- Tranh chấp gì? án hành chính — "Nguyễn Thị Xuân H - UBND huyện Hàm Thuận Nam"
- Tòa quyết gì? ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội; Tuyên xử: 1.
- Căn cứ chính? Điều 193 Luật tố tụng hành chính; Điều 16 Luật Đất đai; Điều 173 Luật tố tụng hành chính
| TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÌNH THUẬN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 28/2022/HC-ST Ngày: 24-5-2022 V/v khiếu kiện quyết định hành chính, hành vi hành chính trong lĩnh vực quản lý đất đai. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA N NH N D N TỈNH BÌNH THUẬN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Hồng Thái
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Đoàn Văn Tám
Ông Trần Tiến Thành
- Thư ký phiên tòa: Bà Ngô Thị Xuân Vi là Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Bình Thuận.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân t nh B nh Thu n tham gia phiên tòa: Ông Phạm Xảnh - Kiểm sát viên.
Trong các ngày 06 và 24 tháng 5 năm 2022, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Bình Thuận x t xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 159/2020/TLST-HC ngày 26 tháng 11 năm 2020, về việc:“ Khiếu kiện quyết định hành chính, hành vi hành chính trong lĩnh vực quản lý đất đai” theo Quyết định đưa vụ án ra x t xử số 03/2022/QĐXXST-HC ngày 21 tháng 02 năm 2022, Thông báo số 37/TB-TA ngày 11 tháng 3 năm 2022, Quyết định hoãn phiên tòa số 12/2022/QĐST-HC ngày 08 tháng 4 năm 2022 và Quyết định tạm ngừng phiên tòa số 04/2022/QĐST-HC ngày 06 tháng 5 năm 2022, giữa các đương sự:
- Người khởi kiện: Bà Nguyễn Thị Xuân H, sinh năm 1973 (có mặt)
Địa chỉ: Khu phố NT, thị trấn TN, huyện Hàm Thuận Nam, tỉnh Bình Thuận.
Người đại diện hợp pháp: Ông Nguyễn Văn M, sinh năm 1962; Địa chỉ: Số … VVD, khu phố B, phường TH, thành phố Phan Thiết, tỉnh Bình Thuận; là người đại diện theo ủy quyền (Văn bản ủy quyền ngày 12/10/2020), có mặt.
- Người bị kiện:
1. Ủy ban nhân dân huyện Hàm Thuận Nam
2. Chủ tịch Uỷ ban nhân dân huyện Hàm Thuận Nam
Người đại diện hợp pháp của Ủy ban nhân dân huyện Hàm Thuận Nam và Chủ tịch Uỷ ban nhân dân huyện Hàm Thuận Nam: Ông Nguyễn Văn P – Phó Chủ tịch; là người đại diện theo ủy quyền (Văn bản ủy quyền ngày 23/4/2021), vắng mặt ngày 06/5/2022, có mặt ngày 24/5/2022. Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của Ủy ban nhân dân huyện Hàm Thuận Nam và Chủ tịch Uỷ ban nhân dân huyện Hàm Thuận Nam: Ông Võ Thúc S – Phó Trưởng phòng Phòng Tài nguyên và Môi trường huyện Hàm Thuận Nam.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: 1. Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai Hàm Thuận Nam Người đại diện hợp pháp: Ông Trần Hữu T – Phó giám đốc; là người đại diện theo ủy quyền (Văn bản ủy quyền ngày 13/4/2021), có mặt. 2. Trung tâm phát triển quỹ đất huyện Hàm Thuận Nam Người đại diện hợp pháp: Bà Trịnh Thị Thúy V – Phó giám đốc; là người đại diện theo ủy quyền (Văn bản ủy quyền ngày 26/4/2021), có mặt. 3. Phòng Tài nguyên và Môi trường huyện Hàm Thuận Nam Người đại diện hợp pháp: Ông Võ Thúc S – Phó Trưởng phòng; là người đại diện theo ủy quyền (Văn bản ủy quyền ngày 11/5/2021), có mặt. 4. Ủy ban nhân dân xã Hàm Cường Người đại diện hợp pháp: Ông Lê Văn T – Phó Chủ tịch, là người đại diện theo ủy quyền (Văn bản ủy quyền số 02/UQ-UBND ngày 05/4/2022), có mặt. 5. Thanh tra tỉnh Bình Thuận Người đại diện hợp pháp: Bà Hoàng Thị H – Phó phòng Thanh tra, giải quyết khiếu nại, tố cáo 2; là người đại diện theo ủy quyền (Văn bản ủy quyền số 1574/TTBT-PNV2), có mặt. 6. Ông Trần Ngọc T, sinh năm 1972 (vắng mặt) Địa chỉ: Khu phố NT, thị trấn TN, huyện Hàm Thuận Nam, tỉnh Bình Thuận. Người đại diện hợp pháp: Ông Nguyễn Văn M, sinh năm 1962; Địa chỉ: Số … VVD, khu phố B, phường TH, thành phố Phan Thiết, tỉnh Bình Thuận; là người đại diện theo ủy quyền (Văn bản ủy quyền ngày 12/10/2020), có mặt. 7. Ông Nguyễn Hữu T, sinh năm 1964 (có đơn xin giải quyết vắng mặt ngày 13/5/2021) Địa chỉ: Khu phố NT, thị trấn TN, huyện Hàm Thuận Nam, tỉnh Bình Thuận. 8. Ông Đỗ Ngọc Diệp, sinh năm 1962 (vắng mặt) Địa chỉ: Thôn PS, xã HC, huyện Hàm Thuận Nam, tỉnh Bình Thuận.
NỘI DUNG VỤ N:
Tại đơn khởi kiện và quá trình giải quyết vụ án, người khởi kiện và người đại diện hợp pháp trình bày:
Ngày 22/10/2007, ông Nguyễn Hữu T được Ủy ban nhân dân huyện Hàm Thuận Nam cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AI 033... đối với thửa đất số 32, tờ bản đồ số 00, diện tích 19.000m2 đất trồng cây hàng năm (HNK), tọa lạc tại thôn PT, xã HC, huyện Hàm Thuận Nam. Đến ngày 25/12/2007, ông Nguyễn Hữu T chuyển nhượng quyền sử dụng thửa đất số 32 nêu trên theo Hợp đồng số 1975/HĐCN cho bà Nguyễn Thị Xuân H và được Văn phòng Đăng ký quyền sử dụng đất huyện Hàm Thuận Nam cập nhật, đăng ký biến động sang tên cho bà H vào ngày 10/01/2008.
Ngày 27/11/2007, ông Đỗ Ngọc D được Ủy ban nhân dân huyện Hàm Thuận Nam cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AK 825... đối với thửa đất số 34, tờ bản đồ số 00/QH, diện tích 16.200m2 đất trồng cây hàng năm, tọa lạc tại thôn PT, xã HC, huyện Hàm Thuận Nam. Đến ngày 24/12/2007, ông Đỗ Ngọc D chuyển nhượng quyền sử dụng thửa đất số 34 nêu trên theo Hợp đồng số 1974/HĐCN cho bà Nguyễn Thị Xuân H và được Văn phòng Đăng ký quyền sử dụng đất huyện Hàm Thuận Nam cập nhật, đăng ký biến động sang tên cho bà H vào ngày 09/01/2008.
Từ đó đến nay, bà H sử dụng 02 thửa đất trên liên tục, ổn định, không có tranh chấp và đã trồng cây thanh long cùng các loại cây khác trên đất; không vi phạm các quy định của Luật đất đai.
