- Tranh chấp gì? Đòi bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng về sức khỏe, tính mạng — án dân sự — "Ngô văn H - Trương Hữu Ph"
- Tòa quyết gì? Xử: Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện đòi bồi thường thiệt hại sức khỏe bị xâm phạm do tai nạn giao thông của nguyên đơn ông Nguyễn Văn H đối với bị đơn ông Trương Hữu Ph.
- Căn cứ chính? Điều 11 Bộ luật Dân sự; Điều 217 Bộ luật tố tụng dân sự đình chỉ một phần yêu cầu khởi kiện; Điều 218 Bộ luật tố tụng dân sự đình chỉ một phần yêu cầu khởi kiện
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN GÒ QUAO TỈNH KIÊN GIANG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 28/2022/DS-ST Ngày: 28-7-2022. V/v: “Tranh chấp kiện đòi bồi thường thiệt hại sức khỏe do tai nạn giao thông”. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN GÒ QUAO, TỈNH KIÊN GIANG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Trần Hoài Thanh.
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Danh Quý;
2. Ông Võ Văn Liềm.
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Nghĩa - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Gò Quao.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện Gò Quao tham gia phiên tòa: Nguyễn Thị Cúc – Kiểm sát viên.
Ngày 28/7/2022 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Gò Quao xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 22/2022/TLST-DS ngày 18 tháng 02 năm 2022 về việc “Tranh chấp kiện đòi thường thiệt hại sức khỏe do tai nạn giao thông” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 32/2022/QĐXXST-DS, ngày 11 tháng 7 năm 2022, giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Ông Ngô Văn H - sinh năm 1980 (có mặt).
Địa chỉ: Ấp H, xã Th, huyện G, tỉnh K.
2. Bị đơn: Ông Trương Hữu Ph - sinh năm 1984 (có mặt).
Địa chỉ: Ấp H, xã Th, huyện G, tỉnh K.
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo đơn khởi kiện đề ngày 28/12/2021 và tại phiên tòa nguyên đơn ông Ngô Văn H trình bày: Vào ngày 02/4/2021 tôi chạy xe biển kiểm soát số 68K1 - 059.04 từ nhà tôi ấp H xuống đường ruộng đến đoạn nhà ông O và ông B thì xảy ra va chạm với xe biển kiểm soát số 72H4 - 9061 do ông Ph điều khiển trong tình trạng sử dụng rượu bia, làm xe tôi bị hư bửng trước bên trái, cong cần số, làm tôi bị thương 5 ngón chân, bàn trái (trong đó dứt ngón thứ IV khi xảy ra tại nạn, ngón I và ngón III dập xương không nối lại được còn ngón II và ngón V bị gãy xương nối lại được), ngoài ra không còn thương tích nào khác. Sau khi tôi bị thương tích như trên thì được gia đình được đi bệnh viện đa khoa tỉnh K cấp cứu và nằm viện điều trị từ ngày 02/4/2021 đến ngày 06/4/2021 thì ra viện về nhà điều trị. Từ khi xảy ra tai nạn thì ông Ph và gia đình không có hỏi thăm và đưa tiền cho tôi điều trị. Lúc xảy ra tai nạn có Công an giao thông huyện G xuống lập hiện trường, xác minh sự việc. Đồng thời, giữa tôi và ông Ph có hòa giải tại Công an huyện G nhưng không thành. Hơn nữa, tôi xác định ông Ph có sử dụng rượu bia, chạy xe với tốc độ nhanh đụng thẳng vào bên trái xe tôi chứ không có va quẹt như ông Ph trình bày và khi xảy ra tai nạn thì chỉ có tôi và ông Ph, ngoài ra không có ai chứng kiến.
Sau khi tại nạn xảy ra thì Công an huyện G có giải quyết giữa tôi và ông Ph thì tôi yêu cầu ông Ph bồi thường cho tôi các khoản với tổng số tiền là 103.000.000 đồng nhưng ông Ph chỉ bồi thường cho tôi là 4.000.000 đồng nên tôi không đồng ý, từ đó giải quyết không thành.
Đồng thời, tại phiên tòa ông Ngô Văn H bổ sung yêu cầu khởi kiện của mình là tiền sửa xe là 5.000.000 đồng và ông xin rút một phần yêu cầu khởi kiện là: Tiền không lao động được khi ra viện là 6 tháng x 300.000đ/ngày = 54.000.000 đồng và tiền thuê người nuôi bệnh tại nhà là 3 tháng x 300.000đ/ngày = 22.500.000 đồng.
