vanban.org

Bản án 28/2021/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Mèo Vạc, tỉnh Hà Giang Tuyên án 15/11/2021 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố: Các bị cáo Hạ Thị M, y Thị G phạm tội “Trộm c p tài sản”.

Về hình phạt: Tr ờng hợp bị cáo v ng m t tại n i c trú, thay đ i n i c trú ho c n i làm việc thì căn cứ Điều 92 u t Thi hành án hình sự để thi hành. Trong thời gian thử thách bị cáo không đ ợc xuất cảnh. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Hạ Thị M cùng đồng phạm - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố: Các bị cáo Hạ Thị M, y Thị G phạm tội “Trộm c p tài sản”.
  • Căn cứ chính? Điều 36 Bộ luật Hình sự; Điều 65 Bộ luật Hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN M
TỈNH HÀ GIANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 28/2021/HS-ST
Ngày 15-11-2021

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN M, TỈNH HÀ GIANG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán-Chủ tọa phiên tòa: ng Củng Tr n

ng

Các Hội thẩm nhân dân:

ng Tr n Ng c Th ng

ng: Ngô Chí C ờng

- Thư ký phiên tòa: Ông: Mua Mí Chứ - Th ký Tòa án nhân dân huyện M.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện M, tỉnh Hà Giang tham gia phiên tòa: ng: Nguyễn Tiến Dũng - Kiểm sát viên.

Ngày 15/11/2021 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện M, tỉnh Hà Giang xét xử s th m công khai vụ án hình sự thụ lý số: 24/2021/TLST-HS ngày 18/10/2021 theo Quyết định đ a vụ án ra xét xử số: 28/2021/QĐXXST-HS ngày 02/11/2021 đối với các bị cáo:

1. Hạ Th M; (tên g i khác: Không có); sinh năm: 1975, tại: huyện M, tỉnh Hà Giang; N i c trú: Thôn T, xã C, huyện M, tỉnh Hà Giang; Nghề nghiệp: Làm n ng; Trình độ văn hóa: 0/12; Dân tộc: Hmông; giới tính: N ; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; Con ông: Hạ Chá V (đã chết) và bà Vàng Thị Say (đã chết); có ch ng là Già Chứ Tính, sinh năm 1971, con: có 06 con; tiền án, tiền sự: không; nhân thân: tốt.

Bị cáo bị áp dụng biện pháp cấm đi khỏi n i c trú. Hiện bị cáo đang tại ngoại tại xã C, huyện M, tỉnh Hà Giang. Có m t.

2. Th G; (tên g i khác: Không có); sinh năm: 1985, tại: huyện M, tỉnh Hà Giang; N i c trú: Thôn L, xã C, huyện M, tỉnh Hà Giang; Nghề nghiệp: Làm n ng; Trình độ văn hóa: 0/12; Dân tộc: Hmông; giới tính: N ; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; Con ông: y Chúa ía (đã chết) và bà Già Thị V , sinh năm 1963; có ch ng là Già Mí Pó, sinh năm 1989, con: có 02 con; tiền án, tiền sự: không; nhân thân: tốt.

Bị cáo bị áp dụng biện pháp cấm đi khỏi n i c trú. Hiện bị cáo đang tại ngoại tại xã C, huyện M, tỉnh Hà Giang. Có m t.

Người bào chữa cho các bị cáo: Bà Nguyễn Thị , Trợ giúp viên pháp lý thuộc trung tâm TGP NN tỉnh Hà Giang. V ng m t, gửi lu n cứ bào ch a

- Bị hại: u Mí G1, sinh năm 1996; địa chỉ: Thôn T, xã X, huyện M, tỉnh Hà Giang. V ng m t

- Những người làm chứng: Già Chứ T, Già Mí P (có m t); S ng Thị M1 (v ng m t).

- Người phiên dịch: ng Thào Minh H, sinh năm 1957; địa chỉ: T 04, thị trấn Mèo Vạc, huyện Mèo Vạc, tỉnh Hà Giang. Có m t.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong h s vụ án diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án đ ợc tóm t t nh sau:

