý tỉnh Sơn La.Có mặt.
Người bị hại: Tòng Văn H, sinh năm 1976. Địa chỉ: Bản P, xã MC, huyện ML, tỉnh Sơn La. Có đơn đề nghị xét xử vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Bị cáo Lò Văn M bị Viện kiểm sát nhân dân huyện ML truy tố về hành vi phạm tội như sau:
Khoảng 08 giờ 30 phút ngày 17/10/2021 Lò Văn M đi bộ từ nhà mẹ đẻ ở bản K, xã MC đến bản P, xã MC mục đích để tìm nhà ai có sơ hở về tài sản sẽ trộm cắp đem bán lấy tiền tiêu xài. Khi đi qua nhà anh Tòng Văn H, M nhìn thấy 01 chiếc điện thoại di động trên nóc tủ lạnh, quan sát xung quanh không có ai nên M đã nhảy qua hàng rào vào trong nhà anh H lấy chiếc điện thoại bỏ vào túi quần. Khi đi ra khỏi nhà M gặp anh H đi về, anh H đã hô hoán mọi người đuổi theo nhưng M bỏ chạy không bắt được. Anh H căn cứ đặc điểm nhận dạng của M và báo cho Công an xã MC. Đến khoảng 11 giờ 30 phút cùng ngày khi M đi về nhà mẹ thì bị Công an xã MC mời đến trụ sở làm việc, tại đây M đã thừa nhận hành vi trộm cắp của mình.
Vật chứng thu giữ:
01 điện thoại di động nhãn hiệu Samsung Galaxy J7 Prime, màu trắng và vàng đồng, số imei1 355228086740071, số imei2 3552291086740079, máy cũ đã qua sử dụng.
Ngày 18/10/2021 Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện ML đã ban hành yêu cầu định giá tài sản số 28 đối với 01 điện thoại di động nhãn hiệu Samsung Galaxy J7 Prime, màu trắng và vàng đồng, số imei1 3552280867400 71, số imei2 3552291086740079, máy cũ đã qua sử dụng. Tại kết luận định giá tài sản số 18 ngày 18/10/2021 của Hội đồng định giá tài sản huyện ML kết luận: giá trị của 01 điện thoại di động Samsung Galaxy J7 Prime, màu trắng và vàng đồng, số imei1 355228086740071, số imei2 3552291086740079, máy cũ đã qua sử dụng là 800.000 đồng.
Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo, người bị hại không có ý kiến hay khiếu nại gì, nhất trí với kết luận của Hội đồng định giá.
Bản cáo trạng số 02/CT-VKS-ML ngày 05/01/2022 của Viện kiểm sát nhân dân huyện ML truy tố bị cáo Lò Văn M về tội “ Trộm cắp tài sản”, theo điểm b khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự.
Tại phiên toà, đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo Lò Văn M đủ yếu tố cấu thành tội “Trộm cắp tài sản”.
Đề nghị Hội đồng xét xử: Tuyên bố bị cáo Lò Văn M phạm tội “Trộm cắp tài sản”. Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự: Xử phạt Lò Văn M từ 12 tháng đến 16 tháng tù giam; Không áp dụng hình phạt bổ sung - phạt tiền đối với bị cáo do bị cáo không có tài sản.
Đối với vật chứng của vụ án: Căn cứ khoản 2 Điều 47; Điều 48 Bộ luật hình sự; điểm b khoản 3 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự 2015: Chấp nhận việc Cơ quan điều tra đã trả lại cho người bị hại Tòng Văn H 01 điện thoại di động nhãn hiệu Samsung Galaxy J7 Prime, màu trắng và vàng đồng, số imei1 355228086740071, số imei2 3552291086740079, máy cũ đã qua sử dụng.
Về trách nhiệm dân sự: Quá trình điều tra và tại đơn xin xét xử vắng mặt người bị hại Tòng Văn H đã nhận lại đủ tài sản, không yêu cầu bị cáo Lò Văn M bồi thường thêm. Đề nghị chấp nhận.
Về án phí: Căn cứ điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/ UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về án phí và lệ phí Toà án: Đề nghị miễn nộp tiền án phí sơ thẩm cho bị cáo Lò Văn M.