Năm 2019, bà H biết được một phần của thửa đất số 32 nằm trong dự án đường cao tốc Dầu Giây - Phan Thiết. Theo đó, diện tích đất bị thu hồi làm dự án là 1.744,2m2, theo hồ sơ của cơ quan quản lý đất đai thì diện tích 1.744,2m2 thuộc thửa số 38 và 44, tờ bản đồ số 04. Tuy nhiên, Ủy ban nhân dân huyện Hàm Thuận Nam không xem x t bồi thường đất và tài sản trên đất cho gia đình bà H theo quy định của Luật đất đai. Do đó, ngày 17/11/2019, bà H nộp đơn khiếu nại đến Ủy ban nhân dân huyện Hàm Thuận Nam nhưng không được giải quyết và ngày 18/6/2020, bà H tiếp tục gửi đơn khiếu nại đến Ủy ban nhân dân huyện Hàm Thuận Nam, nhưng Chủ tịch Ủy ban nhân dân huyện Hàm Thuận Nam vẫn không thực hiện việc giải quyết đơn khiếu nại. Việc Chủ tịch Ủy ban nhân dân huyện Hàm Thuận Nam không giải quyết khiếu nại là vi phạm về thời hạn giải quyết khiếu nại quy định tại Điều 28 Luật khiếu nại năm 2011. Do đó, hành vi hành chính của Chủ tịch Ủy ban nhân dân huyện Hàm Thuận Nam trong việc không thực hiện giải quyết đơn khiếu nại của bà H là hành vi hành chính trái pháp luật.
Ngoài ra, thông qua Công văn số 86/PTQĐ-KN ngày 22/7/2020 của Trung tâm phát triển quỹ đất huyện Hàm Thuận Nam, bà H mới biết được trước đó Ủy ban nhân dân huyện Hàm Thuận Nam đã ban hành Quyết định số 590/QĐ-UBND ngày 31/12/2008 về việc thu hồi Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AI 033... cấp ngày 22/10/2007 với lý do “Giấy chứng nhận đã cấp trái với quy định pháp luật” và Quyết định số 48/QĐ-UBND ngày 06/02/2009 thu hồi thửa đất số 32 diện tích 19.000m2, với lý do “Đất được giao không đúng đối tượng và không đúng thẩm quyền”. Đến ngày 30/3/2009, Ủy ban nhân dân huyện Hàm Thuận Nam còn ban hành Quyết định số 139/QĐ-UBND, về việc hủy bỏ Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AI 033..., với lý do giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đã bị thu hồi theo Quyết định số 590/QĐ-UBND ngày 31/12/2008, nhưng bà H không giao nộp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Cũng thông qua Công văn số 86/PTQĐ-KN ngày 22/7/2020 của Trung tâm phát triển quỹ đất huyện Hàm Thuận Nam, bà H làm việc với lãnh đạo xã Hàm Cường để rà soát lại thửa đất số 34, tờ bản đồ số 00/QH, diện tích 16.200m2 đất trồng cây lâu năm, tọa lạc tại thôn PT, xã HC, huyện Hàm Thuận Nam có bị thu hồi không thì được biết thửa đất số 34 này trước đó Ủy ban nhân dân huyện Hàm Thuận Nam đã ban hành Quyết định số 49/QĐ-UBND ngày 06/02/2009 về việc thu hồi thửa đất số 34, diện tích 16.200m2, lý do thu hồi đất “Đất được giao không đúng đối tượng và không đúng thẩm quyền” và Quyết định số 593/QĐ-UBND ngày 31/12/2008 thu hồi Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AK 825... cấp ngày 27/11/2007, với lý do “Giấy chứng nhận đã cấp trái với quy định pháp luật”. Các Quyết định số 590/QĐ-UBND ngày 31/12/2008, Quyết định số 48/QĐ-UBND ngày 06/02/2009, Quyết định số 139/QĐ-UBND ngày 30/3/2009, Quyết định số 593/QĐ-UBND ngày 31/12/2008 và Quyết định số 49/QĐ-UBND ngày 06/02/2009 của Ủy ban nhân dân huyện Hàm Thuận Nam nêu trên là các quyết định hành chính trái pháp luật, vi phạm quy định tại khoản 2, 3 Điều 42 Nghị định số 181/2004/NĐ-CP ngày 29/10/2004 của Chính phủ. Vì các thửa đất số 32, 34 được Ủy ban nhân dân huyện Hàm Thuận Nam cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AI 033... ngày 22/10/2007 cho ông Nguyễn Hữu T và số AK 825... ngày 27/11/2007 cho ông Đỗ Ngọc D; và ông T, ông D đã chuyển nhượng cho bà H, được Văn phòng đăng ký quyền sử dụng đất huyện Hàm Thuận Nam chấp nhận cập nhật, đăng ký biến động cho bà H vào vào các ngày 10/01/2008, 09/01/2008. Còn đối với Quyết định số 48/QĐ-UBND ngày 06/02/2009, Quyết định số 49/QĐ-UBND ngày 06/02/2009, về việc thu hồi thửa đất số 32, 34 đã vi phạm quy định tại Điều 38 Luật đất đai năm 2003, vì không thỏa mãn về căn cứ thu hồi đất. Do đó, bà Nguyễn Thị Xuân H làm đơn khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết: 1. Tuyên bố hành vi hành chính của Chủ tịch Ủy ban nhân dân huyện Hàm Thuận Nam về việc không thực hiện giải quyết đơn khiếu nại của bà Nguyễn Thị Xuân H là hành vi trái pháp luật. 2. Buộc Ủy ban nhân dân huyện Hàm Thuận Nam ban hành quyết định thu hồi đất và ban hành quyết định phê duyệt bồi thường, hỗ trợ do thu hồi diện tích 1.744,2m2 đất, thuộc thửa đất số 38, 44, tờ bản đồ số 04, tọa lạc tại thôn PT, xã HC, huyện Hàm Thuận Nam, tỉnh Bình Thuận do bà Nguyễn Thị Xuân H quản lý, sử dụng để làm dự án đường cao tốc “đoạn đi qua địa bàn xã Hàm Cường” theo quy định của Luật đất đai.
3. Tuyên hủy các quyết định hành chính của Ủy ban nhân dân huyện Hàm Thuận Nam, gồm:
- Quyết định số 590/QĐ-UBND ngày 31/12/2008 về việc thu hồi giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AI 033... ngày 22/10/2007 (số vào sổ cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất H 01263), cập nhật biến động ngày 10/01/2008;
- Quyết định số 48/QĐ-UBND ngày 06/02/2009 về việc thu hồi đối với thửa đất số 32, tờ bản đồ số 00/QH, diện tích 19.000m2 đất trồng cây hàng năm (HNK), tọa lạc tại thôn PT, xã HC, huyện Hàm Thuận Nam đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AI 033... ngày 22/10/2007 để giao cho Ủy ban nhân dân xã Hàm Cường quản lý.
- Quyết định số 139/QĐ-UBND ngày 30/3/2009 về việc hủy bỏ giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AI 033... ngày 22/10/2007.
- Quyết định số 593/QĐ-UBND ngày 31/12/2008, về việc thu hồi giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AK 825... ngày 27/11/2007 (số vào sổ cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất H 01358), cập nhật biến động ngày 09/01/2008;
- Quyết định số 49/QĐ-UBND ngày 06/02/2009 về việc thu hồi đối với thửa đất số 34, tờ bản đồ số 00/QH, diện tích 16.200,0m2 đất trồng cây hàng năm (HNK), tọa lạc tại thôn PT, xã HC, huyện Hàm Thuận Nam đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AK 825... ngày 27/11/2007 để giao cho Ủy ban nhân dân xã Hàm Cường quản lý.
