vanban.org

Bản án 28/2021/HSST — Hình sự

TAND TP. Bắc Kạn, tỉnh Bắc Kạn Tuyên án 24/03/2021 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Thiện Ph phạm tội “Vận chuyển hàng cấm”.

Điều luật áp dụng và hình phạt đối với bị cáo: Xử phạt bị cáo Nguyễn Thiện Ph 07 (Bảy) tháng tù. Thời hạn tù được tính từ ngày tạm giữ, tạm giam 15/12/2020. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Thiện Ph - phạm tội tàng trữ, vận chuyển hàng cấm (điều 191 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Thiện Ph phạm tội “Vận chuyển hàng cấm”.
  • Căn cứ chính? Điều 191 Bộ luật Hình sự; Điều 51 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ B
TỈNH BẮC KẠN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 28/2021/HSST
Ngày 24/3/2021

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ B, TỈNH BẮC KẠN

Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Nguyễn Thị Nguyệt Thu.

Các Hội thẩm nhân dân: 1/ Bà Đoàn Thị Nhâm;

2/ Ông Hà Văn Tiến;

Thư ký phiên tòa: Bà Lê Thị Lộc – Thư ký của Tòa án nhân dân thành phố B, tỉnh Bắc Kạn.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố B, tỉnh Bắc Kạn tham gia phiên tòa: Ông Nông Văn Thuật – Kiểm sát viên.

Ngày 24 tháng 3 năm 2021, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố B, tỉnh Bắc Kạn xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 29/2021/TLST - HS ngày 03/3/2021 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 31/2021/QĐXXST-HS ngày 12/3/2021 đối với bị cáo:

Nguyễn Thiện Ph; tên gọi khác: Không; sinh ngày: 27/3/1996 tại Thái Nguyên; nơi đăng ký HKTT và chỗ ở: Xóm Y4, xã Y, huyện Ph, tỉnh Thái Nguyên; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: 8/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông: Nguyễn Quốc T và bà Ngô Thị L; vợ, con: Chưa có; tiền án, tiền sự: Không;

Nhân thân: Ngày 02/6/2015 Nguyễn Thiện Ph bị Tòa án nhân dân huyện Ph, tỉnh Thái Nguyên xử phạt 15 tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 30 tháng về tội “Buôn bán hàng cấm” (Đã được xóa án tích).

Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an thành phố Bắc Kạn từ ngày 15/12/2020 cho đến nay. Có mặt tại phiên tòa.

NỘI DUNG VỤ Á N:

Theo các tài liê ̣u có trong hồ sơ vu ̣ án và diễn biến ta ̣i phiên tòa , nô ̣i dung vu ̣ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 04 giờ ngày 31/12/2018 tại km 143+700 QL3 thuộc tổ Th, phường X, TP Bắc Kạn tổ công tác phòng Cảnh sát giao thông Công an tỉnh Bắc Kạn thực hiện kế hoạch thanh tra kiểm soát giao thông đường bộ tuyến QL3 Bắc Kạn – Chợ Mới từ km 116 đến km 158 thì phát hiện có 01 xe mô tô BKS 20E1-162.xx chạy hướng Cao Bằng – Hà Nội có biểu hiện nghi vấn nên đã ra hiệu lệnh dừng phương tiện để kiểm tra. Lái xe đã dừng lại, vứt xe bỏ chạy được khoảng 100m thì tổ công tác bắt giữ được. Qua kiểm tra tổ công tác phát hiện xe mô tô BKS 20E1-162.xx chở trên xe 01 bao tải dứa màu vàng, sau xe đèo 02 túi xách màu đen đỏ cùng 01 ba lô đeo lưng màu đen bên trong có chứa vật nghi là pháo. Qua đấu tranh khai thác thì được biết họ tên đầy đủ của người lái xe là Nguyễn Thiện Ph, sinh năm 1996, trú tại xóm Y4, xã Y, huyện Ph, tỉnh Thái Nguyên. Tổ công tác đã lập biên bản sự việc đưa người cùng tang vật, phương tiện về trụ sở Phòng Cảnh sát giao thông Công an tỉnh Bắc Kạn.

Vụ việc sau đó được chuyển đến Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố B để giải quyết theo thẩm quyền.