Do đó, ông Ngô Văn H yêu cầu ông Trương Hữu Ph phải bồi thường thiệt hại sức khỏe bị xâm phạm do tại nạn giao với tổng số tiền là 27.000.000 đồng (trong đó: Tiền chi phí điều trị theo toa là 12.000.000đ; tiền thuê xe 10 chuyến là 5.000.000đ; tiền sửa xe là 5.000.000đ; tiền ăn tại bệnh viện là 2.000.000đ; tiền công không lao động được của người bệnh là 5 ngày x 300.000đ = 1.500.000đ và tiền công người nuôi bệnh là 5 ngày x 300.000đ = 1.500.000đ).
Tại bản tự khai đề ngày 15/3/2022 và tại phiên tòa bị đơn ông Trương Hữu Ph trình bày: Vào ngày 02/4/2021 tôi chạy xe biển kiểm soát số 72H4 - 9061 từ đường ruộng ấp H về nhà tôi đến đoạn nhà ông O và ông B thì xảy ra va chạm với xe biển kiểm soát số 68K1 - 059.04 do ông H điều khiển, làm xe ông H bị hư bửng trước bên trái, công cần số, làm ông H bị thương 5 ngón chân, bàn trái như ông H trình bày là đúng. Hơn nữa, vào ngày xảy ra tai nạn tôi có sử dụng rượu bia, chạy xe với tốc độ chậm nên va quẹt với xe ông H chứ không có đụng thẳng vào như ông H trình bày và khi xảy ra tai nạn thì chỉ có tôi và ông H ngoài ra không có ai chứng kiến.
Sau đó, ông H đi điều trị nhưng tôi không biết bao nhiêu ngày, từ khi xảy ra tại nạn thì tôi không có đến hỏi thăm ông H và không có đưa tiền cho ông H điều trị. Đồng thời, vụ tai nạn xảy ra thì Công an huyện G có giải quyết giữa tôi và ông H thì tôi đồng ý bồi thường cho ông H 4.000.000 đồng nhưng bên ông H không đồng ý nên giải quyết không không thành.
Nay, ông H khởi kiện thì tôi thừa nhận có va quẹt gây thương tích cho ông H nên tôi đồng ý bồi thường cho ông H tổng số tiền là 27.000.000 đồng (trong đó: Tiền chi phí điều trị theo toa là 12.000.000đ; tiền thuê xe 10 chuyến là 5.000.000đ; tiền sửa xe là 5.000.000đ; tiền ăn tại bệnh viện là 2.000.000đ; tiền công không lao động được của người bệnh là 5 ngày x 300.000đ = 1.500.000đ và tiền công người nuôi bệnh là 5 ngày x 300.000đ = 1.500.000đ) như ông H yêu cầu.
Kiểm sát viên tham gia phiên tòa phát biểu quan điểm:
Về tố tụng: Quá trình tiến hành tố tụng, Tòa án đã tuân thủ các thủ tục về thụ lý vụ án, xác định đúng quan hệ tranh chấp, tư cách đương sự, thẩm quyền giải quyết của Tòa án cũng như các thủ tục hòa giải, thủ tục tố tụng tại phiên tòa là đúng theo qui định. Đối với đương sự đã tuân thủ đúng theo quy định của pháp luật. Tuy nhiên, cũng còn một số vi phạm như: Vi phạm về thời hạn chuẩn bị xét xử nên đề nghị Tòa án khắc phục sau này.
Về nội dung vụ án: Qua nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, lời khai của đương sự cũng như tại phiên tòa hôm nay, đối chiếu với các quy định của pháp luật Kiểm sát viên đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là ông Ngô Văn H đối với bị đơn ông Trương Hữu Ph. Do đó, buộc ông Trương Hữu Ph phải bồi thường thiệt sức khỏe bị bị xâm phạm do tai nạn giao thông cho ông H tổng số tiền là 27.000.000 đồng (trong đó: Tiền chi phí điều trị theo toa là 12.000.000đ; tiền thuê xe 10 chuyến là 5.000.000đ; tiền sửa xe là 5.000.000đ; tiền ăn tại bệnh viện là 2.000.000đ; tiền công không lao động được của người bệnh là 5 ngày x 300.000đ = 1.500.000đ và tiền công người nuôi bệnh là 5 ngày x 300.000đ = 1.500.000đ).
Đồng thời, tại phiên tòa nguyên đơn xin rút một phần yêu cầu khởi kiện đối với số tiền là 76.500.000 đồng (gồm: Tiền không lao động được khi ra viện là 6 tháng x 300.000đ/ngày = 54.000.000 đồng và tiền thuê người nuôi bệnh tại nhà là 3 tháng x 300.000đ/ngày = 22.500.000 đồng) nên đề nghị HĐXX đình chỉ xét xử đối với số tiền 76.500.000 đồng này.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
Về tố tụng: Tranh chấp giữa ông Ngô Văn H với ông Trương Hữu Ph là tranh chấp về dân sự được quy định tại Điều 26 và Điều 35 của Bộ luật tố tụng dân sự nên thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án.