Người bị kiện - Uỷ ban nhân dân huyện Hàm Thuận Nam và Chủ tịch Ủy ban nhân dân huyện Hàm Thuận Nam có ý kiến tại Công văn số 353/UBND-TNMT ngày 04/3/2021:
Ngày 18/5/2001, Ủy ban nhân dân huyện Hàm Thuận Nam có Quyết định số 143/QĐ/UB-HTN phê duyệt Kế hoạch sử dụng đất năm 2001 xã Hàm Cường, cho ph p xã khai hoang mở rộng 30 ha diện tích đất nông nghiệp.
Ngày 25/6/2001, Ủy ban nhân dân xã Hàm Cường có Tờ trình số 27 TT/UB-HC gửi Ủy ban nhân dân huyện xin khai hoang mở rộng diện tích đất nông nghiệp theo kế hoạch của huyện để trồng cây lâu năm và hàng năm, diện tích 30 ha, số hộ 30 hộ, đất trống loại B, có lùm bụi, có khả năng sản xuất nông nghiệp (tại vùng Núi Đất đến hồ Đu Đủ, thôn Phú Thọ, xã Hàm Cường). Tuy nhiên, Tờ trình trên không kèm theo phương án, số hộ có nhu cầu khai hoang sử dụng đất và chưa được Ủy ban nhân dân huyện phê duyệt.
Năm 2001 - 2002, Ủy ban nhân dân xã Hàm Cường tiến hành hợp đồng san ủi đất và bố trí, giao đất cho 31 đối tượng với diện tích 36,69 ha tại khu vực hồ Đu Đủ để sử dụng vào mục đích sản xuất nông nghiệp (trong đó: ông Đỗ Ngọc D – Đại uý Công an huyện được giao 1,62 ha đất; ông Nguyễn Hữu T - Phó Phòng Văn hoá, Thông tin huyện được giao 1,9 ha đất).
Sau khi giao đất, Ủy ban nhân dân xã Hàm Cường lập thủ tục trình Ủy ban nhân dân huyện cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AI 033... ngày 22/10/2007 cho ông Nguyễn Hữu T theo hình thức “Nhà nước công nhận quyền sử dụng đất như giao đất không thu tiền sử dụng đất”; cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AK 825... ngày 27/11/2007 cho ông Đỗ Ngọc D theo hình thức “Nhà nước công nhận quyền sử dụng đất như giao đất không thu tiền sử dụng đất”. Bà Nguyễn Thị Xuân H nhận chuyển nhượng quyền sử dụng đất của ông Đỗ Ngọc D theo hợp đồng chuyển nhượng số 1974/HĐCN ngày 24/12/2007, nhận chuyển nhượng quyền sử dụng đất của ông Nguyễn Hữu T theo hợp đồng chuyển nhượng số 1975/HĐCN ngày 25/12/2007. Ngày 27/10/2008, Thanh tra tỉnh Bình Thuận có Kết luận thanh tra số 1329/KL-TTBT về việc giao đất và sử dụng đất tại khu vực hồ Đu Đủ, xã Hàm Cường, huyện Hàm Thuận Nam. Theo đó, Thanh tra tỉnh Bình Thuận kết luận:
- “...UBND xã Hàm Cường tự giao đất cho 31 đối tượng vào năm 2002 là trái thẩm quyền, vi phạm Điều 24 Luật Đất đai năm 1993 (sửa đổi, bổ sung năm 1998, năm 2001).
- UBND xã Hàm Cường tự giao đất nông nghiệp cho những hộ mà cả vợ, chồng đều là cán bộ, công chức đang làm việc vào năm 2002 là sai đối tượng, vi phạm Điều 6, Điều 7 và Điều 8 của bản Quy định về việc giao đất nông nghiệp cho hộ gia đình, cá nhân sử dụng ổn định lâu dài vào mục đích sản xuất nông nghiệp (ban hành kèm theo Nghị định số 64-CP ngày 27/9/1993 của Chính phủ).
- UBND xã Hàm Cường x t và đề nghị Ủy ban nhân dân huyện cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho 13 đối tượng tại khu vực hồ Đu Đủ là thiếu cơ sở pháp lý về nguồn gốc và hiện trạng sử dụng đất, vi phạm Điều 50 Luật Đất đai năm 2003 (tất cả đều được giao đất trái thẩm quyền, có người bỏ đất trống, có người chuyển nhượng đất trái ph p, có thửa đất đang tranh chấp)... Đề nghị Ủy ban nhân dân huyện xử lý những trường hợp Ủy ban nhân dân xã Hàm Cường giao đất trái thẩm quyền, sai đối tượng, cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất sai quy định, tranh chấp, lấn chiếm tại khu vực hồ Đu Đủ theo hướng: + Ban hành quyết định thu hồi toàn bộ diện tích đất Ủy ban nhân dân xã Hàm Cường đã giao trái thẩm quyền cho 31 đối tượng tại khu vực hồ Đu Đủ (theo quy định tại khoản 5 điều 38 Luật Đất đai năm 2003), có kế hoạch quản lý, sử dụng theo đúng quy định của pháp luật. + Thu hồi 14 giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đã cấp sai quy định cho các hộ gia đình, cá nhân tại khu vực hồ Đu Đủ (theo quy định tại Điều 42 Nghị đinh 181/2004/NĐ-CP và Điều 21 Nghị định 84/2007/NĐ-CP). Ngày 31/12/2008, Ủy ban nhân dân huyện có Quyết định số 590/QĐ-UBND về việc thu hồi Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AI 033... mà Ủy ban nhân dân huyện Hàm Thuận Nam đã cấp cho ông Nguyễn Hữu T ngày 22/10/2007, với lý do: Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đã cấp trái với quy định pháp luật.
Cùng ngày 31/12/2008, Ủy ban nhân dân huyện có Quyết định số 593/QĐ-UBND về việc thu hồi Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AK 825... Ủy ban nhân dân huyện Hàm Thuận Nam đã cấp cho hộ ông Đỗ Ngọc D ngày 27/11/2007, với lý do: Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đã cấp trái với quy định pháp luật.
Ngày 06/02/2009, Ủy ban nhân dân huyện có Quyết định số 48/QĐ-UBND về việc thu hồi diện tích 19.000m2, đất trồng cây hàng năm của bà Nguyễn Thị Xuân H (đất nhận chuyển nhượng của ông Nguyễn Hữu T) để giao cho Ủy ban nhân dân xã Hàm Cường quản lý; lý do: đất được giao không đúng đối tượng và thẩm quyền.
Cùng ngày 06/02/2009, Ủy ban nhân dân huyện có Quyết định số 49/QĐ-UBND về thu hồi diện tích 16.200 m2, đẩt trồng cây lâu năm của bà Nguyễn Thị Xuân H (đất nhận chuyển nhượng của ông Đỗ Ngọc D) để giao cho Ủy ban nhân dân xã Hàm Cường quản lý; lý do: đất được giao không đúng đối tượng và thẩm quyền.
Ngày 30/3/2009, Ủy ban nhân dân huyện có Quỵết định số 137/QĐ-UBND về việc hủy bỏ Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AK 825..., Ủy ban nhân dân huyện Hàm Thuận Nam đã cấp cho hộ ông Đỗ Ngọc D ngày 27/11/2007 và hộ ông D đã chuyển nhượng cho bà H; lý do: Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AK 825... đã bị thu hồi theo Quyết định số 593/QĐ-UBND ngày 31/12/2008 nhưng bà H không giao nộp.