Tại Cơ quan điều tra Nguyễn Thiện Ph khai nhận: Do quen biết người đàn ông tên B (không rõ họ tên đệm và địa chỉ cụ thể) và Đinh Xuân Đ, sinh năm 1998, trú tại xóm Th, xã Ngh, huyện Ngh, tỉnh Nghệ An từ trước, ngày 26/12/2018 B gọi điện thoại cho Nguyễn Thiện Ph để thuê vận chuyển pháo từ tỉnh Bắc Kạn đến tỉnh Bắc Ninh nhưng Nguyễn Thiện Ph không đồng ý vì vận chuyển quãng đường xa, mệt mỏi. Sau đó Đinh Xuân Đ gọi điện thuê Ph vận chuyển pháo hoa với giá 1.500.000đ (Một triệu năm trăm nghìn đồng) và lấy pháo từ chỗ B tại thị trấn N, huyện Ng, tỉnh Bắc Kạn đến đường tròn T thuộc phường T, thành phố Th, tỉnh Thái Nguyên, lúc này Ph đồng ý. Đến ngày 28/12/2018 Đ tiếp tục gọi điện cho Ph nói ngày 31/12/2018 Nguyễn Thiện Ph lên lấy pháo sớm cho Đ để được nghỉ Đ còn đem về quê luôn, Ph đồng ý. Vào khoảng rạng sáng ngày 31/12/2018, Nguyễn Thiện Ph một mình sử dụng xe mô tô nhãn hiệu YAMAHA Exciter biển kiểm soát 20E1 – 162.xx màu xanh, chiếc xe mô tô đăng ký mang tên Nguyễn Thiện Ph đi từ nhà của mình thuộc xóm Y 4, xã Y, huyện Ph, tỉnh Thái Nguyên đi theo đường Quốc lộ 3 mới hướng Thái Nguyên – Cao Bằng đến khoảng 02 giờ sáng cùng ngày Nguyễn Thiện Ph đến khu vực thị trấn N, huyện Ng thì gặp một người tên B quê ở huyện Ng, tỉnh Bắc Kạn đang ngồi trên xe mô tô nhãn hiệu Sirius, màu đen không rõ biển kiểm soát đang ngồi chờ ở cạnh đường Quốc lộ 3. Sau đó B bảo quay lại Ngã Ba thị trấn Ph, huyện B để lấy pháo, đến nơi Nguyễn Thiện Ph chờ ở Ngã Ba Ph, còn B một mình điều khiển xe mô tô của B theo hướng đường đi huyện B, tỉnh Bắc Kạn. Khoảng 10 phút sau thì B quay lại trên xe trở theo 01 bao tải dứa màu vàng và 02 túi xách (trong đó 01 túi màu đỏ chấm bi màu trắng, 01 túi màu đen) rồi bảo đi xuống dưới tìm chỗ vắng người để sang hàng, khi đi đến đoạn vắng ít nhà và người thì cả hai hộ nhau chuyển pháo sang xe của Nguyễn Thiện Ph tuy nhiên do bao tải dứa màu vàng để ở giữa bị vướng khó điều khiển nên Nguyễn Thiện Ph đã lấy bớt các quả pháo đựng trong bao tải dứa màu vàng để cho sang ba lô màu xanh + đen của mình mang theo đựng quần áo, khi buộc xong số pháo lên xe B đưa cho Nguyễn Thiện Ph 1.000.000 đồng (Một triệu đồng) tiền công vận chuyển và nói khi nào Đ nhận được hàng thì Đ trả nốt 500.000 đồng (Năm trăm nghìn đồng) còn lại. Sau khi nhận tiền và hàng Nguyễn Thiện Ph điều khiển xe mô tô di chuyển theo hướng Cao Bằng – Hà Nội đến Km 143+700 Quốc lộ 3 thuộc tổ Th (nay là tổ 7), phường X, thành phố B, tỉnh Bắc Kạn thì bị tổ tuần tra Cảnh sát giao thông thuộc Phòng Cảnh sát giao thông Công an tỉnh Bắc Kạn phát hiện, lập biên bản sự việc và đưa về trụ sở Phòng giao thông Công an tỉnh Bắc Kạn để làm việc, sau đó chuyển đến Công an thành phố B để xử lý theo thẩm quyền.

Quá trình kiểm tra, cân xác định khối lượng và lấy mẫu giám định ngày 31/12/2018 cho thấy: Tổng số pháo nổ Nguyễn Thiện Ph đã vận chuyển trái phép là 36,9 kg (Ba mươi sáu phẩy chín kilôgam).

