- Tranh chấp gì? án hình sự — "Phạm Văn A và đồng phạm - phạm tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác (điều 134 Luật sửa đổi, bổ sung một số…"
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự xử phạt; Điều 65 Bộ luật Hình sự xử phạt; Điều 134 Bộ luật Hình sự xử phạt
| TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH HÀ TĨNH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số:28/2022/HS-PT Ngày: 28/02/2022 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH HÀ TĨNH
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Trần Thị Thu Hiền
Các Thẩm phán: Ông Hồ Đức Quang
Bà Trịnh Thị Thiện
- Thư ký phiên toà: Bà Nguyễn Thị Thắm – Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Hà Tĩnh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hà Tĩnh tham gia phiên tòa: Ông Trần Tiến Dũng, Kiểm sát viên.
Trong ngày 28 tháng 02 năm 2022, tại Hội trường Tòa án nhân dân tỉnh Hà Tĩnh mở phiên tòa phúc thẩm công khai xét xử vụ án hình sự thụ lý số 145/2021/HSPT ngày 12 tháng 11 năm 2021 đối với bị cáo Phạm Văn A, Nguyễn Danh Q, do có kháng cáo của các bị cáo đối với bản án hình sự sơ thẩm số 64/2021/HSST ngày 30/9/2021 của Tòa án nhân dân TP. Hà Tĩnh, tỉnh Hà Tĩnh theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 139/2021/QĐXXPT-HS, ngày 18/11/2021 và thông báo mở lại phiên toà số 11/TB-TA, ngày 10/02/2022.
* Các Bị cáo kháng cáo:
- Phạm Văn A, tên gọi khác: Tâm, sinh ngày 15/02/1996 tại huyện Tiền Hải, tỉnh Thái Bình; Nơi cư trú: ngõ 152/25/52 đường Chợ Hàng, phường Dư H, quận Lê C, thành phố H; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 10/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Phạm Văn T và bà Phạm Thị N; Vợ, con: Chưa có; Tiền án, tiền sự: Không; Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 17/12/2020 đến nay, có mặt.
- Nguyễn Danh Q, sinh ngày 04/8/2000 tại huyện Thanh Chương, tỉnh Nghệ An; Nơi cư trú: Xóm 5, xã T, huyện T, tỉnh Nghệ An; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 10/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Nguyễn Danh T và bà Nguyễn Thị D; Vợ, con: Chưa có; Tiền án, tiền sự: Không; Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 17/12/2020 đến nay, có mặt.
* Những người tham gia tố tụng khác có kháng cáo hoặc liên quan đến kháng cáo:
- Bị hại: Anh Hoàng Xuân B; Sinh năm: 1999; Trú tại: Tổ dân phố 3, thị trấn T huyện T, tỉnh Hà Tĩnh; Nghề nghiệp: Lao động tự do – Vắng mặt.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Anh Nguyễn Quang P; Sinh năm 1987; Trú tại: Xóm Đ, xã T, thành phố H, tỉnh Hà Tĩnh – Vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên toà, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào khoảng 23 giờ ngày 10/11/2020, tại phòng 322 quán karaoke Kingdom thuộc xóm Tân Trung, xã T, thành phố Hà Tĩnh, tỉnh Hà Tĩnh, do mâu thuẫn trong khi uống bia nên Phạm Văn A đã dùng cốc thủy tinh đánh vào vùng trán, mặt, cổ và tay phải; Nguyễn Danh Q dùng tay đánh vào vùng mặt, vùng đầu của anh Hoàng Xuân B. Hậu quả anh Hoàng Xuân B bị thương ở vùng, trán, mặt, cổ và tay phải.
Tại Bản kết luận giám định pháp y về thương tích số 145/TgT ngày 18/11/2020 của Trung tâm pháp y và giám định y khoa thuộc Sở y tế Hà Tĩnh đối với anh Hoàng Xuân B kết luận:
- Vùng trán phía trên cung mày phải 01cm có 02 vết thương:
+ Vết phía trong kích thước 1,5cm x 0,2cm. Tỉ lệ tổn thương cơ thể là 03%.
+ Vết phía ngoài kích thước 1,2cm x 0,2cm. Tỉ lệ tổn thương cơ thể là 03%.
- Dái tai trái vết thương kích thước 01cm x 0,2cm. Tỉ lệ tổn thương cơ thể là 01%.
- Vùng góc hàm trái cách dưới dái tai trái 01cm vết thương kích thước 2,5cm x 0,2cm. Tỉ lệ tổn thương cơ thể là 02%.
- Vùng má bên trái vết thương kích thước 1,3cm x 0,1cm. Tỉ lệ tổn thương cơ thể là 03%.