Cùng ngày 30/3/2009, Ủy ban nhân dân huyện có Quyết định số 139/QĐ-UBND về việc hủy bỏ Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AI 033..., Ủy ban nhân dân huyện Hàm Thuận Nam đã cấp cho ông Nguyễn Hữu T ngày 22/10/2007 và ông T đã chuyển nhượng cho bà H; lý do: Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AI 033... đã bị thu hồi theo Quyết định số 590/QĐ-UBND ngày 31/12/2008 nhưng bà H không giao nộp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.
Căn cứ khoản 5 Điều 38 Luật Đất đai năm 2003; căn cứ khoản 1 Điều 21 Nghị định số 84/2007/NĐ-CP ngày 25 tháng 5 năm 2007 của Chính phủ quy định bổ sung về việc cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, thu hồi đất, thực hiện quyền sử dụng đất, trình tự, thủ tục bồi thường, hỗ trợ, tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất và giải quyết khiếu nại về đất đai thì việc Ủy ban nhân dân huyện có Quyết định thu hồi đất, Quyết định thu hồi Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và Quyết định hủy bỏ Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất nêu trên là đúng quy định pháp luật.
Theo kết quả đo đạc, diện tích đất của bà Nguyễn Thị Xuân H đang sử dụng nằm trong công trình đường cao tốc tuyến Bắc - Nam đã bị Ủy ban nhân dân huyện thu hồi giao Ủy ban nhân dân xã Hàm Cường quản lý tại Quyết định số 48/QĐ-UBND ngày 06/02/2009 và Quyết định số 49/QĐ-UBND ngày 06/02/2009. Do đó, đối với phần đất đã bị thu hồi nêu trên, Ủy ban nhân dân huyện không ban hành Quyết định thu hồi đất của bà H để thực hiện công trình đường cao tốc tuyến Bắc – Nam. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: 1. Trung tâm phát triển quỹ đất huyện Hàm Thuận Nam có ý kiến tại Công văn số 306/TTPTQĐ ngày 10/5/2021: Công trình đường bộ cao tốc Bắc - Nam đi qua địa bàn xã Hàm Cường có thu hồi diện tích đất của bà Nguyễn Thị Xuân H gồm 2 thửa với tổng diện tích 1.744,2 m2. Tài sản gắn liền với đất gồm có: tường xây gạch l0cm, cao 0,7m 110 md; Ống nhựa fi 60mm 660md; ống nhựa fi 34mm 125md; Ống nhự fi 27mm 19md; Di dời hàng rào kẽm gai 240md; thanh long ruột trắng (7 năm tuổi) 95 trụ; Keo lá tràm (3 năm) 75 cây. Theo nội dung Giấy xác nhận nguồn gốc đất và tài sản gắn liền với đất số 115/GXN ngày 08/10/2019 của Ủy ban nhân dân xã Hàm Cường xác nhận nguồn gốc thửa đất của bà H đang sử dụng như sau: Thửa 38, 44 tờ bản đồ số 04 diện tích 1.744,2m2 thuộc thửa đất số 32 tờ bản đồ số 00 đã được Ủy ban nhân dân huyện Hàm Thuận Nam ban hành Quyết định số 48/QĐ-UBND ngày 06/02/2009 về việc thu hồi đất với diện tích 19.000m2 để giao cho Ủy ban nhân dân xã Hàm Cường quản lý (Lý do: đất được giao không đúng đối tượng và không đúng thẩm quyền); Ủy ban nhân dân huyện Hàm Thuận Nam ban hành Quyết định số 139/QĐ-UBND ngày 30/03/2009 về việc hủy bỏ giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AI 033..., số vào sổ H 01263 được Ủy ban nhân dân huyện cấp cho ông Nguyễn Hữu T ngày 22/10/2007 và ông T đã chuyển nhượng cho bà Nguyễn Thị Xuân H theo hợp đồng số 1975/HĐCN ngày 25/12/2007 (Lý do: giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AI 033... đã bị thu hồi theo Quyết định số 590/QĐ- UBND ngày 31/12/2008 nhưng bà Nguyễn Thị Xuân H không giao nộp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất) và đang sử dụng cho đến nay Căn cứ Điều 82 của Luật đất đai năm 2013 quy định “Trường hợp Nhà nước thu hồi đất không được bồi thường về đất”. Căn cứ Điều 92 của Luật đất đai năm 2013 quy định “Trường hợp Nhà nước thu hồi đất không được bồi thường tài sản gắn liền với đất”. Do đó, Hội đồng bồi thường hỗ trợ và tái định cư huyện thống nhất không bồi thường, hỗ trợ về đất và tài sản trên đất cho bà Nguyễn Thị Xuân H đối với diện tích đất Nhà nước thu hồi 1.744,2 m2 thuộc Công trình Đường bộ Cao tốc Bắc Nam đi qua địa bàn huyện. 2. Người đại diện hợp pháp của Phòng Tài nguyên và Môi trường huyện Hàm Thuận Nam, Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai Hàm Thuận Nam và Ủy ban nhân dân xã Hàm Cường có ý kiến: Thống nhất với ý kiến trình bày của người bị kiện.
3. Ông Nguyễn Hữu T trình bày tại đơn đề nghị xét xử vắng mặt ngày 13/5/2021:
Ông chuyển nhượng quyền sử dụng thửa đất số 32, tờ bản đồ số 00, diện tích 19.000m2 cho bà Nguyễn Thị Xuân H theo hợp đồng số 1975/HĐCN ngày 25/12/2007, được Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai huyện Hàm Thuận Nam chấp nhận đăng ký biến động đất tại Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AI 033... cấp ngày 22/10/2007. Việc chuyển nhượng quyền sử dụng thửa đất này cho bà Nguyễn Thị Xuân H là hoàn toàn đúng theo quy định của pháp luật.
4. Đối với ông Dỗ Ngọc D: Do ông D không có mặt tại địa phương, nên Tòa án đã tiến hành niêm yết đầy đủ các thủ tục theo quy định và đến nay ông D vẫn không có mặt tại Tòa án để có ý kiến về việc vụ án.
5. Ông Trần Ngọc Trung và người đại diện hợp pháp ông Nguyễn Văn Minh trình bày: Thống nhất với trình bày của người khởi kiện.
6. Người đại diện hợp pháp của Thanh tra tỉnh Bình Thuận trình bày: Giữ nguyên ý kiến của Thanh tra tỉnh tại Công văn số 1363/TTBT-PNV2 ngày 19/11/2021 và đề nghị Hội đồng x t xử giải quyết vụ án theo quy định của pháp luật.
Tại phiên tòa, Kiểm sát viên có ý kiến:
- Về thủ tục tố tụng: Quá trình giải quyết vụ án, Thẩm phán, Hội thẩm nhân dân và Thư ký đã thực hiện đúng nhiệm vụ, quyền hạn theo quy định của Luật tố tụng hành chính.
- Về nội dung: Đề nghị Hội đồng x t xử áp dụng khoản 2 Điều 173; điểm b, c khoản 2 Điều 193 Luật tố tụng hành chính; Tuyên xử:
1. Đình chỉ x t xử yêu cầu khởi kiện của người khởi kiện bà Nguyễn Thị Xuân H về việc yêu cầu tuyên bố hành vi hành chính của Chủ tịch Ủy ban nhân dân huyện Hàm Thuận Nam về việc không thực hiện giải quyết đơn khiếu nại của bà Nguyễn Thị Xuân H là trái pháp luật.
2. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của người khởi kiện bà Nguyễn Thị Xuân H:
+ Tuyên bố hành vi hành chính của Ủy ban nhân dân huyện Hàm Thuận Nam về việc không ban hành quyết định thu hồi đất và quyết định phê duyệt bồi thường, hỗ trợ do thu hồi diện tích 1.744,2m2 đất, thuộc thửa đất số 32, tờ bản đồ số 00, tọa lạc tại thôn PT, xã HC, huyện Hàm Thuận Nam, tỉnh Bình Thuận để làm dự án đường cao tốc “đoạn đi qua địa bàn xã Hàm Cường” là trái pháp luật.
+ Buộc Ủy ban nhân dân huyện Hàm Thuận Nam chấm dứt hành vi trái pháp luật và thực hiện nhiệm vụ, công vụ theo quy định của pháp luật.
+ Hủy các quyết định hành chính của Ủy ban nhân dân huyện Hàm Thuận Nam gồm: Quyết định số 590/QĐ-UBND ngày 31/12/2008 về việc thu hồi giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AI 033... do Ủy ban nhân dân huyện Hàm Thuận Nam cấp ngày 22/10/2007; Quyết định số 48/QĐ-UBND ngày 06/02/2009 về việc thu hồi thửa đất số 32, tờ bản đồ số 00/QH, diện tích 19.000m2 đất trồng cây hàng năm (HNK), tọa lạc tại thôn PT, xã HC, huyện Hàm Thuận Nam đã được Ủy ban nhân dân huyện Hàm Thuận Nam cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AI 033... ngày 22/10/2007. Quyết định số 139/QĐ-UBND ngày 30/3/2009 về việc hủy bỏ giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AI 033... do Ủy ban nhân dân huyện Hàm Thuận Nam cấp ngày 22/10/2007. Quyết định số 593/QĐ-UBND ngày 31/12/2008 về việc thu hồi giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AK 825... do Ủy ban nhân dân huyện Hàm Thuận Nam cấp ngày 27/11/2007; Quyết định số 49/QĐ-UBND ngày 06/02/2009 về việc thu hồi thửa đất số 34, tờ bản đồ số 00/QH, diện tích 16.200m2 đất trồng cây hàng năm (HNK), tọa lạc tại thôn PT, xã HC, huyện Hàm Thuận Nam đã được Ủy ban nhân dân huyện Hàm Thuận Nam cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AK 825... ngày 27/11/2007. Quyết định số 137/QĐ-UBND ngày 30/3/2009 về việc hủy bỏ giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AK 825... do Ủy ban nhân dân huyện Hàm Thuận Nam cấp ngày 27/11/2007. 3. Về án phí hành chính sơ thẩm: Do yêu cầu khởi kiện của người khởi kiện được chấp nhận, nên buộc người bị kiện Ủy ban nhân dân huyện Hàm Thuận Nam phải chịu án phí hành chính sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA N:
[1] Về yêu cầu khởi kiện của người khởi kiện: [1.1] Tại đơn khởi kiện, bà Nguyễn Thị Xuân H yêu cầu Tòa án giải quyết:
- Tuyên bố hành vi hành chính của Chủ tịch Ủy ban nhân dân huyện Hàm Thuận Nam về việc không thực hiện giải quyết đơn khiếu nại của bà Nguyễn Thị Xuân H là hành vi trái pháp luật.
- Buộc Ủy ban nhân dân huyện Hàm Thuận Nam ban hành quyết định thu hồi đất và ban hành quyết định phê duyệt bồi thường, hỗ trợ do thu hồi diện tích 1.744,2m2 đất, thuộc thửa đất số 38 và 44, tờ bản đồ số 04, tọa lạc tại thôn PT, xã HC, huyện Hàm Thuận Nam, tỉnh Bình Thuận do bà Nguyễn Thị Xuân H quản lý, sử dụng để làm dự án đường cao tốc “đoạn đi qua địa bàn xã Hàm Cường” theo quy định của Luật đất đai.
- Tuyên hủy các quyết định hành chính của Ủy ban nhân dân huyện Hàm Thuận Nam, gồm: + Quyết định số 590/QĐ-UBND ngày 31/12/2008 về việc thu hồi giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AI 033... ngày 22/10/2007 (số vào sổ cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất H 01263), cập nhật biến động ngày 10/01/2008;
+ Quyết định số 48/QĐ-UBND ngày 06/02/2009 về việc thu hồi đối với thửa đất số 32, tờ bản đồ số 00/QH, diện tích 19.000m2 đất trồng cây hàng năm (HNK), tọa lạc tại thôn PT, xã HC, huyện Hàm Thuận Nam đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AI 033... ngày 22/10/2007 để giao cho Ủy ban nhân dân xã Hàm Cường quản lý.
+ Quyết định số 139/QĐ-UBND ngày 30/3/2009 về việc hủy bỏ giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AI 033... ngày 22/10/2007.
+ Quyết định số 593/QĐ-UBND ngày 31/12/2008, về việc thu hồi giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AK 825... ngày 27/11/2007 (số vào sổ cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất H 01358), cập nhật biến động ngày 09/01/2008;
+ Quyết định số 49/QĐ-UBND ngày 06/02/2009 về việc thu hồi đối với thửa đất số 34, tờ bản đồ số 00/QH, diện tích 16.200,0m2 đất trồng cây hàng năm (HNK), tọa lạc tại thôn PT, xã HC, huyện Hàm Thuận Nam đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AK 825... ngày 27/11/2007 để giao cho Ủy ban nhân dân xã Hàm Cường quản lý.
[1.2] Tại phiên tòa, người khởi kiện bà Nguyễn Thị Xuân H và người đại diện hợp pháp rút yêu cầu tuyên bố hành vi hành chính của Chủ tịch Ủy ban nhân dân huyện Hàm Thuận Nam về việc không thực hiện giải quyết đơn khiếu nại của bà Nguyễn Thị Xuân H là trái pháp luật và xác định rõ lại yêu cầu khởi kiện, cụ thể yêu cầu:
- Tuyên bố hành vi hành chính của Ủy ban nhân dân huyện Hàm Thuận Nam về việc không ban hành quyết định thu hồi đất và quyết định phê duyệt bồi thường, hỗ trợ do thu hồi diện tích 1.744,2m2 đất thuộc thửa số 32, tờ bản đồ số 00 (theo bản đồ trích đo là 02 thửa đất số 38 và 44, tờ bản đồ số 04), tọa lạc tại thôn PT, xã HC, huyện Hàm Thuận Nam, tỉnh Bình Thuận, đã được Ủy ban nhân dân huyện Hàm Thuận Nam cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AI 033... ngày 22/10/2007 cho ông Nguyễn Hữu Thọ, cập nhật biến động sang tên bà Nguyễn Thị Xuân H ngày 16/01/2007 là trái pháp luật.
- Buộc Ủy ban nhân dân huyện Hàm Thuận Nam chấm dứt hành vi trái pháp luật và thực hiện nhiệm vụ, công vụ theo quy định, ban hành quyết định thu hồi đất và quyết định phê duyệt bồi thường, hỗ trợ do thu hồi diện tích 1.744,2m2 đất thuộc thửa số 32, tờ bản đồ số 00 (theo bản đồ trích đo là 02 thửa đất số 38 và 44, tờ bản đồ số 04), tọa lạc tại thôn PT, xã HC, huyện Hàm Thuận Nam, tỉnh Bình Thuận, đã được Ủy ban nhân dân huyện Hàm Thuận Nam cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AI 033... ngày 22/10/2007 cho ông Nguyễn Hữu T, cập nhật biến động sang tên bà Nguyễn Thị Xuân H ngày 16/01/2007, theo đúng quy định của pháp luật đất đai.