Tại Kết luận giám định số 157/ C09 – P2 ngày 22/01/2019 của Viện khoa học hình sự - Bộ Công an kết luận:

- Mẫu vật ký hiệu loại 1 gửi giám định đều là pháo có đầy đủ đặc tính của pháo nổ (có chứa thuốc pháo và khi đốt có gây tiếng nổ).

- Mẫu vật ký hiệu loại 2 gửi giám định đều là pháo nổ.

Trong quá trình điều tra, truy tố, bị can Nguyễn Thiện Ph thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội của mình. Lời khai của Nguyễn Thiện Ph phù hợp với các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án.

Tại bản Cáo trạng số 12/CT-VKSTPBK, ngày 03 tháng 3 năm 2021 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố B đã truy tố bị cáo Nguyễn Thiện Ph vÒ téi “Vận chuyển hàng cấm” quy định tại điểm c khoản 1 Điều 191 Bộ luật hình sự.

Điều luật có nội dung:

“1. Người nào tàng trữ, vận chuyển hàng cấm thuộc một trong các trường hợp sau đây, nếu không thuộc trường hợp quy định tại các điều 232, 234, 239, 244, 246, 249, 250, 253, 254, 304, 305, 306, 309 và 311 của Bộ luật này, thì bị phạt tiền từ 50.000.000 đồng đến 300.000.000 đồng hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm:

a) …

…

c) Pháo nổ từ 06 kilôgam đến dưới 40 kilôgam”.

4. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm.”

Tại phiên tòa:

Đại diện Viện kiểm sát vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố đối với bị cáo theo Cáo trạng, đề nghị Hội đồng xét xử:

Tuyên bố bị cáo Nguyễn Thiện Ph phạm tội “Vận chuyển hàng cấm”. Áp dụng điểm c khoản 1, khoản 4 Điều 191; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo Nguyễn Thiện Ph từ 06 đến 09 tháng tù. Thời hạn tù được tính từ ngày tạm giữ, tạm giam 15/12/2020.

Hình phạt bổ sung: Đề nghị phạt bổ sung số tiền 10.000.000 đồng đối với bị cáo để sung vào Ngân sách Nhà nước.

Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.

-Tịch thu tiêu hủy:

+ 01 (một) bao tải dứa màu vàng, đã qua sử dụng;

+ 01 (một) túi xách bằng vải bạt màu đen, đã qua sử dụng;

+ 01 (một) túi xách bằng vải bạt màu đỏ, đã qua sử dụng;

+ 01 (một) ba lô màu đen xanh, đã qua sử dụng;

+ 02 (hai) chiếc áo mưa bằng nilon màu xanh và màu vàng đã qua sử dụng;

+ 10 (mười) chiếc túi nilon màu đỏ, đã qua sử dụng;

+ 01 (một) túi nilon màu trắng và 01 (một) túi nilon màu xanh đã qua sử dụng;

+ 01 (một) gậy rút loại ba khúc bằng kim loại, tay cầm có ốp cao su màu đen, đã qua sử dụng;

+ 05 (năm) hộp giấy cứng đã dùng băng dính dán kín và dán giấy niêm phong trên giấy có chữ ký xác nhận của ông Bùi Viết M, ông Nông Văn Th, ông Đồng Xuân Kh và bị cáo Nguyễn Thiện Ph, trên giấy đều có 03 (ba) hình dấu đỏ của Cơ quan CSĐT Công an thành phố B.

- Tịch thu hóa giá sung Ngân sách Nhà nước:

+ 01 (một) xe mô tô BKS 20E1 - 162.xx nhãn hiệu YAMAHA Exciter màu xanh trắng, đã qua sử dụng (kèm 01 chìa khóa điện) và 01 (một) chứng nhận đăng kí xe mô tô số 047719;

+ 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu HUAWEI, vỏ màu đen đã qua sử dụng. Bên trong gắn 02 thẻ sim Viettel, số thuê bao sim 1: 03368116xx, số thuê bao sim 2: 03697322xx.

- Tịch thu sung Ngân sách Nhà nước số tiền 1.000.000đồng (Một triệu đồng) được niêm phong trong phong bì ký hiệu T08A và dán kín, niêm phong bằng 03 (ba) dấu tròn màu đỏ của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Bắc Kạn.