Tại phiên tòa người bào chữa cho bị cáo Lò Văn M khẳng định bị cáo bị khởi tố, truy tố, xét xử về tội Trộm cắp tài sản là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật. Song đề nghị Hội đồng xét xử xem xét cho bị cáo được hưởng chính sách khoan hồng của Đảng, pháp luật Nhà nước và một số tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự. Vì bị cáo là người dân tộc sống ở vùng điều kiện kinh tế xã hội đặc biệt khó khăn, trình độ hiểu biết kém, sau khi phạm tội đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải. Đề nghị miễn án phí và không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo, vì bị cáo có hoàn cảnh kinh tế khó khăn, gia đình thuộc hộ nghèo, thu nhập không ổn định, tài sản không có giá trị lớn.
Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa Kiểm sát viên giữ nguyên quyết định truy tố, bị cáo nhất trí với quyết định truy tố của Viện kiểm sát.
Lời nói sau cùng của bị cáo xin được giảm nhẹ hình phạt và xin miễn nộp tiền án phí.
NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện ML; Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện ML; Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Bị cáo, người bào chữa, người bị hại không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Về tố tụng: Người bị hại Tòng Văn H vắng mặt nhưng đã có lời khai có trong hồ sơ và được công bố tại phiên tòa, có đơn đề nghị xét xử vắng mặt, việc vắng mặt không gây trở ngại cho việc giải quyết vụ án nên căn cứ Điều 292 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 quyết định xét xử vắng mặt người bị hại.
Về tội danh: Tại phiên tòa bị cáo Lò Văn M thừa nhận: Khoảng 09 giờ 30 phút ngày 17/10/2021 Lò Văn M đã lén lút vào nhà Tòng Văn H tại bản K, xã MC, huyện ML để lấy trộm 01 điện thoại di động nhãn hiệu Samsung Galaxy J7 Prime, màu trắng và vàng đồng, số imei1 355228086740071, số imei2 3552291086740079, máy cũ đã qua sử dụng.
Xét lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa hoàn toàn phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, phù hợp với kết quả điều tra được chứng minh như sau: Đơn trình báo, biên bản khám nghiệm hiện trường, biên bản sự việc, vật chứng thu giữ.
Do bị cáo đã 02 lần bị kết án: Ngày 24/4/2019 bị Toà án nhân dân huyện ML xử phạt 10 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”; ngày 19/6/2020 bị Toà án nhân dân huyện ML xử phạt 12 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Bị cáo chấp hành hình phạt xong ngày 13/3/2021, được xác định chưa xóa án tích nay tiếp tục vi phạm. Do đó hành vi lén lút chiếm đoạt tài sản trị giá 800.000 đồng của bị cáo Lò Văn M đã phạm vào tội Trộm cắp tài sản, được quy định tại điểm b khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự.
Xét tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo: Bị cáo là người có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức được quyền sở hữu tài sản của công dân được pháp luật bảo vệ, nhưng do nghiện ma túy, lười lao động, hám lời bất chính nên bị cáo đã thực hiện tội phạm với lỗi cố ý. Hành vi thực hiện tội phạm của bị cáo tuy thuộc trường hợp ít nghiêm trọng nhưng đã xâm phạm đến lợi ích hợp pháp của công dân, ảnh hưởng xấu đến tình hình an ninh trật tự và an toàn xã hội ở địa phương, gây bất bình, hoang mang trong quần chúng.
Về tình tiết tăng nặng, tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân:
Về tình tiết tăng nặng: Bị cáo phạm tội không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
Về tình tiết giảm nhẹ: Hội đồng xét xử cần xem xét chấp nhận đề nghị của đại diện Viện kiểm sát và người bào chữa, áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo theo điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự, vì sau khi phạm tội bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải.
Về nhân thân: Bị cáo nghiện chất ma túy, quá trình sinh sống tại địa phương chưa chấp hành nghiêm túc quy định, chính sách pháp luật của Nhà nước, có biểu hiện tụ tập sử dụng trái phép chất ma túy, vi phạm chủ trương, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước, cũng như quy ước, hương ước tại nơi cư trú.
