- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Ly hôn"
- Tòa quyết gì? Xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện ly hôn của chị Đoàn Thị L đối với anh La Bửu Quốc Tr.
- Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TỊNH BIÊN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| TỈNH AN GIANG Bản án số: 28/2022/HNGĐ-ST Ngày: 14 – 4 - 2022 “V/v tranh chấp hôn nhân và gia đình, ly hôn ” |
NHÂN DANH
NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TỊNH BIÊN TỈNH AN GIANG
Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Mai Văn Khánh.
Hội thẩm nhân dân:
- Ông Nguyễn Thế Phương.
- Ông Nguyễn Thanh Thuần.
Thư ký phiên tòa: Ông Đặng Văn Tâm - Thư ký tòa án nhân dân huyện Tịnh Biên.
Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân huyện Tịnh Biên tham gia phiên toà: Bà Nèang Sa Men – Kiểm sát viên.
Ngày 14 tháng 4 năm 2022 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Tịnh Biên, xét xử sơ thẩm công khai vụ án tranh chấp hôn nhân gia đình thụ lý số: 22/2021/TLST-HNGĐ ngày 19 tháng 01 năm 2021 về việc “ Tranh chấp hôn nhân gia đình, ly hôn ” theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 42/2021/QĐST-HNGĐ ngày 03 tháng 3 năm 2022 và quyết định hoãn phiên tòa số: 12/2022/QĐST-HNGĐ ngày 17/3/2022 giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Chị Đoàn Thị L, sinh năm 1991;
Địa chỉ: Ấp B, xã Nh, huyện An Phú, tỉnh An Giang.
Bị đơn: Anh La Bửu Quốc Tr, sinh năm 1990;
Địa chỉ: Khóm Th, thị trấn N, huyện Tịnh Biên, tỉnh An Giang.
( Chị L có đơn xin xét xử vắng mặt, anh Tr vắng mặt lần 2 không lý do).
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo đơn xin ly hôn ngày 27 tháng 10 năm 2020 và lời khai tại Tòa án, chị Đoàn Thị L trình bày:
Chị và anh La Bửu Quốc Tr quen biết, do tự tìm hiểu và được sự đồng ý của hai bên gia đình tổ chức lễ cưới năm 2011 và đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân thị trấn N, huyện Tịnh Biên, An Giang vào ngày 24/11/2021. Thời gian đầu cuộc sống vợ chồng sống hạnh phúc và chỉ được trong khoảng thời gian ngắn, chị và anh Tr xảy ra nhiều mâu thuẫn và bất đồng trong quan điểm sống, thường xuyên cải vã, tình cảm vợ chồng ngày càng rạn nứt khoảng tháng 4/2019 chị và anhTr sống ly thân cho đến nay. Trong thời gian sống ly thân, chị và anh Tr không có gặp nhau nói chuyện hàn gắn vợ chồng. Nay tình cảm vợ chồng không còn, chị yêu cầu ly hôn với anh La Bửu Quốc Tr.
Về con chung: Chị và anh La Bửu Quốc Tr có 01 con chung tên La Bửu Quốc Thịnh, sinh ngày 27/4/2012 hiện anh Tr đang nuôi dạy, khi ly hôn chị đồng ý giao cháu Thịnh cho anh Tr tiếp tục nuôi con, chị L không cấp dưỡng nuôi con.
Về tài sản chung, nợ chung: Chị và anh Tr không có tài sản chung và nợ chung.
Bị đơn anh La Bửu Quốc Tr: Anh Tr đã được Tòa án tống đạt hợp lệ thông báo thụ lý vụ án nhưng vẫn không gửi văn bản nêu ý kiến của mình đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Tòa án triệu tập anh Tr đến tham dự phiên họp, kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận công khai chứng cứ và hoà giải đến lần thứ hai và triệu tập đến tham dự phiên tòa đến lần thứ hai nhưng anh Tr vắng mặt không lý do.
Tại phiên Toà Kiểm sát viên phát biểu về việc tuân theo pháp luật, quan điểm giải quyết vụ án:
Về tố tụng: Thẩm phán, Hội đồng xét xử, thư ký về việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng:
- Thẩm phán: Được phân công thụ lý giải quyết vụ án đã thực hiện đúng thẩm quyền, xác định đúng quan hệ tranh chấp, tổ chức hòa giải, thu thập chứng cứ đúng theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015. Tuy nhiên Thẩm phán để án trễ hạn xét xử theo khoản 1 Điều 203 Bộ luật Tố tụng dân sự.
- Hội đồng xét xử, thư ký phiên tòa: Hội đồng xét xử tiến hành phiên tòa sơ thẩm đúng trình tự thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự về việc xét xử; thư ký ghi biên bản phiên tòa đúng chức năng nhiệm vụ.
- Người tham gia tố tụng: Nguyên đơn thực hiện đúng các quyền và nghĩa vụ của mình, bị đơn chấp hành chưa đảm bảo theo quy định của pháp luật.
Về nội dung: Căn cứ hồ sơ vụ án, các tài liệu chứng cứ đã được Hội đồng xét xử xem xét và tại phiên tòa, nhận thấy yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là có cơ sở chấp nhận.
Ý kiến về việc giải quyết vụ án:
+ Về hôn nhân: Đề nghị chấp nhận cho chị L được ly hôn với anh Tr
+ Về con chung: Anh Tr được tiếp tục nuôi dạy cháu La Bửu Quốc Th, sinh ngày 27/4/2012; chị L không phải cấp dưỡng nuôi con.