- Trả lại cho bị cáo: 01 (một) giấy phép lái xe hạng A2, số 0101370386xx và 01 (một) giấy phép lái xe hạng C, số 0101700998xx cùng mang tên Nguyễn Thiện Ph.

Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Bị cáo Nguyễn Thiện Ph thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội, thừa nhận Cáo trạng truy tố bị cáo về tội danh, điều luật như trên là đúng người, đúng tội và mức hình phạt theo đề nghị của Kiểm sát viên là phù hợp, bị cáo chỉ xin HĐXX xem xét cho bị cáo được hưởng mức án nhẹ nhất theo đề nghị của Kiểm sát viên để bị cáo sớm được trở về với gia đình và xã hội.

NHẬN ĐI ̣NH CỦ A TÒA ÁN:

Trên cơ sở nô ̣i dung vu ̣ án , căn cứ vào các tài liê ̣u có trong hồ sơ vu ̣ án đa ̃

được tranh tụng tại phiên tòa, Hô ̣i đồng xét xử nhâ ̣n định như sau:

[1] Về hành vi, quyết đi ̣nh tố tu ̣ng của Cơ quan cảnh sát điều tra Công anthành phố B, Điều tra viên , Viê ̣n kiểm sát thành phố B và Kiểm sát viên trong quá trinh

̀ điều tra, truy tố đa thự̃

c hiê ̣n đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bô ̣ luâ ̣t Tố tu ̣ng hinh sự. Quá trình điều tra và tại phiên tò a ngườ i tham gia tố tu ̣ng

̀ trong vu ̣ án không có ý kiến khiếu na ̣i về hành vi, quyết đi ̣nh của cơ quan tiến hành tố tụng và người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết đi ̣nh tố tu ̣ng của Cơ quan tiến hành tố tu ̣ng, người tiến hành tố tu ̣ng đa thự̃

c hiê ̣n đều hợp pháp.

[2] Về tội danh: Tại phiên tòa bị cáo Nguyễn Thiện Ph thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội của mình. Lời khai nhận tội của bị cáo phù hợp với các tài liệu, chứng cứ khác đã thu thập có trong hồ sơ vụ án. Vì vậy có đủ cơ sở xác định:

Ngày 31/12/2018, tại Km 143+700 Quốc lộ 3, thuộc tổ Th (Nay là tổ 7), phường X, thành phố B, tỉnh Bắc Kạn, Nguyễn Thiện Ph đã có hành vi vận chuyển trái phép 36,9kg (Ba mươi sáu phẩy chín kilogam) pháo hoa nổ và pháo nổ cho người đàn ông tên B (Không rõ họ, tên đệm và địa chỉ cụ thể) từ khu vực Ngã Ba thị trấn Ph, huyện B, tỉnh Bắc Kạn đến đường tròn T thuộc phường T, thành phố Th, tỉnh Thái Nguyên với số tiền công là 1.500.000đ (Một triệu năm trăm nghìn đồng). Trong đó Ph đã nhận được 1.000.000đ (Một triệu đồng) tiền công, số tiền còn lại 500.000đ (Năm trăm nghìn đồng) khi Ph giao được pháo xong thì sẽ nhận nốt. Nhưng khi Ph vận chuyển đến khu vực tổ Th (Nay là tổ 7), phường X, thành phố B thì bị bắt giữ.

Bị cáo là người có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, biết rõ việc vận chuyển pháo nổ là vi phạm pháp luật tuy nhiên do hám lợi nên đã cố ý vận chuyển trái phép 36,9kg (Ba mươi sáu phẩy chín kilogam) pháo nổ để lấy 1.500.000đ (Một triệu năm trăm nghìn đồng) tiền công vận chuyển. Hành vi của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “Vận chuyển hàng cấm” quy định tại điểm c khoản 1 Điều 191 Bộ luật hình sự. Do vậy Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bắc Kạn truy tố đối với bị cáo về tội danh, điều luật như trên là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

[3] Về tinh chất , mứ c đô ̣ hành vi phạm tội của bị cáo: Tội phạm mà bị cáo

́ thực hiện thuộc trường hợp tội phạm ít nghiêm trọng. Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến chế độ độc quyền của nhà nước trong việc quản lý, kinh doanh các mặt hàng cấm, làm ảnh hưởng xấu đến tình hình an ninh, trật tự xã hội tại địa phương nên cần xử lý theo pháp luật hình sự.

