vanban.org

Bản án 28/2022/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

1/ Về hôn nhân: Xử cho chị Phạm Thị T được ly hôn anh Phạm Ngọc D.

2/ Về con chung: Xử giao cho chị T trực tiếp nuôi dưỡng con chung Phạm Quang H, sinh ngày 09/6/2008 và giao cho anh D trực tiếp nuôi con chung Phạm Quang H, sinh ngày 04/5/2006. Hai bên không phải cấp dưỡng nuôi con cho nhau, hai bên đều có quyền thăm nom chăm sóc các con chung không ai được ngăn cả… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "cho chị Phạm Thị T ly hôn anh Phạm Ngọc D"
  • Tòa quyết gì? 1/ Về hôn nhân: Xử cho chị Phạm Thị T được ly hôn anh Phạm Ngọc D.
  • Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự Tòa án; Điều 51 Luật Hôn nhân và gia đình
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ THÁI BÌNH
TỈNH THÁI BÌNH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 28/2022/ HNGĐ-ST
Ngày 20/6/2022
V/V: Hôn nhân và gia đình.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THÁI BÌNH, TỈNH THÁI BÌNH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Mạnh.

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Hoàng Văn Đức và bà Hoàng Thị Phụng

Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Duy Long – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Thái Bình.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thái Bình, tỉnh Thái Bình tham gia phiên tòa: Bà Lương Thị Quỳnh – Kiểm sát viên.

Ngày 20 tháng 6 năm 2022, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Thái Bình, tỉnh Thái Bình,Tòa án nhân dân thành phố Thái Bình xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân gia đình thụ lý số 150/2021/TLST-HNGĐ ngày 23/12/2021 về việc: Tranh chấp về hôn nhân và gia đình theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 18 /2022/QĐXX – ST ngày 25 tháng 4 năm 2022 giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Chị Phạm Thị T – sinh năm 1981 (có mặt).

Nơi cư trú: Số nhà A, ngõ A, đường C, tổ A, phường Q, thành phố T, tỉnh Thái Bình.

Bị đơn: Anh Phạm Ngọc D – sinh năm 1975(vắng mặt).

Nơi cư trú: Số nhà A, ngõ A, đường C, tổ A, phường Q, thành phố T, tỉnh Thái Bình.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo đơn khởi kiện, bản tự khai và trình bày của chị T: Chị T kết hôn với anh D do tự nguyện kết hôn, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã B, huyện H, tỉnh Thái Bình ngày 15/01/2005. Sau khi kết hôn vợ chồng chung sống hòa thuận đến năm 2016 thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân do kinh tế gia đình sa sút do anh D làm ăn thua lỗ và chơi bời cờ bạc gây ra, đến nay nợ nần chồng chất chủ nợ đến nhà đòi nợ thường xuyên nên cuộc sống của gia đình căng thẳng lo sợ. Bản thân chị T và gia đình hai bên đã trả nợ rất nhiều nhưng anh D không thay đổi. Vợ chồng xảy ra cãi đánh nhau nhiều lần, có lần anh D đổ xăng đe dọa đốt chị T.Vợ chồng đã nhiều lần tự giải quyết mâu thuẫn với nhau nhưng không đạt kết quả. Chị T đã có đơn ly hôn nhưng được Tòa án hòa giải nên chị đã rút đơn nhưng đến nay chị không thể tiếp tục chung sống với anh D nữa nên chị tiếp tục đề nghị ly hôn.

- Anh D trình bày: Anh D thừa nhận vợ chồng chung sống có đăng ký kết hôn như chị T trình bày là đúng. Sau khi kết hôn, vợ chồng chung sống hòa thuận khoảng 16 năm thì xảy ra mâu thuẫn. Nguyên nhân do anh D có làm ăn và chơi bời nên dẫn đến thua lỗ kinh tế gia đình sa sút bất ổn. Sau khi sự việc xảy ra anh D đã cố gắng làm ăn để khôi phục kinh tế gia đình, nay chị T đề nghị ly hôn anh D xác định tình cảm vợ chồng vẫn còn, mâu thuẫn có thể giải quyết nên không đồng ý ly hôn.

2. Về con chung: Vợ chồng đều trình bày: Vợ chồng có 02 con chung là Phạm Quang H, sinh ngày 04/5/2006 và Phạm Quang H, sinh ngày 09/6/2008.

Quan điểm của chị T xin được nuôi cả hai con chung và không yêu cầu anh D cấp dưỡng nuôi con. Quan điểm của anh D đề nghị giao cả hai con chung cho anh D nuôi và không yêu cầu chị T cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung: Vợ chồng đều không đề nghị Tòa án giải quyết chia tài sản.