Khoảng 07 giờ ngày 27/6/2021, Hạ Thị M địu cháu ruột của mình là Già Mí N (sinh năm: 2021) ở trên l ng c ng con gái ruột của mình là Già Thị D đi bộ t nhà ra chợ trung tâm huyện M. Mục đích là đi ch i chợ vì hôm đó là ngày chợ phiên. Khoảng 08 giờ 30 phút c ng ngày thì bà M đến chợ sau đó, M cùng con gái đi ch i ở chợ. Trong khi đang đi đến khu vực hàng quán bán phở thì g p y Thị G cũng đang đi ch i chợ một mình. G p nhau, G hỏi: “bây giờ cô ở nhà làm gì, làm nương xong chưa?” nghe v y, M trả lời: “bây giờ nương ngô cũng làm xong hết rồi, bây giờ chỉ ở nhà thôi”. Do có quen biết với nhau t tr ớc nên M và G cùng nhau đi ch i ở chợ. Khoảng 09 giờ 40 phút, M, G và cháu D đi qua khu vực chợ bò đến đoạn đ ờng tr ớc cửa phòng khám của ông V. Lúc này, cháu N khóc và đái vào l ng của M nên M đi lên trên vỉa hè, tr ớc cửa phòng khám (phía bên phải theo chiều đi của M) và để cháu N xuống, bên cạnh đó có một chiếc xe máy nhãn hiệu HONDA, loại xe WAVES, màu s n đỏ đen, biển kiểm soát 23P1 - 043.80 đang dựng ở đó. Chiếc xe này là của anh u Mí G1 (Trước đó, anh G1 cùng vợ là chị Sùng Thị M1 đi xe máy đưa con trai ruột của mình là cháu Lầu Mí H, sinh tháng 4/2021 đến khám tại phòng khám của ông V). Do cháu N đái làm ớt hết qu n nên lúc này, M nhìn thấy ở giá để hàng phía tr ớc của chiếc xe máy có đ c điểm nêu trên có một túi ni lông màu xanh bên trong có khăn, qu n của trẻ em nên M nảy sinh ý định trộm chiếc túi này để lấy qu n thay cho cháu N. M nói với G “Cháu N đái ướt hết quần rồi, cháu lấy chiếc túi bóng kia đi” nghe v y, G nói: “cháu sợ, không dám lấy đâu”, lúc này G đang đứng ở phía đuôi xe máy, chiếc xe dựng theo chiều đ u xe h ớng vào phía t ờng nhà, còn đuôi xe quay ra đ ờng nhựa. Khi G trả lời nh v y, bà M liền tiến đến vị trí để xe máy r i d ng tay phải đ y vào chiếc túi ni lông làm cho ph n quai của chiếc túi tuột ra khỏi kẹp của giá hàng r i xuống nền xi măng phía bên trái của xe máy r i M bảo G: “nh t đi”. Nghe v y, G không nói gì và đi về vị trí chiếc túi ni lông, d ng tay nh t lấy chiếc túi ni lông r i nhanh chóng đi về h ớng trung tâm chợ, còn M địu cháu N lên l ng r i c ng D đi theo sau, khi đi đ ợc khoảng 100 mét (đến khu vực bán lợn) thì M đu i kịp G. Sau đó, M đi tr ớc và đi vào trong quán bán phở của anh B ở ki-ốt chợ với mục đích là vào trong quán để lấy qu n ở trong túi ni lông ra thay cho cháu N, còn G và cháu D đi theo sau. Sau khi ng i xuống ghế, M bỏ địu ra và bế cháu N ở trên tay, đ ng thời bảo G nh t giấy ăn ở d ới nền nhà để lau mũi cho cháu N. Ngay sau đó, M nói với G: “Cháu đưa cái túi đây để cô lấy khăn thay cho cháu N” nên G đ ng ý và đ a chiếc túi ni lông cho M. Sau đó M đ t chiếc túi xuống nền nhà r i mở miệng túi ra thì thấy bên trong có một chiếc qu n trẻ em màu xanh và 03 chiếc khăn vải nỉ của trẻ em, M l n l ợt lấy chiếc qu n ra để xuống nền nhà, r i tiếp tục lấy các chiếc khăn ra thì thấy bên trong khăn có một tệp tiền Trung Quốc loại mệnh giá 100NDT (Nhân dân tệ) đ ợc buộc bằng dây nịt cao su màu vàng nên M nảy sinh ý định chiếm đoạt số tiền này. Do thấy nhiều tiền nên G hỏi: “sao nhiều tiền thế, bây giờ phải làm sao?”, thì M trả lời: “cháu không biết gì thì để cô cầm, khi nào có người hỏi thì cô đưa cho”, đ ng thời M nhanh chóng cho khăn, qu n vào túi ni lông r i buộc lại. Sau đó, M cùng G và con gái của mình đi bộ về nhà. Khi M, G và D đi đến đoạn đ ờng g n khu vực đài quan sát huyện Mèo Vạc thì thấy anh Già Mí P (là chồng của Ly Thị G) đến đón G. Do cháu N khóc nên anh P đã đ a M và cháu N về nhà tr ớc, sau đó anh P tiếp tục quay lại đón G và cháu D đi về nhà sau. Khi đi đến ngã ba (một đường đi vào UBND xã C) thì anh P d ng lại để cho cháu D xuống xe tự đi bộ về còn hai vợ ch ng G tiếp tục đi xe máy về nhà. Khi về đến nhà, G đã nói dối anh P: “Hôm nay đi chợ cùng bà M nh t được túi ni lông để lấy khăn thay cho cháu bà M thì thấy bên trong có tiền nên bà M cầm”. Nghe v y, anh P nói: “chúng mày không biết ở thị trấn có nhiều camera à, nh t được tiền không trả lại” thì G nói tiếp: “em không biết, bà M cầm”. Sau đó, anh P không nói gì n a. Còn M khi về đến nhà, cũng nói dối ch ng của mình là anh Già Chứ T về việc đi chợ nh t đ ợc tiền và hỏi anh T phải làm thế nào thì anh T nói với M là cất đi, khi nào có ng ời hỏi thì sẽ đ a cho. Sau đó, M mở túi ni lông lấy tiền ra đếm thì thấy có 7.500 NDT (Nhân dân tệ) g m các tờ tiền mệnh giá một trăm nhân dân tệ. Ngay sau đó, M để tiền lại vào trong túi ni lông c ng khăn và qu n r i mang túi cất vào trong hòm gỗ ở trong bu ng ngủ của mình.