Về nội dung: Khoảng 16 giờ 50 phút ngày 02/4/2021 có xảy ra vụ tai nạn giao thông tại ấp H, xã Th do ông Nguyễn Văn H và ông Trương Hữu Ph điều khiển. Theo biên bản khám nghiệm hiện trường và trình bày của ông Nguyễn Văn H thì ông chạy với tốc độ chậm, đúng phần đường sát bên lề phải của mình thì thấy ông Trương Hữu Ph điều khiển xe lấn lề, trong tình trang say rượu nên va quẹt vào xe ông H đang chạy bên lề phải của mình, nguyên nhân xảy ra tai nạn cho ông là do ông Ph gây nên.
Ông Trương Hữu Ph khai vào ngày 02/4/2021 có uống bia tại nhà của ông Vĩnh, sau đó về nhà cùng với ông G, ông Đ, ông Ph1 và ông B uống thêm hết một thùng bia 24 lon. Khi uống hết thùng bia thì ông chạy xe một mình xuống đường ruộng kêu thợ sửa micro, trên đường về nhà đến đoạn nhà ông O và ông B thì va quẹt với xe ông H và ông cũng thừa nhận trong người có uống bia Tuy nhiên, theo xác định nồng độ cồn trong người của ông Ph bằng máy của Đội Cảnh sát Công an giao thông Công an huyện G xác định trong hơi thở có nồng độ cồn vượt quá 0,4 miligam/1 lít khí thở (là 0,982miligam/1 lít/0,4 miligam /1 lít qua đo máy nồng độ cồn) dẫn đến thiếu chú ý quan sát lấn qua lề trái theo hướng đi của mình nên xảy ra va quẹt với ông H Mặt khác, đoạn đường tại nơi xảy ra tai nạn là đoạn đường cong tầm nhìn bị che khuất, không có chướng ngại vật, trời không mưa, khi xảy ra va quẹt, hiện trường không còn nguyên vẹn do quá trình cấp cứu người bị nạn và những phương tiện khác lưu thông qua lại trên đường. Mặc khác, theo báo cáo ngày 21/10/2021 của Đội Cảnh sát Cảnh sát điều tra Công an huyện G và biên bản giải quyết vụ tai nạn giao thông ngày 20/12/2021 của Đội Cảnh sát giao thông Công an huyện G xác định do ông Ph điều khiển xe không đi bên lề phải theo chiều đi của mình mà lấn lề, trong tình trạng say rượu bia, thiếu chú ý quan sát. Do đó, xác định được lỗi chính trong vụ tai nạn giao thông này do ông Ph.
Từ những phân tích trên Hội đồng xét xử thấy rằng, ông Trương Hữu Ph điều khiển xe mà trong người có nồng độ cồn vượt quá quy định, chạy xe lấn lề nên lỗi hoàn toàn do ông Ph gây nên là có căn cứ. Do đó, đối với quy định tại khoản 8 Điều 8 của Luật giao thông đường bộ năm 2008 và điểm e khoản 8 Điều 6 Nghị định số 100/NĐ-CP ngày 30 tháng 12 năm 2019 quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực giao thông đường bộ và đường sắt thì xác định lỗi hoàn toàn do ông Ph gây ra nên ông Ph phải có trách nhiệm bồi thường về sức khỏe cho ông H là phù hợp theo quy định của pháp luật.
Xét về các khoản mà ông Ngô Văn H yêu cầu là chưa phù hợp, cụ thể về tiền thuốc là 12.004.834đ, tiền sửa xe là 5.000.000đ, tiền tàu xe đi về 10 chuyến là 5.000.000đ, tiền công lao động người bệnh là (5 ngày x 300.000 đồng) 1.500.000 đồng, tiền công người nuôi bệnh là (5 ngày x 300.000 đồng) 1.500.000 đồng, tiền không lao được khi ra viện là (6 tháng x 300.000 đồng/ngày) 54.000.000 đồng, tiền thuê người nuôi tại nhà mỗi ngày là (3 tháng x 250.000 đồng/ngày) là 22.500.000 đồng, tổng số tiền là 101.504.834 đồng. Tuy nhiên, tại phiên tòa ông Ngô Văn H và ông Trương Hữu Ph tự nguyện thỏa thuận là ông Ph đồng ý bồi thường cho ông H tổng số tiền là 27.000.000đ (hai mươi bảy triệu đồng) gồm:
+ Tiền thuốc là 12.000.000 đồng.
+ Tiền sửa xe là 5.000.000 đồng.