[4] Xét về nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo:

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo và tỏ thái độ ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình do vậy được hưởng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự là “Người phạm tội thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải” quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự. Ngoài ra, trong thời gian chuẩn bị xét xử bị cáo đã tác động gia đình nộp số tiền 10.000.000đ (Mười triệu đồng) tại Chi cục thi hành án dân sự thành phố Bắc Kạn để thi hành án khoản tiền phạt thể hiện bị cáo có ý thức chấp hành pháp luật, do vậy được hưởng thêm tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.

Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào quy định tại Điều 52 Bộ luật hình sự.

Căn cứ vào tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội, nhân thân, các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, HĐXX xét thấy cần áp dụng hình phạt tù đối với bị cáo trong một khoảng thời gian nhất định nhằm răn đe, giáo dục bị cáo và phòng ngừa tội phạm nói chung cho xã hội.

[5] Về hình phạt bổ sung: Xét thấy cần áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo theo quy định tại khoản 4 Điều 191 Bộ luật hình sự.

[6] Về xử lý vật chứng:

- Các đồ vật không có giá trị sử dụng cần tịch thu tiêu hủy gồm:

+ 01 (một) bao tải dứa màu vàng, đã qua sử dụng;

+ 01 (một) túi xách bằng vải bạt màu đen, đã qua sử dụng;

+ 01 (một) túi xách bằng vải bạt màu đỏ, đã qua sử dụng;

+ 01 (một) ba lô màu đen xanh, đã qua sử dụng;

+ 02 (hai) chiếc áo mưa bằng nilon màu xanh và màu vàng đã qua sử dụng;

+ 10 (mười) chiếc túi nilon màu đỏ, đã qua sử dụng;

+ 01 (một) túi nilon màu trắng và 01 (một) túi nilon màu xanh đã qua sử dụng;

+ 01 (một) gậy rút loại ba khúc bằng kim loại, tay cầm có ốp cao su màu đen, đã qua sử dụng;

- Đối với 05 (năm) hộp giấy cứng đã niêm phong trên giấy có chữ ký xác nhận của Nguyễn Thiện Ph và những người tham gia niêm phong, trên mỗi hộp giấy đều có 03 (Ba) dấu tròn đỏ của Cơ quan CSĐT - Công an thành phố Bắc Kạn, là vật thuộc loại Nhà nước cấm tàng trữ, lưu hành cần tịch thu tiêu hủy.

- Đối với 01 (một) xe mô tô BKS 20E1 - 162.xx nhãn hiệu YAMAHA Exciter màu xanh trắng, đã qua sử dụng (kèm 01 chìa khóa điện) và 01 (một) chứng nhận đăng kí xe mô tô số 047719; 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu HUAWEI, vỏ màu đen đã qua sử dụng. Bên trong gắn 02 thẻ sim Viettel, số thuê bao sim 1: 03368116xx, số thuê bao sim 2: 03697322xx, là những công cụ, phương tiện dùng vào việc phạm tội, cần tịch thu hóa giá sung Ngân sách Nhà nước:

- Đối với số tiền 1.000.000 đồng (Một triệu đồng) được niêm phong trong phong bì ký hiệu T08A và dán kín, niêm phong bằng 03 (ba) dấu tròn màu đỏ của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Bắc Kạn, là khoản thu lợi bất chính từ việc phạm tội, cần tịch thu sung Ngân sách Nhà nước.

- Đối với 01 (một) giấy phép lái xe hạng A2, số 0101370386xx và 01 (một) giấy phép lái xe hạng C, số 0101700998xx cùng mang tên Nguyễn Thiện Ph cần trả lại cho bị cáo.

[7] Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

[8] Trong vụ án này còn có đối tượng tên B, theo lời khai của bị cáo Nguyễn Thiện Ph thì B có địa chỉ tại huyện Ng là người giao pháo cho Ph tại Ngã Ba Ph, huyện B, tỉnh Bắc Kạn để vận chuyển đến đường tròn T thuộc phường T, thành phố Th, tỉnh Thái Nguyên. Nhưng quá trình điều tra Cơ quan CSĐT không xác định được nhân thân, lai lịch cụ thể của B nên không có căn cứ xử lý.