Đối với anh u Mí G1, khoảng 09 giờ 50 phút c ng ngày, trong khi hai vợ ch ng anh G1 đợi bác sỹ khám cho con trai của mình ở trong phòng khám thì chị M1 có bảo G1 đi ra vị trí để xe máy để lấy chiếc túi ni lông màu xanh đựng qu n, khăn và tiền ở giá hàng phía tr ớc vào trong phòng khám nh ng khi đi ra đến n i để xe máy thì G1 không thấy chiếc túi ni lông ở đâu, G1 tìm xung quanh nh ng không thấy. Sau đó, G1 quay vào trong phòng khám nói với vợ mình về việc không thấy chiếc túi ni lông nên hai vợ ch ng G1 quay ra vị trí để xe máy tiếp tục tìm xung quanh nh ng cũng không thấy nên anh G1 đã đến Công an thị trấn Mèo Vạc, huyện Mèo Vạc để trình báo sự việc.

Sau khi tiếp nh n tin báo, Công an thị trấn Mèo Vạc đã tiến hành kiểm tra, xác minh theo quy định. C ng ngày, ông V đã đến Công an thị trấn giao nộp 01 (một) đoạn video trích sao t camera giám sát của gia đình ông, có thời gian hiển thị t 09 giờ 40 phút 33 giây đến 09 giờ 42 phút 52 giây ngày 27/6/2021, đoạn video đ ợc sao l u vào 01 chiếc USB màu tr ng có dung l ợng 8GB, qua xem đoạn video do ông V giao nộp đã xác định đ ợc đối t ợng nghi vấn. Ngày 28/6/2021 Công an thị trấn M đã mời Hạ Thị M và y Thị G lên làm việc. Qua đấu tranh và nh ng hình ảnh đ ợc trích xuất t camera của gia đình bác sĩ V đã cung cấp, Hạ Thị M và Ly Thị G đã khai nh n hành vi phạm tội của mình, sau đó Hạ Thị M đã mang số tiền 7.500NDT đã trộm c p đ ợc đến Công an thị trấn Mèo Vạc để giao nộp. Xét thấy vụ việc trên không thuộc th m quyền giải quyết, Công an thị trấn M đã báo cáo và chuyển vụ việc trên cho C quan Cảnh sát điều tra Công an huyện M, tỉnh Hà Giang giải quyết theo th m quyền.

Ngày 02/7/2021, C quan CSĐT Công an huyện M ra Công văn số: 146/CV-CSĐT đề nghị Ngân hàng Nhà n ớc Chi nhánh tỉnh Hà Giang xác định: Tỷ giá ngoại tệ tại thời điểm xảy ra vụ án đối với số tiền 7.500 NDT (Nhân dân tệ).