Quan điểm của đại diện Viện kiểm sát

+ Về tố tụng: Thẩm phán đã thực hiện đầy đủ các trình tự thủ tục tố tụng, xác định đầy đủ, đúng các nội dung quy định tại Điều 203 BLTTDS vì vậy vụ án được đưa ra xét xử là đảm bảo đúng quy định.

+ Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ vào các Điều 51, 56, 81, 82, 83, 84 Luật hôn nhân và gia đình:

- Về hôn nhân: Xét thấy vợ chồng có xảy ra mâu thuẫn trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được. Đề nghị Tòa án xử cho chị T được ly hôn với anh D

- Về nuôi con: Giao cho chị T trực tiếp nuôi con chung Phạm Quang H, sinh ngày 09/6/2008 và giao cho anh D trực tiếp nuôi con chung Phạm Quang H, sinh ngày 04/5/2006. hai bên không phải cấp dưỡng nuôi con cho nhau.

-Về chia tài sản: Không đặt ra giải quyết.

Về án phí: Các đương sự phải chịu theo quy định pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa Hội đồng xét xử nhận định:

Về tố tụng: Anh D đã được triệu tập hợp lệ lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt không có lý do chính đáng. Vì vậy căn cứ các điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự Tòa án vẫn tiến hành xét xử vụ án theo thủ tục chung.

Về hôn nhân: Chị T kết hôn với anh D do tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã B, huyện H, tỉnh Thái Bình ngày 15/01/2005 là hôn nhân hợp pháp. Quá trình chung sống vợ chồng có xảy ra mâu thuẫn. Nguyên nhân do anh D chơi bời, làm ăn thua lỗ nợ nần nhiều nên dẫn đến mâu thuẫn về tình cảm. Tháng 12 năm 2020 chị T đã có đơn ly hôn đã được Tòa án hòa giải chị T đã rút đơn. Bản thân chị T và gia đình hai bên đã trả nợ rất nhiều nhưng anh D không thay đổi, nợ vẫn nhiều lên. Vợ chồng có xảy ra đánh cãi nhau nhiều lần, có lần anh D đổ xăng đe dọa định đốt chị T. Nay chị T tiếp tục có đơn đề nghị ly hôn Tòa án đã phân tích, động viên hòa giải nhiều lần nhưng chị T kiên quyết ly hôn. Xét thấy vợ chồng mâu thuẫn trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được nên xử cho chị T được ly hôn anh D.

Về con chung: Xét thấy điều kiện nuôi con của chị T và anh D nên giao cho mỗi người nuôi một con là phù hợp. Hai bên không phải cấp dưỡng nuôi con cho nhau, hai bên đều có quyền thăm nom chăm sóc các con chung không ai được ngăn cản. Chị T, anh D đều có quyền đề nghị thay đổi nuôi con và cấp dưỡng nuôi con theo quy định pháp luật.

Về tài sản: Chị T và anh D đều không đề nghị Tòa án giải quyết chia tài sản.

Về án phí : Chị T phải chịu án phí theo quy định pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ Điều 51; 56; 59; 81;82; 83 và 84 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014.

Căn cứ điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự. Nghị Quyết 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016.

1/ Về hôn nhân: Xử cho chị Phạm Thị T được ly hôn anh Phạm Ngọc D.

2/ Về con chung: Xử giao cho chị T trực tiếp nuôi dưỡng con chung Phạm Quang H, sinh ngày 09/6/2008 và giao cho anh D trực tiếp nuôi con chung Phạm Quang H, sinh ngày 04/5/2006. Hai bên không phải cấp dưỡng nuôi con cho nhau, hai bên đều có quyền thăm nom chăm sóc các con chung không ai được ngăn cản. Chị T, anh D đều có quyền đề nghị thay đổi nuôi con và cấp dưỡng nuôi con theo quy định pháp luật.

3/ Về tài sản chung: Không giải quyết.

4/ Về án phí: Chị T phải chịu: 300.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm về ly hôn; Chuyển số tiền 300.000 đồng đã nộp tạm ứng án phí tại biên lai số 0000450 ngày 22/12/2021 của Chi cục thi hành án dân sự thành phố Thái Bình thành án phí dân sự sơ thẩm.

5/Về quyền kháng cáo: Các đương sự có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày. Đối với người có mặt kể từ ngày tuyên án 20/6/2022. Đối với người vắng mặt kể từ ngày tống đạt hợp lệ bản án.

Cỡ chữ