- Vùng cổ trái có 02 vết thương:
+ Vết phía trên kích thước 1,3cm x 0,2 cm. Tỉ lệ tổn thương cơ thể là 02%
+ Vết phía dưới kích thước 5,5cm x 0,2cm. Tỉ lệ tổn thương cơ thể là 02%.
- Đốt 1 ngón I bàn tay phải vết thương kích thước 1,6cm x 0,2cm. Tỉ lệ tổn thương cơ thể là 01%
- Đốt 1 ngón II bàn tay phải có 02 vết thương:
+ Vết kích thước 1,5cm x 0,2cm. Tỉ lệ tổn thương cơ thể là 01%.
+ Vết kích thước 1,7cm x 0,2cm. Tỉ lệ tổn thương cơ thể là 01%.
- Đốt 1 ngón III bàn tay phải vết thương kích thước 01cm x 0,1cm. Tỉ lệ tổn thương cơ thể là 01%.
Áp dụng theo phương pháp cộng lùi. Tỷ lệ tổn thương cơ thể do thương tích gây nên hiện tại là 19%. Thương tích do vật sắc tác động trực tiếp gây nên
Tại Bản án sơ thẩm số 64/2021/HSST ngày 30/9/2021 của Tòa án nhân dân TP. Hà Tĩnh, tỉnh Hà Tĩnh tuyên bố các bị cáo Phạm Văn A và Nguyễn Danh Q phạm tội “Cố ý gây thương tích”.
Căn cứ điểm đ khoản 2 điều 134; điểm b, s khoản 1 Điều 51, Điều 17, Điều 58 Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo Phạm Văn A 24 (hai mươi tư) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bị cáo thi hành án.
Căn cứ điểm đ khoản 2 điều 134; điểm b, s khoản 1 Điều 51, Điều 17, Điều 58, Điều 54 Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo Nguyễn Danh Q 12 (mười hai) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bị cáo thi hành án.
Ngoài ra án sơ thẩm còn tuyên xử lý vật chứng, án phí và quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Ngày 01/10/2021 các bị cáo Phạm Văn A, Nguyễn Danh Q kháng cáo bản án sơ thẩm xin giảm nhẹ hình phạt, xin hưởng án treo.
Tại phiên toà phúc thẩm người kháng cáo vẫn giữa nguyên nội dung đơn kháng cáo đề nghị Hội đồng xét xử phúc thẩm xem xét giảm nhẹ hình phạt, cho bị cáo hưởng án treo.
Đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố tại phiên tòa sau khi phân tích, đánh giá các tình tiết của vụ án có ý kiến: Đề nghị Hội đồng xét xử phúc thẩm áp dụng điểm a khoản 1 Điều 355, 356 BLTTHS năm 2015 không chấp nhận kháng cáo của bị cáo, giữ nguyên bản án hình sự sơ thẩm 64/2021/HSST ngày 30/9/2021 của Tòa án nhân dân TP. Hà Tĩnh, tỉnh Hà Tĩnh.
NH N Đ NH CỦA TOÀ N:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về tố tụng: Kháng cáo của bị cáo hợp lệ nên được chấp nhận xem xét theo thủ tục phúc thẩm.
[2] Hành vi, quyết định tố tụng của của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng cấp sơ thẩm đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Qúa trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo, người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[3] Về nội dung: Lời khai nhận tội của các bị cáo tại phiên tòa phúc thẩm phù hợp với các chứng cứ, tài liệu có trong hồ sơ vụ án, có đủ cơ sở khẳng định: Vào khoảng 23 giờ ngày 10/11/2020, tại phòng 322 quán karaoke Kingdom thuộc xóm Tân Trung, xã T, thành phố Hà Tĩnh, tỉnh Hà Tĩnh; do mâu thuẫn trong khi uống bia nên Phạm Văn A đã dùng cốc thủy tinh đánh vào vùng trán, mặt, cổ và tay phải; Nguyễn Danh Q dùng tay đánh vào vùng mặt, vùng đầu của anh Hoàng Xuân B. Hậu quả anh Hoàng Xuân B bị thương ở vùng, trán, mặt, cổ và tay phải với tỉ lệ tổn thương cơ thể do thương tích gây nên hiện tại là 19%. Các bị cáo dùng hung khí nguy hiểm và phạm tội có tính chất côn đồ. Hành vi của các bị cáo đủ yếu tố cấu thành của tội “cố ý gây thương tích” . Tội danh và hình phạt được quy định tại điểm đ khoản 2 điều 134 của Bộ luật hình sự.