Tại công văn trả lời số: 719/HAG-TH ngày 20/7/2021 của Ngân hàng Nhà n ớc Chi nhánh tỉnh Hà Giang về việc: Cung cấp tỷ giá gi a Việt Nam đ ng và Nhân dân tệ tại thời điểm xảy ra vụ án (ngày 27/6/2021) nh sau: 1 CNY = 3.581,18 VND; số tiền quy đ i là: 7.500 CNY x 3.581,18 VND/CNY = 26.858.850VND

Ngày 15/7/2021, C quan CSĐT Công an huyện M ra Quyết định tr ng c u giám định số 08/QĐ-CSĐT tr ng c u: Viện khoa h c hình sự Bộ Công an giám định: Đoạn video trích sao t Camera giám sát do ông V giao nộp có bị c t ghép, chỉnh sửa nội dung không.

Tại bản kết lu n giám định số: 6046/C09-P6 ngày 21/7/2021 của Viện khoa h c hình sự Bộ Công an kết lu n: Không tìm thấy dấu vết c t ghép, chỉnh sửa nội dung hình ảnh trong tệp video gửi giám định.

Ngày 07/7/2021, C quan CSĐT Công an huyện Mèo Vạc đã phối hợp với Viện kiểm sát nhân dân huyện, chính quyền thị trấn M tiến hành l n l ợt cho Hạ Thị M, Ly Thị G và bị hại u Mí G1 xác định vị trí, địa điểm n i xảy ra vụ án. Kết quả xác định hiện tr ờng đều ph hợp với lời khai của bị hại, bị cáo, ng ời làm chứng và các tài liệu, chứng cứ khác có trong h s vụ án.

Ngày 19/7/2021, C quan CSĐT Công an huyện M ra yêu c u định giá tài sản số 09/YC - CSĐT đề nghị Hội đ ng định giá tài sản trong Tố tụng hình sự huyện M định giá đối với: 01 (một) chiếc khăn bằng vải nỉ, hình vuông có kích th ớc (85 x 80)cm, m t khăn có kẻ hình ô vuông, bên trên có hình và hoa văn nhiều màu s c; 01 (một) chiếc khăn bằng vải nỉ, hình ch nh t có kích th ớc (110 x 60)cm; trên m t khăn có hoa văn nhiều màu s c; 01 (một) chiếc khăn bằng vải nỉ, hình vuông có kích th ớc (95 x 80)cm; khăn màu h ng chấm bi màu tr ng; bên trên có hình và hoa văn nhiều màu s c và 01 (một) chiếc qu n dài bằng vải màu xanh, loại qu n trẻ em, cạp chun (số tài sản này đều đã qua sử dụng).

Tại Bản kết lu n định giá tài sản số 08/KL-HĐĐGTS ngày 25/7/2021 của Hội đ ng định giá tài sản kết lu n: T ng trị giá các tài sản là 70.000đ (Bảy mươi nghìn đồng).

T ng giá trị tài sản mà các bị cáo đã trộm c p của bị hại là 26.928.850đ (hai mươi sáu triệu chín trăm hai mươi tám nghìn tám trăm năm mươi đồng).

*Việc thu giữ, tạm giữ tài liệu, đồ vật; xử lý vật chứng:

Trong quá trình điều tra, C quan Cảnh sát điều tra Công an huyện M, tỉnh Hà Giang đã thu gi , tạm gi nh ng v t chứng g m:

- Số tiền 7.500NDT (bảy nghìn năm trăm nhân dân tệ).

- 01 (một) chiếc túi ni lông màu xanh, bên trong có:

+ 01 (một) chiếc khăn bằng vải nỉ, hình vuông có kích th ớc (85 x 80)cm; m t khăn có kẻ hình ô vuông, bên trên có hình và hoa văn nhiều màu s c. Đã qua sử dụng.

+ 01 (một) chiếc khăn bằng vải nỉ, hình ch nh t có kích th ớc (110 x 60)cm; trên m t khăn có hoa văn nhiều màu s c. Đã qua sử dụng.

+ 01 (một) chiếc khăn bằng vải nỉ, hình vuông có kích th ớc (95 x 80)cm; khăn màu h ng chấm bi màu tr ng; bên trên có hình và hoa văn nhiều màu s c. Đã qua sử dụng.

+ 01 (một) chiếc qu n dài bằng vải màu xanh (loại quần trẻ em), cạp chun. Đã qua sử dụng.

- 01 (một) phong bì màu tr ng, bên ngoài ghi “Mẫu vật hoàn trả sau giám định do Phòng Giám định kỹ thuật số và điện tử - Viện khoa học hình sự - Bộ Công an hoàn trả sau giám định” bên trong là chiếc USB nhãn hiệu SANDISK dung l ợng 8GB.