+ Tiền ăn uống của người bệnh khi nằm viện là 2.000.000 đồng.
+ Tiền công người bệnh là 300.000đ/ngày x 5 ngày = 1.500.000 đồng.
+ Tiền công người nuôi bệnh là 300.000đ/ngày x 5 ngày = 1.500.000 đồng.
+ Tiền tàu xe đi và về 10 chuyến x 500.000đ = 5.000.000 đồng.
Do đó, HĐXX ghi nhận sự tự nguyện thỏa thuận của ông Ngô Văn H và ông Trương Hữu Ph về số tiền bồi thường nêu trên. Tuy nhiên, giữa ông Ngô Văn H và ông Trương Hữu Ph không thống nhất cách trả tiền, cụ thể ông H yêu cầu trả một lần là hết số tiền 27.000.000 đồng còn ông Ph xin trả dần số tiền trên mỗi tháng là 200.000 đồng cho đến khi hết số tiền này nhưng yêu cầu này của ông Ph không được ông Ngô Văn H chấp nhận nên HĐXX không xem xét.
Tại phiên tòa nguyên đơn là ông Ngô Văn H xin rút một phần yêu cầu khởi kiện của mình đối với số tiền là 76.500.000 đồng (gồm: Tiền không lao động được khi ra viện là 6 tháng x 300.000đ/ngày = 54.000.000 đồng và tiền thuê người nuôi bệnh tại nhà là 3 tháng x 300.000đ/ngày = 22.500.000 đồng) nên Hội đồng xét xử căn cứ vào Điều 217, 218, 219 của Bộ luật tố tụng dân sự đình chỉ một phần yêu cầu khởi kiện của Ngô Văn H.
Tại phiên tòa, sau khi nghe lời trình bày của nguyên đơn, bị đơn và đại diện Viện kiểm sát có quan điểm chấp nhận một phần yêu cầu của nguyên đơn, xét đề nghị của Kiểm sát viên tại phiên tòa là có căn cứ nên Hội đồng xét xử chấp nhận.
Do đó, cần buộc ông Trương Hữu Ph phải bồi thường thiệt hại sức khỏe bị xâm phạm do tai nạn giao thông cho ông Nguyễn Văn H số tiền là 27.000.000đ (hai mươi bảy triệu đồng).
Về án phí DSST có giá ngạch: Áp dụng khoản 2 Điều 26 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội khóa 14 Quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Ông Nguyễn Văn H được miễn án phí theo quy định của pháp luật.
Ông Trương Hữu Ph phải chịu án phí dân sự sơ thẩm có giá ngạch là 27.000.000đ x 5% = 1.350.000đ (một triệu ba trăm năm mươi nghìn đồng).
Vì các lẻ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào Điều 11, Điều 584, Điều 590 và Điều 688 của Bộ luật dân sự năm 2015; khoản 2 Điều 26 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội khóa 14 Quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
1. Xử: Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện đòi bồi thường thiệt hại sức khỏe bị xâm phạm do tai nạn giao thông của nguyên đơn ông Nguyễn Văn H đối với bị đơn ông Trương Hữu Ph.
Buộc ông Trương Hữu Ph phải có trách nhiệm bồi thường thiệt hại sức khỏe bị xâm phạm do tai nạn giao thông cho ông Nguyễn Văn H số tiền là 27.000.000đ (hai mươi bảy triệu đồng).
Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong, tất cả các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật Dân sự năm 2015.
Đình chỉ một phần yêu cầu của khởi kiện của ông Ngô Văn H đối với ông Trương Hữu Ph đối với số tiền là 76.500.000 đồng (gồm: Tiền không lao động được khi ra viện là 6 tháng x 300.000đ/ngày = 54.000.000 đồng và tiền thuê người nuôi bệnh tại nhà là 3 tháng x 300.000đ/ngày = 22.500.000 đồng).
2. Về án phí dân sự sơ thẩm là: 1.350.000đ (một triệu ba trăm năm mươi nghìn đồng), buộc ông Trương Hữu Ph phải nộp.
3. Báo cho ông Nguyễn Văn H và ông Trương Hữu Ph biết có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án là ngày 28/7/2022.
Trường hợp bản án quyết định được thi hành theo qui định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo qui định tại các Điều 6, Điều 9 Luật Thi hành án dân sự và Điều 7, Điều 7a và Điều 7b Luật Thi hành án dân sự sửa đổi bổ sung năm 2014, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
| Nơi nhận: - Đương sự; - VKSND huyện Gò Quao; - Chi cục THADS huyện Gò Quao; - TAND tỉnh Kiên Giang; - Lưu hồ sơ vụ án. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ Trần Hoài Thanh |