- Hủy các quyết định hành chính của Ủy ban nhân dân huyện Hàm Thuận Nam gồm:
+ Quyết định số 590/QĐ-UBND ngày 31/12/2008 về việc thu hồi giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AI 033... ngày 22/10/2007 (số vào sổ cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất H 01263), cập nhật biến động ngày 10/01/2008; + Quyết định số 48/QĐ-UBND ngày 06/02/2009 về việc thu hồi đối với thửa đất số 32, tờ bản đồ số 00, diện tích 19.000m2 đất trồng cây hàng năm, tọa lạc tại thôn PT, xã HC, huyện Hàm Thuận Nam đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AI 033... ngày 22/10/2007 để giao cho Ủy ban nhân dân xã Hàm Cường quản lý. + Quyết định số 139/QĐ-UBND ngày 30/3/2009 về việc hủy bỏ giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AI 033... ngày 22/10/2007. + Quyết định số 593/QĐ-UBND ngày 31/12/2008, về việc thu hồi giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AK 825... ngày 27/11/2007 (số vào sổ cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất H 01358), cập nhật biến động ngày 09/01/2008; + Quyết định số 49/QĐ-UBND ngày 06/02/2009 về việc thu hồi đối với thửa đất số 34, tờ bản đồ số 00/QH, diện tích 16.200,0m2 đất trồng cây hàng năm (HNK), tọa lạc tại thôn PT, xã HC, huyện Hàm Thuận Nam đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AK 825... ngày 27/11/2007 để giao cho Ủy ban nhân dân xã Hàm Cường quản lý. Đồng thời hủy quyết định hành chính có liên quan là Quyết định số 137/QĐ-UBND ngày 30/3/2009 về việc hủy bỏ giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AK 825... ngày 27/11/2007. [1.3] X t việc rút một phần yêu cầu khởi kiện của người khởi kiện như trên là hoàn toàn tự nguyện, những người tham gia tố tụng có mặt tại phiên tòa thống nhất, nên Hội đồng x t xử chấp nhận và đình chỉ x t xử đối với yêu cầu khởi kiện này, như ý kiến đề nghị của Kiểm sát viên là phù hợp theo quy định tại khoản 2 Điều 173 Luật Tố tụng hành chính. [2] Xét yêu cầu khởi kiện của người khởi kiện bà Nguyễn Thị Xuân H, Hội đồng x t xử nhận thấy: [2.1] Đối với yêu cầu khởi kiện liên quan đến thửa đất số 32, tờ bản đồ số 00, diện tích 19.000m2, tọa lạc tại thôn PT, xã HC, huyện Hàm Thuận Nam đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AI 033... ngày 22/10/2007: [2.1.1] Quá trình giải quyết vụ án, cũng như tại phiên tòa, các bên đương sự đều thống nhất trình bày: Thực hiện công trình Dự án thành phần đầu tư xây dựng đoạn Phan Thiết – Dầu Giây thuộc Dự án đầu tư xây dựng một số đoạn đường bộ cao tốc trên tuyến Bắc – Nam phía Đông giai đoạn 2017 – 2018 (đoạn đi qua xã Hàm Cường), Ủy ban nhân dân huyện Hàm Thuận Nam đã thu hồi 1.744,2m2 đất thuộc thửa số 32, tờ bản đồ số 00 (theo bản đồ trích đo là 02 thửa đất số 38 và 44, tờ bản đồ số 04), tọa lạc tại thôn PT, xã HC, huyện Hàm Thuận Nam, tỉnh Bình Thuận do bà Nguyễn Thị Xuân H quản lý, sử dụng, đã được Ủy ban nhân dân huyện Hàm Thuận Nam cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AI 033... ngày 22/10/2007 cho ông Nguyễn Hữu Thọ, cập nhật biến động sang tên bà Nguyễn Thị Xuân H ngày 16/01/2007.
Tuy nhiên, Ủy ban nhân dân huyện Hàm Thuận Nam không ban hành quyết định thu hồi và phê duyệt bồi thường đối với diện tích đất trên, với lý do thửa đất số 32, tờ bản đồ số 00 nêu trên đã bị Ủy ban nhân dân huyện Hàm Thuận Nam thu hồi theo Quyết định số 48/QĐ-UBND ngày 06/02/2009 và giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AI 033... cấp cho ông Nguyễn Hữu T ngày 22/10/2007, cập nhật biến động sang tên bà Nguyễn Thị Xuân H ngày 16/01/2007 đã bị Ủy ban nhân dân huyện Hàm Thuận Nam thu hồi và hủy bỏ theo Quyết định số 590/QĐ-UBND ngày 31/12/2008 và Quyết định số 139/QĐ-UBND ngày 30/3/2009.
[2.1.2] X t thấy, Ủy ban nhân dân huyện Hàm Thuận Nam ban hành các Quyết định số 48/QĐ-UBND ngày 06/02/2009 về việc thu hồi thửa đất số 32, tờ bản đồ số 00, diện tích 19.000m2 đất trồng cây hàng năm (HNK) và Quyết định số 590/QĐ-UBND ngày 31/12/2008 về việc thu hồi giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AI 033... do Ủy ban nhân dân huyện Hàm Thuận Nam cấp cho ông Nguyễn Hữu T ngày 22/10/2007, cập nhật biến động sang tên bà Nguyễn Thị Xuân H ngày 16/01/2007, với lý do Ủy ban nhân dân xã Hàm Cường giao đất không đúng đối tượng và không đúng thẩm quyền là không đúng quy định tại khoản 1 Điều 4, khoản 5 Điều 38 Luật đất đai năm 2003 và khoản 3 Điều 42 Nghị định số 181/2004/NĐ-CP ngày 29/10/2004, cụ thể:
Theo quy định tại khoản 5 Điều 38 Luật đất đai năm 2003: “Điều 38. Các trường hợp thu hồi đất:
…
5. Đất được giao không đúng đối tượng hoặc không đúng thẩm quyền;”.
Theo quy định tại khoản 1 Điều 4 Luật đất đai năm 2003: “1. Nhà nước giao đất là việc Nhà nước trao quyền sử dụng đất bằng quyết định hành chính cho đối tượng có nhu cầu sử dụng đất.”
Trong khi đó, người bị thu hồi đất được xác định theo Quyết định số 48/QĐ-UBND ngày 06/02/2009 là bà Nguyễn Thị Xuân H, không phải là ông Nguyễn Hữu T. Tuy nhiên, bà Nguyễn Thị Xuân H không phải là người được giao đất, mà bà Nguyễn Thị Xuân H được Nhà nước công nhận quyền sử dụng đất thông qua hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất với ông Nguyễn Hữu T và đã được cơ quan có thẩm quyền cập nhật biến động sang tên vào ngày 16/01/2007. Việc chuyển nhượng và cập nhật biến động sang tên cho bà Nguyễn Thị Xuân H đều tuân thủ đúng quy định của pháp luật.