Tại giai đoạn điều tra C quan CSĐT công an huyện M đã ra Quyết định số 13/QĐ-CSĐT ngày 30/6/2021 và Quyết định số 19/QĐ-CSĐT ngày 16/8/2021 trả lại số tiền 7.500 NDT và chiếc túi ni lông màu xanh, bên trong có: 01 (một) chiếc khăn bằng vải nỉ, hình vuông có kích th ớc (85 x 80)cm, m t khăn có kẻ hình ô vuông, bên trên có hình và hoa văn nhiều màu s c (đã qua sử dụng); 01 (một) chiếc khăn bằng vải nỉ, hình ch nh t có kích th ớc (110 x 60)cm, trên m t khăn có hoa văn nhiều màu s c (đã qua sử dụng); 01 (một) chiếc khăn bằng vải nỉ, hình vuông có kích th ớc (95 x 80)cm, khăn màu h ng chấm bi màu tr ng; bên trên có hình và hoa văn nhiều màu s c (đã qua sử dụng; 01 (một) chiếc qu n dài bằng vải màu xanh (loại quần trẻ em), cạp chun (đã qua sử dụng) cho bị hại u Mí G1, sinh năm 1996, trú tại: thôn T, xã X, huyện M, tỉnh Hà Giang.

Ngày 02/8/2021 C quan CSĐT Công an huyện M đã khởi tố vụ án, khởi tố bị can đối với các bị cáo Hạ Thị M, y Thị G về tội Trộm c p tài sản theo quy định tại khoản 1 Điều 173 của Bộ lu t hình sự 2015.

Tại bản Cáo trạng số 31/CT-VKSMV ngày 18/10/2021 của Viện kiểm sát nhân dân huyện M, tỉnh Hà Giang truy tố các bị cáo Hạ Thị M, y Thị G về tội “Trộm c p tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 của BLHS 2015.

Tại phiên tòa Kiểm sát viên gi nguyên quyết định truy tố của Viện kiểm sát nhân dân huyện M, đề nghị Hội đ ng xét xử:

Về tội danh: Tuyên bố: Các bị cáo Hạ Thị M, Ly Thị G phạm tội “Trộm c p tài sản”.

Về hình phạt:

- Áp dụng khoản 1 Điều 173; Điều 17; điểm b, i, s khoản 1 Điều 51; khoản 2 Điều 51; Điều 58; khoản 1, khoản 2 Điều 65 Bộ lu t hình sự. Đề nghị HĐXX:

Xử phạt bị cáo Hạ Thị M mức án t 12 (M ời hai) tháng đến 15 (M ời lăm) tháng t , nh ng cho h ởng án treo. Thời gian thử thách t 24 (Hai m i bốn) tháng đến 30 (Ba m i) tháng. Thời gian thử thách tính t ngày tuyên án s th m.

- Áp dụng khoản 1 Điều 173; Điều 17; điểm b, i, s khoản 1 Điều 51; khoản 2 Điều 51; Điều 36; Điều 58 Bộ lu t hình sự. Đề nghị HĐXX:

Xử phạt bị cáo y Thị G mức án t 09 (Chín) tháng đến 12 (M ời hai tháng) tháng cải tạo không giam gi . Không áp dụng việc khấu tr thu nh p đối với bị cáo.

Giao các bị cáo Hạ Thị M, y Thị G cho UBND xã C, huyện M, tỉnh Hà Giang giám sát, giáo dục; gia đình các bị cáo có trách nhiệm phối hợp với UBND xã C, huyện M, giám sát, giáo dục các bị cáo.

Về hình phạt b sung: không áp dụng đối với các bị cáo.

Về xử lý vật chứng: Đối với v t chứng là 01 (một) phong bì màu tr ng, bên ngoài ghi “Mẫu vật hoàn trả sau giám định do Phòng Giám định kỹ thuật số và điện tử - Viện khoa học hình sự - Bộ Công an hoàn trả sau giám định” bên trong là chiếc USB nhãn hiệu SANDISK dung l ợng 8GB c n đ ợc l u theo h s vụ án.

Về trách nhiệm dân sự: Sau khi sự việc xảy ra bị hại đã nh n lại đ ợc toàn bộ số tài sản đã mất và không yêu c u các bị cáo phải b i th ờng gì thêm nên không xem xét

Về án phí: Áp dụng Điều 135; Điều 136 Bộ lu t tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016-UBTVQH ngày 30/12/2016 của Ủy ban Th ờng vụ Quốc hội, miễn án phí hình sự s th m đối với các bị cáo.

Ng ời bào ch a cho bị cáo:

Về tội danh: Đ ng thu n với quan điểm của Viện kiểm sát nhân dân huyện M, tỉnh Hà Giang truy tố các bị cáo Hạ Thị M, y Thị G về tội Trộm c p tài sản theo quy định tại khoản 1 Điều 173 B HS.

