vanban.org

Bản án 28/2022/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Hoàng Thị N.

Về quan hệ hôn nhân: Xử ly hôn giữa chị Hoàng Thị N và anh Nông Văn B. Về nuôi con: Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Hôn nhân gia đình"
  • Tòa quyết gì? Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Hoàng Thị N.
  • Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 195 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 220 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN CHƢ PR
TỈNH GIA LAI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 28/2022/HNGĐ- ST
Ngày 10/10/2022
V/v:“Ly hôn, tranh chấp về
nuôi con ”

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHƢ PR, TỈNH GIA LAI

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Lê Khả T.

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Trƣơng Công C;

2. Ông Nguyễn Ngọc B.

- Thư ký phiên tòa: Bà Vũ Thị Thùy N- Thư ký Tòa án của Tòa án nhân dân huyện Chƣ Pr, tỉnh Gia Lai.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Chư Pr, tỉnh Gia Lai tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Sỹ K– Kiểm sát viên.

Ngày 30 tháng 9 năm 2021, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Chƣ Pr, tỉnh Gia Lai xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự, thụ lý số: 136/2022/TLST-HNGĐ ngày 30 tháng 5 năm 2022, về việc: “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con”. theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 46/2022/QĐXXST- HNGĐ, ngày 05/9/2022 và quyết định hoãn phiên tòa số 40/2022/QĐST- HNGĐ, ngày 23/9/2022 giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Chị Hoàng Thị N, sinh năm 1998 Địa chỉ: Thôn Pác Bó, xã Ia Lâu, huyện Chƣ Pr, tỉnh Gia Lai. (Có đơn xin xét xử vắng mặt).

Bị đơn: Anh Nông Văn B, sinh năm 1993 Địa chỉ: Thôn Pác Bó, xã Ia Lâu, huyện Chƣ Pr, tỉnh Gia Lai. (Vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện ngày 26/5/2022 bản tự khai, biên bản lấy lời khai, biên bản tiếp cận công khai chứng cứ, nguyên đơn chị Hoàng Thị N trình bày: Chị và anh Nông Văn B tự nguyện tìm hiểu và đi đến hôn nhân có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Ia Lâu, huyện Chƣ Pr, tỉnh Gia Lai, ngày 12 tháng 4 năm 2016, bước đầu sống chung hạnh phúc. Quá trình chung sống phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân do anh Bằng và chị bất đồng quan điểm sống, anh Bằng thường xuyên tụ tập bạn bè ăn nhậu không lo làm ăn, ngoài ra anh Bằng còn chơi bời cờ bạc, số đề dẫn đến nợ nần, hiện tại anh Bằng và chị đã sống ly thân. Nay xét thấy tình cảm vợ chồng không còn nên đề nghị Tòa án cho chị được ly hôn; Về con chung: Chị và anh Bằng có 01 (một) con chung tên là Nông Khánh Huy, sinh ngày 01/11/2014, hiện tại con đang được anh Nông Văn B trực tiếp nuôi dưỡng; Về tài sản chung và thanh toán nghĩa vụ chung: Chị Huỳnh Thị Bích Phượng không yêu cầu Tòa án giải quyết.

- Tại bản tự khai (bút lục số 29) ngày 21/6/2022 và biên bản lấy lời khai (bút lục 32, 33) ngày 21/6/2022 anh Nông Văn B trình bày: Anh và chị Hoàng Thị N đăng ký kết hôn hợp pháp tại Ủy ban nhân dân xã Ia Lâu, huyện Chƣ Pr, tỉnh Gia Lai, ngày 12 tháng 4 năm 2016. Trong quá trình chung sống vợ chồng thường xuyên bất đồng quan điểm, anh thừa nhận anh có sai do ghen tuông vô cớ và có lời lẽ xúc phạm chị Ngọc, do buồn chán anh thường xuyên uống rượu và chơi bời cờ bạc, nên chị Ngọc bỏ đi sống ly thân với anh từ tháng 02/2022 cho đến nay. Nay chị Ngọc làm đơn ly hôn anh không đồng ý; Về con chung: Anh và chị Hoàng Thị N có 01 (một) con chung tên là Nông Khánh Huy, sinh ngày 01/11/2014 hiện cháu Huy đang được anh nuôi dưỡng trực tiếp, nguyện vọng mong muốn được nuôi con chung cháu Nông Khánh Huy, sinh ngày 01/11/2014 và không yêu cầu chị Ngọc phải cấp dưỡng tiền nuôi con chung hàng tháng; Về tài sản chung và thanh toán nghĩa vụ chung: Anh Nông Văn B không yêu cầu Tòa án giải quyết. Tuy nhiên bị đơn anh Nông Văn B đã được Tòa án tống đạt hợp lệ thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận công khai chứng cứ và hòa giải, quyết định đưa vụ án ra xét xử số 46/2022/QĐXXST- HNGĐ, ngày 05/9/2022 và quyết định hoãn phiên tòa số 40/2022/QĐST- HNGĐ, ngày 23/9/2022. Nhưng anh Bằng đều vắng mặt không có lý do.

- Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân huyện Chư Pr tham gia phiên tòa – ông Nguyễn Sỹ K có ý kiến phát biểu như sau:

- Về việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán và Hội đồng xét xử:

+ Việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán: Qua kiểm sát việc giải quyết vụ án từ khi thụ lý vụ án đến thời điểm xét xử thấy rằng Thẩm phán đã đảm bảo thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ của các đương sự, chấp hành đúng quy định tại Điều 48 Bộ luật tố tụng dân sự trong quá trình giải quyết vụ án.

+ Việc tuân theo pháp luật của Hội đồng xét xử: Tại phiên tòa, Hội đồng xét xử đã thực hiện đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự về phiên tòa sơ thẩm.

+ Thành phần Hội đồng xét xử: Các thành viên Hội đồng xét xử và Thư ký phiên tòa đều có mặt đầy đủ theo đúng thành phần được triệu tập, không có sự thay đổi thành phần của Hội đồng xét xử.

- Về việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng:

+ Đối với các đương sự:

Nguyên đơn: Từ khi thụ lý vụ án cũng như tại phiên tòa, nguyên đơn đã thực hiện đúng các quy định tại Điều 70, Điều 71 của Bộ luật tố tụng dân sự.

Bị đơn: Bị đơn không thực hiện đúng các quyền và nghĩa vụ được quy định tại Điều 70, Điều 72 của Bộ luật tố tụng dân sự.

- Thẩm phán chủ tọa phiên tòa đã thực hiện đầy đủ các nội dung được quy định tại Bộ luật tố tụng dân sự về nội quy phiên tòa.

Về nội dung vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử, xử: Chấp nhận đơn khởi kiện của chị Hoàng Thị N và xử ly hôn giữa chị Hoàng Thị N và anh Nông Văn B. Về con, đề nghị Hội đồng xét giao 01 (một) con chung tên là Nông Khánh Huy, sinh ngày 01/11/2014 (như nguyện vọng của con) cho anh Bằng tiếp tục trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng; Về tài sản chung và thanh toán nghĩa vụ chung các đương sự không yêu cầu nên không xem xét giải quyết. Về án phí, nguyên đơn là chị Hoàng Thị N phải chịu án phí sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

Về tố tụng: Chị Hoàng Thị N khởi kiện yêu cầu Toà án nhân dân huyện Chƣ Pr, tỉnh Gia Lai giải quyết cho ly hôn với anh Nông Văn B, đây là vụ án tranh chấp về ly hôn. Anh Nông Văn B có nơi cư trú tại Thôn Pác Bó, xã Ia Lâu, huyện Chƣ Pr, tỉnh Gia Lai, căn cứ quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Toà án nhân dân huyện Chƣ Pr, tỉnh Gia Lai.Tòa án đã quyết định đưa vụ án ra xét xử và tiến hành tống đạt quyết định đưa vụ án ra xét xử và giấy triệu tập hợp lệ cho anh Bằng lần thứ nhất nhưng anh Bằng vắng mặt không có lý do. Tòa án có quyết định hoãn phiên Tòa và tiến hành triệu tập hợp lệ anh Bằng lần thứ hai, nhưng anh Bằng vắng mặt không có lý do nên Toà án xét xử vắng mặt anh Bằng là phù hợp với điểm b, khoản 2 Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự.

Về quan hệ hôn nhân: Hội đồng xét xử nhận thấy giữa chị Hoàng Thị N và anh Nông Văn B có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Ia Lâu, huyện Chƣ Pr, tỉnh Gia Lai, ngày 12 tháng 4 năm 2016 là hoàn toàn tự nguyện, đúng pháp luật, không bị lừa dối, ép buộc, không vi phạm điều kiện kết hôn nên đây là hôn nhân hợp pháp.

Xét yêu cầu ly hôn của chị Hoàng Thị N Hội đồng xét xử thấy rằng: Giữa chị Hoàng Thị N và anh Nông Văn B có sảy ra mâu thuẫn, bất đồng quan điểm, anh Bằng có thường xuyên ghen tuông và xúc phạm chị Ngọc, hiện tại giữa chị Hoàng Thị N và anh Nông Văn B đã sống ly thân từ tháng 03/2022 cho đến nay, nhận thấy anh Bằng không có ý chí để hàn gắn và hòa giải, đồng thời thôn trưởng là ông Hoàng Văn Cầu xác nhận giữa chị Hoàng Thị N và anh Nông Văn B mâu thuẫn đã trầm trọng, nên chị Ngọc xin ly hôn là có căn cứ, do vậy, căn cứ khoản 1 Điều 51 và khoản 1 Điều 56 của Luật hôn nhân và gia đình, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện xin ly hôn của chị Hoàng Thị N là phù hợp.