Đối với Đinh Xuân Đ, sinh năm 1998, trú tại xóm Th, xã Ngh, huyện Ngh, tỉnh Nghệ An, theo lời khai của bị cáo Nguyễn Thiện Ph là người thuê Ph vận chuyển pháo. Quá trình điều tra, Đ không thừa nhận được thuê Ph vận chuyển pháo và không có tài liệu nào khác chứng minh việc Đ thuê Ph vận chuyển pháo nên không có căn cứ để xử lý Đinh Xuân Đ.

[9] Xét đề nghị của đại diện Viện kiểm sát về tội danh, điều luật áp dụng, mức hình phạt chính, hình phạt bổ sung, xử lý vật chứng và án phí đối với bị cáo là phù hợp, có cơ sở để chấp nhận.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Thiện Ph phạm tội “Vận chuyển hàng cấm”.

2. Điều luật áp dụng và hình phạt đối với bị cáo:

Áp dụng điểm c khoản 1, khoản 4 Điều 191; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự.

Xử phạt bị cáo Nguyễn Thiện Ph 07 (Bảy) tháng tù. Thời hạn tù được tính từ ngày tạm giữ, tạm giam 15/12/2020.

Hình phạt bổ sung: Phạt bổ sung số tiền 10.000.000 đồng đối với bị cáo để sung vào Ngân sách Nhà nước.

3. Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.

-Tịch thu tiêu hủy:

+ 01 (một) bao tải dứa màu vàng, đã qua sử dụng;

+ 01 (một) túi xách bằng vải bạt màu đen, đã qua sử dụng;

+ 01 (một) túi xách bằng vải bạt màu đỏ, đã qua sử dụng;

+ 01 (một) ba lô màu đen xanh, đã qua sử dụng;

+ 02 (hai) chiếc áo mưa bằng nilon màu xanh và màu vàng đã qua sử dụng;

+ 10 (mười) chiếc túi nilon màu đỏ, đã qua sử dụng;

+ 01 (một) túi nilon màu trắng và 01 (một) túi nilon màu xanh đã qua sử dụng;

+ 01 (một) gậy rút loại ba khúc bằng kim loại, tay cầm có ốp cao su màu đen, đã qua sử dụng;

+ 05 (năm) hộp giấy cứng đã dùng băng dính dán kín và dán giấy niêm phong trên giấy có chữ ký xác nhận của ông Bùi Viết M, ông Nông Văn Th, ông Đồng Xuân Kh và bị cáo Nguyễn Thiện Ph, trên giấy đều có 03 (ba) hình dấu đỏ của Cơ quan CSĐT Công an thành phố B.

- Tịch thu hóa giá sung Ngân sách Nhà nước:

+ 01 (một) xe mô tô BKS 20E1 - 162.xx nhãn hiệu YAMAHA Exciter màu xanh trắng, đã qua sử dụng (kèm 01 chìa khóa điện) và 01 (một) chứng nhận đăng kí xe mô tô số 047719;

+ 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu HUAWEI, vỏ màu đen đã qua sử dụng. Bên trong gắn 02 thẻ sim Viettel, số thuê bao sim 1: 03368116xx, số thuê bao sim 2: 03697322xx.

- Tịch thu sung Ngân sách Nhà nước số tiền 1.000.000đồng (Một triệu đồng) được niêm phong trong phong bì ký hiệu T08A và dán kín, niêm phong bằng 03 (ba) dấu tròn màu đỏ của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Bắc Kạn.

- Trả lại cho bị cáo: 01 (một) giấy phép lái xe hạng A2, số 0101370386xx và 01 (một) giấy phép lái xe hạng C, số 0101700998xx cùng mang tên Nguyễn Thiện Ph.

- Tạm giữ của bị cáo Nguyễn Thiện Ph số tiền 10.000.000 đồng do mẹ của bị cáo là bà Ngô Thị L nộp thay theo biên lai thu tiền số 0000135, ngày 12/3/2021 của Chi cục thi hành án dân sự thành phố Bắc Kạn, để bảo đảm thi hành án cho bị cáo.

(Tình trạng vật chứng theo Biên bản giao nhận vật chứng giữa Cơ quan Công an thành phố B và Chi cục Thi hành án dân sự thành phố B).

4. Về án phí: Căn cứ Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí tòa án.

Bị cáo Nguyễn Thiện Ph phải chịu 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng) tiền án phí hình sự sơ thẩm.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án theo quy định tại các điều 6,7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

5. Quyền kháng cáo: Căn cứ các Điều 331, 333 của Bộ luật tố tụng hình sự: Bị cáo có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Cỡ chữ