Về hình phạt: Về c bản đ ng thu n với Viện kiểm sát đề nghị HĐXX áp dụng khoản 1 Điều 173; Điều 17; điểm b, i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 58; Điều 65 Bộ lu t hình sự, xử phạt bị cáo Hạ Thị M t 06 (Sáu) tháng t đến 09 (Chín) tháng t nh ng cho h ởng án treo.

Đề nghị áp dụng khoản 1 Điều 173; Điều 17; điểm b, i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 58; Điều 36 Bộ lu t hình sự xử phạt bị cáo y Thị G t 06 (Sáu) tháng đến 09 (Chín) tháng cải tạo không giam gi .

Về trách nhiệm dân sự: Trong quá trình giải quyết vụ án bị hại u Mí G1 không yêu c u các bị cáo phải b i th ờng gì thêm.

Về án phí: Áp dụng điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016-UBTVQH ngày 30/12/2016 của Ủy ban Th ờng vụ Quốc hội, miễn án phí hình sự s th m đối với các bị cáo.

Tại phiên tòa, các bị cáo thành kh n khai nh n toàn bộ hành vi phạm tội của mình và xin Hội đ ng xét xử giảm nhẹ mức án cho các bị cáo.

Đối với ng ời bị hại tại giai đoạn điều tra không yêu c u các bị cáo phải b i th ờng gì thêm và đề nghị xử lý các bị cáo theo quy định của pháp lu t.

ời khai của nh ng ng ời làm chứng ph hợp với lời khai của các bị cáo và nh ng tài liệu có trong h s vụ án.

ời nói sau c ng:

Các bị cáo ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình, các bị cáo l n đ u phạm tội, xin HĐXX xem xét giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên c sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong h s vụ án đã đ ợc th m tra, xét hỏi, tranh lu n tại phiên tòa, Hội đ ng xét xử nh n thấy nh sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của C quan điều tra Công an huyện M, tỉnh Hà Giang, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện M, tỉnh Hà Giang, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về th m quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ lu t tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa không có ai có ý kiến ho c khiếu nại về hành vi, quyết định của C quan tiến hành tố tụng, ng ời tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của C quan tiến hành tố tụng, ng ời tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Tại phiên tòa hôm nay bị hại u Mí G1 và ng ời làm chứng S ng Thị M1 v ng m t không có lý do. Xét thấy việc v ng m t của bị hại G1 và ng ời làm chứng M1 không ảnh h ởng đến việc làm sáng tỏ vụ án. Đối với ng ời bào ch a cho các bị cáo là bà Nguyễn Thị v ng m t tại phiên tòa nh ng có gửi lu n cứ bào ch a và các bị cáo nhất trí việc xét xử v ng m t ng ời bào ch a. Căn cứ vào các Điều 291, 292, 293 Bộ lu t tố tụng hình sự HĐXX quyết định tiếp tục giải quyết vụ án.

Về tội danh: Các bị cáo đều là ng ời có đ y đủ năng lực trách nhiệm hình sự, các bị cáo phải biết đ ợc rằng việc xâm phạm quyền sở h u tài sản của ng ời khác là vi phạm pháp lu t. Ngày 27/6/2021 bị cáo Hạ Thị M và y Thị G c ng nhau đi ch i chợ. Đến khu vực t 04 thị trấn Mèo Vạc (trước cửa phòng khám của ông V) các bị cáo đã lén lút trộm c p một túi bóng nilon màu xanh để trên giá hàng phía tr ớc của xe máy nhãn hiệu HONDA, loại xe WAVES, màu s n đỏ đen, biển kiểm soát 23P1-043.80 của anh u Mí G1, lúc đó anh G1 c ng vợ của mình đ a con vào phòng khám của ông V để khám bệnh. Khi đến quán phở của anh B các bị cáo mở túi nilon thì phát hiện trong túi có 03 chiếc khăn, 01 qu n trẻ em và số tiền 7.500 NDT (Nhân dân tệ) tiền Trung Quốc, các tờ tiền đề có mệnh giá 100 NDT (Nhân dân tệ). Sau khi phát hiện số tiền 7.500 NDT bị cáo M mang về nhà mình để cất giấu. T ng giá trị tài sản mà các bị cáo đã trộm c p của bị hại u Mí G1 là 26.928.850 đ ng. Nh v y đã có đủ c sở kết lu n các bị cáo Hạ Thị M, y Thị G phạm tội “Trộm c p tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 của B HS. Tại khoản 1 Điều 173 của B HS quy định:“1. Người nào trộm c p tài sản của người khác trị giá từ 2.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng ho c dưới 2.000.000 đồng nhưng thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm ho c phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm:

a)...”