+ Về tài sản chung, nợ chung: Các đương sự không yêu cầu, nên không xem xét giải quyết.
+ Về án phí: Chị L khởi kiện xin ly hôn nên phải chịu án phí theo theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã thẩm tra tại phiên Tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về tố tụng: Anh Tr là bị đơn, hộ khẩu thường trú: Khóm H, thị trấn N, huyện Tịnh Biên, An Giang. Căn cứ vào các Điều 28, 35 và khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, Toà án nhân dân huyện Tịnh Biên thụ lý và giải quyết là đúng thẩm quyền.
Về việc vắng mặt của các đương sự: Chị Đoàn Thị L có đơn yêu cầu xét xử vắng mặt; nên Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt theo quy định tại khoản 1 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.
Tòa án tống đạt hợp lệ cho anh Tr quyết định đưa vụ án ra xét xử, quyết định hoãn phiên Tòa lần thứ nhất và giấy triệu tập tham gia phiên tòa cho bị đơn anh Tr. Tại phiên tòa hôm nay, bị đơn anh Tr vắng mặt lần thứ hai không có lý do. Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn theo khoản 2 Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.
Về nội dung: Chị Đoàn Thị L cho rằng khoảng năm 2014 chị và anh Việt được hai gia đình tổ chức lễ cưới, sau đó đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân thị trấn Nhà Bàng, huyện Tịnh Biên, An Giang; theo giấy chứng nhận kết hôn số: 139/2011 ngày 24/11/2011. Tại thời điểm kết hôn chị L và anh Tr đã đủ độ tuổi và có đăng ký kết hôn tại cơ quan Nhà nước có thẩm quyền, do vậy đây là hôn nhân hợp pháp theo qui định tại Điều 8 và 9 Luật Hôn nhân gia đình năm 2014.
Theo chị L cho rằng cuộc sống vợ chồng thời gian đầu hạnh phúc, khoảng tháng 4/2019 thì chị và anh Tr phát sinh mâu thuẫn và sống ly thân cho đến nay. Trong quá trình giải quyết cũng như trong hòa giải, công bố chứng cứ tòa án cũng đã phân tích hậu quả của việc ly hôn, tuy nhiên chị L cương quyết giữ nguyên yêu cầu là xin ly hôn với anh Tr, chứng tỏ mâu thuẫn vợ chồng ngày càng trở nên trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt, nếu tiếp tục duy trì cuộc hôn nhân thì cũng không đem lại hạnh phúc, nên Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của chị L được lý hôn với anh Tr là phù hợp với quy định tại Điều 51, 56 Luật hôn nhân gia đình năm 2014.
Về con chung:
Chị L và anh Tr có 01 con chung tên La Bửu Quốc Thịnh, sinh ngày 27/4/2012 hiện anh Tr đang nuôi dạy, khi ly hôn chị L cũng thống nhất giao cháu Thịnh cho anh Tr tiếp tục nuôi con, cũng phù họp với nguyện vọng của cháu Thịnh, để đảm bảo tâm sinh lý và cuộc sống bình nên giao cháu Thịnh cho anh Tr được tiếp tục nuôi dạy là phù hợp với các Điều 81, 82, 83 và 84 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014. Anh Tr không yêu cầu chị L cấp dưỡng nuôi con nên Hội đồng xét xử không đặt ra xemt xét.
Không ai được ngăn cản quyền gặp gỡ và chăm sóc con chung.
Về tài sản chung: Chị L và anh Tr không có nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.
Nợ chung: Chị L và anh Tr không có nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.
Về án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm: Chị L khởi kiện xin ly hôn nên phải chịu án phí theo theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ vào các Điều 51, 56, 57 Điều 81, 82, 83, 84 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014;
Điều 28, Điều 35, Điều 147, khoản 2 Điều 227, khoản 1 Điều 228 và Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự 2015, Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường Vụ Quốc Hội.
Xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện ly hôn của chị Đoàn Thị L đối với anh La Bửu Quốc Tr.
1. Về quan hệ hôn nhân: Chị Đoàn Thị L được ly hôn với anh La Bửu Quốc Tr.
2. Về con chung: Anh Tr được trực tiếp nuôi con tên La Bửu Quốc Th, sinh ngày 27/4/2012; chị L không phải cấp dưỡng nuôi con.
Chị L có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung mà không ai được cản trở. Trên cơ sở lợi ích của con, theo yêu cầu của cha, mẹ hoặc cá nhân, tổ chức có quyền yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con thì Tòa án có thể quyết định việc thay đổi người trực tiếp nuôi con.
3. Về án phí: Chị L chịu 300.000 đồng (ba trăm ngàn đồng) tiền án phí hôn nhân, gia đình sơ thẩm, nhưng được khấu trừ vào số tiền 300.000 đồng (ba trăm ngàn đồng) tiền tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm đã nộp theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí tòa án số: TU/2019/0006266 ngày 18/01/2021 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Tịnh Biên.
Giấy chứng nhận kết hôn số: Giấy chứng nhận kết hôn số: 139/2011 ngày 24/11/2011 của Ủy ban nhân dân thị trấn Nhà Bàng, huyện Tịnh Biên, An Giang; không còn giá trị pháp lý.
4. Quyền kháng cáo: Các đương sự có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, đương sự vắng mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày được nhận bản án hoặc niêm yết.
| Nơi nhận: -TAND tỉnh An Giang; Thẩm phán - VKS.ND huyện Tịnh Biên; - THA.DS huyện Tịnh Biên; - Các đương sự; - Lưu hồ sơ vụ án; | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa Mai Văn Khánh |