Về hình phạt
Về hình phạt chính: Tòa cần xem xét cân nhắc xử phạt bị cáo mức hình phạt phù hợp, tương xứng với tính chất, mức độ hành vi thực hiện tội phạm của bị cáo. Việc cách ly bị cáo một thời gian là cần thiết, có như vậy mới có thể đảm bảo được điều kiện và thời gian để bị cáo cải tạo, giáo dục trở thành người tốt có ích cho xã hội và gia đình, đồng thời nhằm răn đe phòng ngừa giáo dục chung.
Về hình phạt bổ sung: Khoản 5 Điều 173 Bộ luật Hình sự quy định “Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 500.000.000 đồng”. Xét điều kiện, hoàn cảnh của bị cáo, bị cáo có hoàn cảnh khó khăn về kinh tế, thu nhập không ổn định, tài sản không có gì giá trị lớn, bị cáo không có khả năng thi hành, Toà cần xem xét không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
Về vật chứng của vụ án:
Căn cứ khoản 2 Điều 47; Điều 48 Bộ luật hình sự; điểm b khoản 3 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự 2015: Chấp nhận việc Cơ quan điều tra đã trả lại cho người bị hại Tòng Văn H 01 điện thoại di động nhãn hiệu Samsung Galaxy J7 Prime, màu trắng và vàng đồng, số imei1 355228086740071, số imei2 3552291086740079, máy cũ đã qua sử dụng.
Về trách nhiệm dân sự: Người bị hại Tòng Văn H đã nhận lại đủ tài sản, không yêu cầu bị cáo bồi thường gì thêm. Hội đồng xét xử nhận thấy đây là ý kiến tự nguyện, không trái pháp luật, không trái đạo đức xã hội nên cần chấp nhận.
Về án phí: Tài liệu trong hồ sơ xác định bị cáo là người dân tộc thiểu số sống ở vùng kinh tế xã hội đặc biệt khó khăn. Tại phiên tòa, người bào chữa cho bị cáo xin miễn nộp tiền án phí. Theo quy định tại điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về án phí và lệ phí Toà án, bị cáo thuộc trường hợp được miễn tiền án phí.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự năm 2015:
Tuyên bố: bị cáo Lò Văn M phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
- Xử phạt bị cáo Lò Văn M 15 (mười năm) tháng tù giam về tội Trộm cắp tài sản. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo bị bắt tạm giam giữ (ngày 28/10/2021).
- Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
2. Về vật chứng vụ án: Căn cứ khoản 2 Điều 47; Điều 48 Bộ luật hình sự; điểm b khoản 3 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự 2015:
Chấp nhận việc Cơ quan điều tra đã trả lại cho người bị hại Tòng Văn H 01 điện thoại di động nhãn hiệu Samsung Galaxy J7 Prime, màu trắng và vàng đồng, số imei1 355228086740071, số imei2 3552291086740079, máy cũ đã qua sử dụng.
3. Về trách nhiệm dân sự: Căn cứ các Điều 584, 585, 589 Bộ luật Dân sự: Chấp nhận việc người bị hại Tòng Văn H không yêu cầu bị cáo Lò Văn M bồi thường gì thêm.
4. Về án phí: Căn cứ điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về án phí và lệ phí Toà án: Miễn nộp tiền án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo Lò Văn M.
Bị cáo có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm, ngày 27/01/2022. Người bị hại có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Sơn La; - VKSND huyện ML (2); - Công an huyện ML; - Bị cáo; - Người bào chữa; - Bị hại; - Trại giam CA tỉnh Sơn La; - Sở Tư pháp tỉnh Sơn La; - Chi cục THADS huyện ML; - THA hình sự; - Lưu: Hồ sơ, án văn. (Ký tên, ghi rõ họ tên) | TM.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN-CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ (Ký tên, ghi rõ họ tên, đóng dấu) Lê Thị Thu Hà THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẨM PHÁN – CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ (Ký tên, ghi rõ họ tên, đóng dấu) |