Viện kiểm sát nhân dân huyện M, tỉnh Hà Giang truy tố các bị cáo Hạ Thị M, y Thị G về tội “Trộm c p tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 của Bộ lu t hình sự là hoàn toàn đúng ng ời, đúng tội, đúng pháp lu t.

Xét tính chất, mức độ, hành vi: Tính chất vụ án là ít nghiêm tr ng mục đích các bị cáo trộm c p túi nilon trên xe máy của bị hại u Mí G1 là lấy qu n để thay cho cháu nhỏ, khi phát hiện tron túi có tiền các bị cáo đã nảy lòng tham mang số tiền về nhà cất giấu, hành vi phạm tội của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội. Hành vi của các bị cáo trực tiếp xâm phạm đến quyền sở h u tài sản hợp pháp của công dân đ ợc pháp lu t bảo vệ, làm ảnh h ởng đến an ninh, tr t tự an toàn xã hội n i bị cáo thực hiện hành vi phạm tội.

HĐXX xét thấy đây là vụ án có tính chất đ ng phạm giản đ n quy định tại Điều 17 BLHS vì không có t chức, không có sự câu kết ch t chẽ. Các bị cáo thực hiện hành vi một cách bột phát. Xét mức độ lỗi của t ng bị cáo cho thấy: bị cáo Hạ Thị M là ng ời xúi giục bị cáo y Thị G trong việc trộm c p tài sản, sau khi phát hiện số tiền trong túi nilon bị cáo cất gi một mình; đối với bị cáo y Thị G là ng ời giúp sức, trực tiếp trộm c p tài sản. HĐXX xét thấy c n áp dụng hình phạt t ng xứng với tính chất, mức độ phạm tội của t ng bị cáo đ ợc quy định tại Điều 58 BLHS.

Về tình tiết giảm nhẹ TNHS: Tại giai đoạn điều tra và tại phiên tòa hôm nay các bị cáo thành kh n khai báo, ăn năn, hối cải; các bị cáo đã giao nộp lại toàn bộ số tài sản đã trộm c p; các bị cáo phạm tội l n đ u, thuộc tr ờng hợp ít nghiêm tr ng. H n n a các bị cáo là ng ời dân tộc thiểu số sống ở v ng có điều kiện kinh tế – xã hội đ c biệt khó khăn, không đ ợc đi h c, nh n thức về pháp lu t còn hạn chế. Do v y c n áp dụng các điểm b, i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ lu t hình sự để các bị cáo thấy đ ợc chính sách khoan h ng của pháp lu t hình sự.

Về tình tiết tăng n ng: Các bị cáo không có tình tiết tăng n ng TNHS.

Về hình phạt b sung: Theo quy định tại khoản 5 Điều 173 của Bộ lu t hình sự quy định “Ng ời phạm tội còn có thể bị phạt tiền t 5.000.000 đ ng đến 50.000.000 đ ng”. HĐXX xét thấy các bị cáo không có công việc, thu nh p n định nên không áp dụng hình phạt b sung đối với các bị cáo.

Về trách nhiệm dân sự: Tại giai đoạn điều tra bị hại u Mí G1 đã nh n lại toàn bộ số tài sản bị mất nên không yêu c u các bị cáo phải b i th ờng gì thêm nên HĐXX không xem xét.

Xét về nhân thân: Các bị cáo có lý lịch, nhân thân tốt, không có tiền án, tiền sự, có n i c trú rõ ràng.

Căn cứ vào các tình tiết giảm nhẹ, nhân thân các bị cáo HĐXX thấy rằng không c n thiết phải cách ly các bị cáo ra khỏi xã hội mà cho các bị cáo cải tạo tại địa ph ng d ới sự giám sát của chính quyền địa ph ng c ng gia đình cũng đủ sức răn đe, giáo dục các bị cáo trở thành ng ời có ích cho gia đình và xã hội, nên HĐXX áp dụng Điều 36 và Điều 65 BLHS.

Về v t chứng: Đối với v t chứng là 01 (một) phong bì màu tr ng, bên ngoài ghi “Mẫu vật hoàn trả sau giám định do Phòng Giám định kỹ thuật số và điện tử - Viện khoa học hình sự - Bộ Công an hoàn trả sau giám định” bên trong là chiếc USB nhãn hiệu SANDISK dung l ợng 8GB là tài liệu đ ợc l u theo h s vụ án.