[3] Xét kháng cáo của các bị cáo, Hội đồng xét xử phúc thẩm thấy rằng:
Trong vụ án bị cáo Phạm Văn A là người trực tiếp sử dụng cốc thủy tinh gây thương tích chính cho anh Hoàng Xuân B nên giữ vai trò chính. Tại phiên toà phúc thẩm bị cáo xuất trình tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự mới người bị hại có đơn xin giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo, tình tiết này cấp sơ thẩm chưa có nên chưa xem xét cho bị cáo. Bị cáo tuổi đời còn trẻ, phạm tội bột phát, thiếu suy nghĩ. Do đó, cần xem xét giảm một phần hình phạt cho bị cáo, áp dụng Điều 54 xử bị cáo dưới mức thấp nhất của khung hình phạt nhằm thể hiện sự khoan hồng và tính nhân đạo của pháp luật đối với bị cáo.
Đối với bị cáo Quang có ông nội là thương binh hạnh 4/4, được tặng thưởng huân chương kháng chiến, người bị hại xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo đây là tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 2 Điều 51 BLHS mà Toà án cấp sơ thẩm chưa có nên chưa xem xét cho bị cáo. Bị cáo Nguyễn Danh Q là đồng phạm với vai trò người thực hành, giữ vai trò thứ yếu, Bị cáo tuổi đời còn trẻ, phạm tội bột phát, thiếu suy nghĩ. Bị cáo có 2 tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 1 Điều 51 BLHS, có nơi cư trú ổn định, theo hướng dẫn tại Điều 2 Nghị quyết 02/2018/NQ-HĐTP, ngày 15/5/2018 của Hội đồng Thẩm phán Toà án nhân dân tối cao, bị cáo có đủ điều kiện được hưởng án treo. Do đó, không cần thiết cách ly các bị cáo ra khỏi đời sống xã hội mà cần áp dụng Điều 65 Bộ luật hình sự, giữ nguyên mức hình phạt của bản án sơ thẩm, cho bị cáo được hưởng án treo, tạo điều kiện cho bị cáo được cải tạo, giáo dục tại địa phương, nhằm thể hiện sự khoan hồng và tính nhân đạo của pháp luật đối với bị cáo.
[4]. Về án phí: Các Bị cáo kháng cáo được chấp nhận nên không phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT Đ NH
Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 355, điểm c,e khoản khoản 1 Điều 357 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 chấp nhận một phần kháng cáo của bị cáo Phạm Văn A; chấp nhận kháng cáo của bị cáo Nguyễn Danh Q, sửa bản án hình sự sơ thẩm số 64/2021/HSST ngày 30/9/2021 của Tòa án nhân dân TP. Hà Tĩnh, tỉnh Hà Tĩnh.
Tuyên bố các bị cáo Phạm Văn A, Nguyễn Danh Q phạm tội “Cố ý gây thương tích”.
Căn cứ điểm đ khoản 2 điều 134; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 54 Điều 17, Điều 58 Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo Phạm Văn A 18 (mười tám) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bị cáo thi hành án.
Căn cứ điểm đ khoản 2 điều 134; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 17, Điều 58, Điều 54, Điều 65 Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo Nguyễn Danh Q 12 (mười hai) tháng tù, cho hưởng án treo. Thời gian thử thách 24 (hai mươi bốn) tháng kể từ ngày tuyên án phúc thẩm ngày 28/02/2022.
Giao bị cáo Nguyễn Danh Q cho UBND xã Thanh An, huyện Thanh Chương, tỉnh Nghệ An giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Gia đình bị cáo có trách nhiệm phối hợp với chính quyền địa phương trong việc giám sát, giáo dục bị cáo.
Trường hợp bị cáo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện thủ tục theo quy định tại khoản 3 Điều 92 Luật thi hành án hình sự.
2 . Về án phí: Căn cứ điều 135, 136 Bộ luật tố tụng hình sự; điểm h khoản 2 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 các bị cáo không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.
Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, không bị kháng nghị, có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị phúc thẩm.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
N i nhận:
THAY MẶT HỘI ĐỒNG XÉT XỬ
- VKSND tỉnh;
| - VKSND, TAND TP. Hà Tĩnh; - Chi cục THADS TP. Hà Tĩnh; - Công an TP. Hà Tĩnh; - PV 06 Công an tỉnh; - Sở tư pháp; - Bị cáo; - bị hại; - Người có QLNVLQ; - Lưu Văn thư; - Lưu hồ sơ vụ án. CÁC THẦM PHÁN Trịnh Thị Thiện Hồ Đức Quang | Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa Trần Thị Thu Hiền HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Trần Thị Thu Hiền |