Về con chung: Trong quá trình chung sống chị Hoàng Thị N và anh Nông Văn B có 01 (một) con chung tên là Nông Khánh Huy, sinh ngày 01/11/2014, từ khi sống ly thân với chị Ngọc cho đến nay cháu Huy được anh Bằng nuôi dưỡng trực tiếp, nhận thấy cháu Huy khỏe mạnh, có cuộc sống được đảm bảo tốt, tại biên bản ghi ý kiến con chưa thành niên ngày 25 tháng 7 năm 2022 (bút lục số 46) cháu Nông Khánh Huy có nguyện vọng được ở với bố là anh Nông Văn B, xét nguyện vọng của con chung là hoàn toàn tự nguyện và chính đáng và anh Bằng cũng có nguyện vọng tha thiết được nuôi con chung là cháu Nông Khánh Huy, vậy nên giao cháu Nông Khánh Huy cho anh Nông Văn B tiếp tục chăm sóc nuôi dưỡng là phù hợp, căn cứ vào Điều 81 Luật hôn nhân và gia đình giao cho anh Nông Văn B được trực tiếp chăm sóc giáo dục nuôi dưỡng con chung là cháu Nông Khánh Huy, sinh ngày 01/11/2014 (như nguyện vọng của con) đến tuổi thành niên hoặc đã thành niên bị tàn tật mất năng lực hành vi dân sự không có khả năng lao động và không có tài sản để tự nuôi mình là phù hợp.

Chị Hoàng Thị N có quyền và nghĩa vụ đi lại thăm nom, chăm sóc con chung, không ai được cản trở việc thực hiện quyền này.

Vì lợi ích của con, theo yêu cầu của các đương sự hoặc của các cá nhân, tổ chức theo quy định tại khoản 5, Điều 84 Luật hôn nhân và gia đình, Tòa án có thể quyết định thay đổi người trực tiếp nuôi con.

Về việc cấp dưỡng tiền nuôi con anh Bằng không yêu cầu nên Tòa án không đặt vấn đề giải quyết.

Về tài sản chung và thanh toán nghĩa vụ chung: Trong quá trình giải quyết vụ án cũng như tại phiên tòa, các đương sự không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Tòa án không đặt vấn đề giải quyết.

Về án phí dân sự sơ thẩm: Căn cứ khoản 4 Điều 147 của Bộ luật tố tụng dân sự, nguyên đơn là chị Hoàng Thị N phải chịu án phí dân sự sơ thẩm trong việc giải quyết tranh chấp về hôn nhân và gia đình theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; Khoản 4 Điều 147; Điều 195; Điều 220; Điều 227; khoản 1 Điều 228; Điều 266 và Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự.

Áp dụng khoản 1 Điều 51; khoản 1 Điều 56; Điều 57; Điều 81, Điều 82, Điều 83 và Điều 84 của Luật hôn nhân và gia đình.

Căn cứ điểm a khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Hoàng Thị N.

Xử:

1. Về quan hệ hôn nhân: Xử ly hôn giữa chị Hoàng Thị N và anh Nông Văn B.

2.Về nuôi con:

Giao 01 (một) con chung tên là Nông Khánh Huy, sinh ngày 01/11/2014 (như nguyện vọng của con) cho anh Nông Văn B được quyền tiếp tục chăm sóc, giáo dục và nuôi dưỡng đến khi con chung thành niên hoặc đã thành niên nhưng bị tàn tật mất năng lực hành vi dân sự, không có có khả năng lao động và không có tài sản để tự nuôi mình.

Vì lợi ích của con, theo yêu cầu của các đương sự hoặc của cá nhân, cơ quan, tổ chức theo quy định tại khoản 5 Điều 84 của Luật hôn nhân và gia đình, Toà án có thể quyết định việc thay đổi người trực tiếp nuôi con.

Người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở. Người trực tiếp nuôi con cùng các thành viên gia đình không được cản trở người không trực tiếp nuôi con trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con.

Trong trường hợp người không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Toà án hạn chế quyền thăm nom con của người đó.

3.Về cấp dưỡng nuôi con chung: Anh Nông Văn B không có yêu cầu nên Tòa án không đặt vấn đề giải quyết.

4.Về tài sản chung và các khoản nợ chung: Chị Hoàng Thị N không yêu cầu nên Tòa án không đặt vấn đề giải quyết.

5. Về án phí sơ thẩm: Nguyên đơn chị Hoàng Thị N phải chịu 300.000đ (ba trăm nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm nhưng được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000đ (ba trăm nghìn đồng) theo biên lai thu tiền số 0004604, ngày 30 tháng 5 năm 2022 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Chƣ Pr, tỉnh Gia Lai. Chị Hoàng Thị N đã nộp đủ án phí sơ thẩm.

6. Quyền kháng cáo: Các đương sự có quyền kháng cáo lên Tòa án nhân dân tỉnh Gia Lai để yêu cầu xét xử phúc thẩm trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận bản án hoặc niêm yết bản án.

Người được thi hành án dân sự và người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Cỡ chữ