Ng ời bào ch a cho các bị cáo đề nghị HĐXX xử phạt bị cáo Hạ Thị M t 06 (sáu) tháng t đến 09 (Chín) tháng t nh ng cho h ởng án treo, xử phạt bị cáo y Thị G t 06 (Sáu) tháng đến 09 (Chín) tháng cải tạo không giam gi . HĐXX xét thấy mức đề nghị của ng ời bào ch a cho các bị cáo Hạ Thị M là ch a đủ tính răn đe, ngăn ng a tội phạm chung, ch a ph hợp với tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo. Bị cáo M là ng ời khởi x ớng h n n a bị cáo gi tiền không có ý định chia cho bị cáo y Thị G nên HĐXX không chấp nh n. Đối với bị cáo y Thị G tuy là ng ời thực hiện hành vi trộm c p nh ng bị cáo không biết số tiền cụ thể là bao nhiêu, bị cáo cũng không bàn bạc việc chia tiền đối với bị cáo Hạ Thị M nên mức đề nghị t 06 (Sáu) tháng đến 09 (Chín) tháng cải tạo không giam gi là ph hợp nên HĐXX chấp nh n.

Về án phí: Áp dụng Điều 135, Điều 136 B TTHS, áp dụng điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016-UBTVQH ngày 30/12/2016 của Ủy ban Th ờng vụ Quốc hội: Miễn toàn bộ án phí hình sự s th m cho các bị cáo.

Quyền kháng cáo: Các bị cáo và bị hại có quyền kháng cáo theo quy định của pháp lu t.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

1. Tội danh:

Tuyên bố: Các bị cáo Hạ Thị M, y Thị G phạm tội “Trộm c p tài sản”.

2. Về hình phạt:

- Áp dụng khoản 1 Điều 173; Điều 17; điểm b, i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 58; khoản 1, khoản 2 Điều 65 Bộ lu t hình sự: xử phạt bị cáo Hạ Thị M 12 (M ời hai) tháng t , nh ng cho h ởng án treo, thời gian thử thách 24 (Hai m i bốn) tháng. Thời gian thử thách tính t ngày tuyên án s th m. (Ngày 15 11 2021)

Tr ờng hợp bị cáo v ng m t tại n i c trú, thay đ i n i c trú ho c n i làm việc thì căn cứ Điều 92 u t Thi hành án hình sự để thi hành. Trong thời gian thử thách bị cáo không đ ợc xuất cảnh.

Trong thời gian thử thách, ng ời đ ợc h ởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 l n trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc ng ời đ ợc h ởng án treo phải chấp hành hình phạt t của bản án đã cho h ởng án treo.

- Áp dụng khoản 1 Điều 173; Điều 17; điểm b, i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 36; Điều 58 Bộ lu t hình sự: xử phạt bị cáo y Thị G 09 (Chín) tháng cải tạo không giam gi .

Thời hạn cải tạo không giam gi đ ợc tính t ngày UBND xã C, huyện M, tỉnh Hà Giang nh n đ ợc quyết định thi hành án và bản sao bản án của Tòa án.

Tr ờng hợp bị cáo v ng m t tại n i c trú, thay đ i n i c trú ho c n i làm việc thì căn cứ Điều 100 u t Thi hành án hình sự để thi hành.

Bị cáo y Thị G không có công việc, thu nh p n định nên miễn khấu tr thu nh p đối với bị cáo.

- Không áp dụng hình phạt b sung đối với các bị cáo Hạ Thị M, y Thị G.

- Giao các bị cáo Hạ Thị Mỷ, y Thị Già cho UBND xã C, huyện M, tỉnh Hà Giang giám sát, giáo dục; gia đình các bị cáo có trách nhiệm phối hợp với UBND xã C, huyện M, giám sát, giáo dục các bị cáo.

3. Án phí: Áp dụng Điều 135, Điều 136 Bộ lu t tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016-UBTVQH ngày 30/12/2016 của Ủy ban Th ờng vụ Quốc hội, miễn toàn bộ án phí hình sự s th m cho các bị cáo.

Quyền kháng cáo: Áp dụng các Điều 331; Điều 333 của Bộ lu t tố tụng hình sự năm 2015: án xử công khai có m t các bị cáo, báo cho các bị cáo biết có quyền kháng cáo đối với bản án trong thời hạn 15 ngày kể t ngày tuyên án s th m (ngày 15/11/2021).

Ng ời bị hại v ng m t tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể t ngày nh n đ ợc bản sao bản án ho c ngày bản án đ ợc niêm yết theo quy định của pháp lu t./.

Cỡ chữ