[2.1.3] Mặt khác, mặc dù Ủy ban nhân dân huyện Hàm Thuận Nam ban hành Quyết định số 48/QĐ-UBND ngày 06/02/2009 về việc thu hồi đất và giao cho Ủy ban nhân dân xã Hàm Cường quản lý, nhưng gia đình bà Nguyễn Thị Xuân H vẫn tiếp tục quản lý, sử dụng ổn định, liên tục, không có tranh chấp từ đó đến nay, chính quyền địa phương cũng không có ý kiến gì.
[2.1.4] Ngoài ra, số tiền ông Nguyễn Hữu T chuyển nhượng thửa đất cho bà Nguyễn Thị Xuân H, do Thanh tra huyện Hàm Thuận Nam thu giữ của ông Nguyễn Hữu T, hiện nay Ủy ban nhân dân huyện Hàm Thuận Nam đã chuyển nộp vào ngân sách Nhà nước. [2.1.5] Từ nhận định trên, x t thấy việc thu hồi đất, thu hồi và hủy bỏ giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của Ủy ban nhân dân huyện Hàm Thuận Nam đối với bà Nguyễn Thị Xuân H là không đúng quy định, nên khi thực hiện công trình Dự án thành phần đầu tư xây dựng đoạn Phan Thiết – Dầu Giây thuộc Dự án đầu tư xây dựng một số đoạn đường bộ cao tốc trên tuyến Bắc – Nam phía Đông giai đoạn 2017 – 2018 (đoạn đi qua xã Hàm Cường), Ủy ban nhân dân huyện Hàm Thuận Nam đã thu hồi 1.744,2m2 đất thuộc thửa số 32, tờ bản đồ số 00 (theo bản đồ trích đo là 02 thửa đất số 38 và 44, tờ bản đồ số 04), tọa lạc tại thôn PT, xã HC, huyện Hàm Thuận Nam, tỉnh Bình Thuận do bà Nguyễn Thị Xuân H quản lý, sử dụng, đã được Ủy ban nhân dân huyện Hàm Thuận Nam cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AI 033... ngày 22/10/2007 cho ông Nguyễn Hữu T, cập nhật biến động sang tên bà Nguyễn Thị Xuân H ngày 16/01/2007, Ủy ban nhân dân huyện Hàm Thuận Nam không ban hành quyết định thu hồi đất và phê duyệt bồi thường, hỗ trợ là không đảm bảo quyền lợi cho gia đình bà Nguyễn Thị Xuân H, không đúng quy định tại khoản 1 Điều 16, khoản 2 Điều 66, khoản 1 Điều 75 Luật đất đai năm 2013. [2.2] Đối với yêu cầu khởi kiện liên quan đến thửa đất số 34, tờ bản đồ số 00, diện tích 16.200m2, tọa lạc tại thôn PT, xã HC, huyện Hàm Thuận Nam đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AK 033... ngày 27/11/2007: [2.2.1] Về thời hiệu hiệu khởi kiện: Theo người khởi kiện bà Nguyễn Thị Xuân H thì thông qua Công văn số 86/PTQĐ-KN ngày 22/7/2020 của Trung tâm phát triển quỹ đất huyện Hàm Thuận Nam, bà H đã làm việc với lãnh đạo UBND xã Hàm Cường để rà soát lại thửa đất số 34, tờ bản đồ số 00/QH, diện tích 16.200m2, tọa lạc tại thôn PT, xã HC, huyện Hàm Thuận Nam có bị thu hồi như thửa số 32 không thì được biết thửa đất số 34 này trước đó Ủy ban nhân dân huyện Hàm Thuận Nam đã ban hành Quyết định số 49/QĐ-UBND ngày 06/02/2009 về việc thu hồi đất, lý do thu hồi đất “Đất được giao không đúng đối tượng và không đúng thẩm quyền” và Quyết định số 593/QĐ-UBND ngày 31/12/2008 thu hồi Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AK 825... cấp ngày 27/11/2007, với lý do “Giấy chứng nhận đã cấp trái với quy định pháp luật”. Khi ban hành các quyết định hành chính này, Ủy ban nhân dân huyện Hàm Thuận Nam không giao cho bà Nguyễn Thị Xuân H nên bà H không biết, đến nay, qua làm việc với UBND xã Hàm Cường bà mới biết. Lời khai này của bà H phù hợp với lời khai của phía người bị kiện, cụ thể phía người bị kiện thừa nhận không có căn cứ đã giao các quyết định nêu trên cho bà H. Do đó, vào ngày 20/11/2020, bà Nguyễn Thị Xuân H làm đơn khởi kiện yêu cầu hủy Quyết định số 49/QĐ-UBND ngày 06/02/2009 về việc thu hồi đất và Quyết định số 593/QĐ-UBND ngày 31/12/2008 về việc thu hồi Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AK 825... cấp ngày 27/11/2007 của Ủy ban nhân dân huyện Hàm Thuận Nam là còn thời hiệu khởi kiện theo quy định tại điểm a khoản 2 Điều 116 Luật Tố tụng hành chính.
[2.2.2] X t yêu cầu hủy các Quyết định số 49/QĐ-UBND ngày 06/02/2009 về việc thu hồi đất và Quyết định số 593/QĐ-UBND ngày 31/12/2008 về việc thu hồi Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AK 825... cấp ngày 27/11/2007 của người khởi kiện, Hội đồng x t xử nhận thấy:
Tương tư như nhận định tại mục [3.1] nêu trên, người bị thu hồi đất được xác định theo Quyết định số 49/QĐ-UBND ngày 06/02/2009 là bà Nguyễn Thị Xuân H, không phải là ông Đỗ Ngọc D. Tuy nhiên, bà Nguyễn Thị Xuân H không phải là người được giao đất, mà bà Nguyễn Thị Xuân H được Nhà nước công nhận quyền sử dụng đất thông qua hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất với ông Đỗ Ngọc D và đã được cơ quan có thẩm quyền cập nhật biến động sang tên vào ngày 09/01/2008. Việc chuyển nhượng và cập nhật biến động sang tên cho bà Nguyễn Thị Xuân H đều tuân thủ đúng quy định của pháp luật.
Mặt khác, mặc dù Ủy ban nhân dân huyện Hàm Thuận Nam ban hành Quyết định số 49/QĐ-UBND ngày 06/02/2009 về việc thu hồi đất và giao cho Ủy ban nhân dân xã Hàm Cường quản lý, nhưng gia đình bà Nguyễn Thị Xuân H vẫn tiếp tục quản lý, sử dụng ổn định, liên tục, không có tranh chấp từ đó đến nay, chính quyền địa phương cũng không có ý kiến gì.
Ngoài ra, số tiền ông Đỗ Ngọc D chuyển nhượng thửa đất cho bà Nguyễn Thị Xuân H, do Thanh tra huyện Hàm Thuận Nam thu giữ của ông Đỗ Ngọc Diệp, hiện nay Ủy ban nhân dân huyện Hàm Thuận Nam cũng đã chuyển nộp vào ngân sách Nhà nước.
Vì vậy, việc thu hồi đất và thu hồi giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của Ủy ban nhân dân huyện Hàm Thuận Nam đối với bà Nguyễn Thị Xuân H theo các Quyết định số 49/QĐ-UBND ngày 06/02/2009, Quyết định số 593/QĐ-UBND ngày 31/12/2008 cũng không đúng quy định tại khoản 1 Điều 4, khoản 5 Điều 38 Luật đất đai năm 2003 và khoản 3 Điều 42 Nghị định số 181/2004/NĐ-CP ngày 29/10/2004.
[2.2.3] Ngoài 02 quyết định hành chính bị khiếu kiện trên, quá trình giải quyết vụ án, phía người bị kiện xác định Ủy ban nhân dân huyện Hàm Thuận Nam còn ban hành Quyết định số 137/QĐ-UBND ngày 30/3/2009 về việc hủy bỏ giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AK 825... do Ủy ban nhân dân huyện Hàm Thuận Nam cấp ngày 27/11/2007, nên người khởi kiện bà Nguyễn Thị Xuân H yêu cầu Hội đồng x t xử xem x t hủy Quyết định số 137/QĐ-UBND này, vì đây là quyết định hành chính liên quan đến quyết định hành chính bị khiếu kiện. Xét thấy yêu cầu này của người khởi kiện là có căn cứ, trong phạm vi thẩm quyền xem xét của Hội đồng x t xử theo quy định tại Điều 193 Luật Tố tụng hành chính, nên Hội đồng x t xử chấp nhận xem x t và chấp nhận yêu cầu hủy quyết định hành chính liên quan đến quyết định hành chính bị khiếu kiện như nhận định tại mục [2.2.2] nêu trên, để đảm bảo việc giải quyết vụ án được toàn diện và triệt để.
[3] Từ nhận định trên, x t thấy yêu cầu khởi kiện của người khởi kiện bà Nguyễn Thị Xuân H là có căn cứ nên Hội đồng x t xử chấp nhận, như ý kiến đề nghị của Kiểm sát viên là phù hợp. [4] Về án phí: Do yêu cầu của người khởi kiện được chấp nhận nên người bị kiện Ủy ban nhân dân huyện Hàm Thuận Nam phải chịu án phí hành chính sơ thẩm theo quy định tại khoản 2 Điều 32 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội. [5] Về chí phí xem x t, thẩm định tại chỗ: Bà Nguyễn Thị Xuân H tự nguyện chịu. Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào: - Khoản 1 Điều 30, khoản 4 Điều 32, khoản 2 Điều 173, điểm b, c khoản 2 Điều 193 Luật tố tụng hành chính;
- Khoản 1 Điều 4, khoản 5 Điều 38 Luật đất đai 2003; khoản 3
Điều 42 Nghị định số 181/2004/NĐ-CP ngày 29/10/2004; khoản 1 Điều 16, khoản 2 Điều 66, khoản 1 Điều 75 Luật đất đai năm 2013;
- Khoản 2 Điều 32 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14
ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội; Tuyên xử: 1. Đình chỉ x t xử yêu cầu khởi kiện của người khởi kiện bà Nguyễn Thị Xuân H về việc yêu cầu tuyên bố hành vi hành chính của Chủ tịch Ủy ban nhân dân huyện Hàm Thuận Nam về việc không thực hiện giải quyết đơn khiếu nại của bà Nguyễn Thị Xuân H là trái pháp luật. 2. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của người khởi kiện bà Nguyễn Thị Xuân H: 2.1. Tuyên bố hành vi hành chính của Ủy ban nhân dân huyện Hàm Thuận Nam về việc không ban hành quyết định thu hồi đất và quyết định phê duyệt bồi thường, hỗ trợ do thu hồi diện tích 1.744,2m2 đất thuộc thửa số 32, tờ bản đồ số 00 (theo bản đồ trích đo là 02 thửa đất số 38 và 44, tờ bản đồ số 04), tọa lạc tại thôn PT, xã HC, huyện Hàm Thuận Nam, tỉnh Bình Thuận, đã được Ủy ban nhân dân huyện Hàm Thuận Nam cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AI 033... ngày 22/10/2007 cho Nguyễn Hữu T, cập nhật biến động sang tên bà Nguyễn Thị Xuân H ngày 16/01/2007 là trái pháp luật. 2.2. Buộc Ủy ban nhân dân huyện Hàm Thuận Nam chấm dứt hành vi trái pháp luật và thực hiện nhiệm vụ, công vụ theo quy định, ban hành quyết định thu hồi đất và quyết định phê duyệt bồi thường, hỗ trợ do thu hồi diện tích 1.744,2m2 đất thuộc thửa số 32, tờ bản đồ số 00 (theo bản đồ trích đo là 02 thửa đất số 38 và 44, tờ bản đồ số 04), tọa lạc tại thôn PT, xã HC, huyện Hàm Thuận Nam, tỉnh Bình Thuận, đã được Ủy ban nhân dân huyện Hàm Thuận Nam cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AI 033... ngày 22/10/2007 cho ông Nguyễn Hữu Thọ, cập nhật biến động sang tên bà Nguyễn Thị Xuân H ngày 16/01/2007, theo đúng quy định của pháp luật đất đai.
2.3. Hủy các quyết định hành chính của Ủy ban nhân dân huyện Hàm Thuận Nam gồm:
- Quyết định số 590/QĐ-UBND ngày 31/12/2008 về việc thu hồi giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AI 033... ngày 22/10/2007 (số vào sổ cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất H 01263), cập nhật biến động ngày 10/01/2008;
- Quyết định số 48/QĐ-UBND ngày 06/02/2009 về việc thu hồi đối với thửa đất số 32, tờ bản đồ số 00, diện tích 19.000m2 đất trồng cây hàng năm, tọa lạc tại thôn PT, xã HC, huyện Hàm Thuận Nam đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AI 033... ngày 22/10/2007 để giao cho Ủy ban nhân dân xã Hàm Cường quản lý.
- Quyết định số 139/QĐ-UBND ngày 30/3/2009 về việc hủy bỏ giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AI 033... ngày 22/10/2007.
- Quyết định số 593/QĐ-UBND ngày 31/12/2008, về việc thu hồi giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AK 825... ngày 27/11/2007 (số vào sổ cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất H 01358), cập nhật biến động ngày 09/01/2008;
- Quyết định số 49/QĐ-UBND ngày 06/02/2009 về việc thu hồi đối với thửa đất số 34, tờ bản đồ số 00/QH, diện tích 16.200,0m2 đất trồng cây hàng năm (HNK), tọa lạc tại thôn PT, xã HC, huyện Hàm Thuận Nam đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AK 825... ngày 27/11/2007 để giao cho Ủy ban nhân dân xã Hàm Cường quản lý.
- Quyết định số 137/QĐ-UBND ngày 30/3/2009 về việc hủy bỏ giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AK 825... ngày 27/11/2007.
3. Về án phí hành chính sơ thẩm:
3.1. Buộc Ủy ban nhân dân huyện Hàm Thuận Nam phải chịu 300.000đồng (Ba trăm nghìn đồng) án phí hành chính sơ thẩm.
3.2. Hoàn trả lại cho bà Nguyễn Thị Xuân H 300.000đồng (Ba trăm nghìn đồng) tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu số 0008987 ngày 23/11/2020 của Cục Thi hành án dân sự tỉnh Bình Thuận.
4. Về chi phí xem x t, thẩm định tại chỗ: Người khởi kiện bà Nguyễn Thị Xuân H tự nguyện chịu 2.395.000 đồng (Hai triệu, ba trăm chín mươi lăm nghìn đồng), bà Nguyễn Thị Xuân H đã nộp đủ.
5. Về quyền kháng cáo: Các đương sự có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án (ngày 24/5/2022); đương sự vắng mặt tại phiên tòa, có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày được giao bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của Luật tố tụng hành chính. Nơi nh n:
| - VKSND tỉnh B.Thuận; - Cục THADS tỉnh B.Thuận; - Các đương sự; - Lưu: hồ sơ, THC; | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PH N – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Hồng Thái |