- Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Văn V "Vận chuyển hàng cấm" - phạm tội tàng trữ, vận chuyển hàng cấm (điều 191 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn V phạm tội “Vận chuyển hàng cấm”. Căn cứ điểm b khoản 3 Điều 191, điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; Điều 32, Điều 38 Bộ luật hình sự; Các Điều 299, 326, 329 Bộ luật Tố tụng Hình sự.
- Căn cứ chính? Điều 191 Bộ luật Hình sự; Điều 51 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐỨC HUỆ TỈNH LONG AN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 28/2021/HS-ST Ngày: 22 - 6 - 2021 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐỨC HUỆ TỈNH LONG AN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Triến.
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Triệu Thanh Quan.
Ông Nguyễn Văn Tư.
- Thư ký phiên tòa: Ông Lữ Minh Vũ - Cán bộ Tòa án nhân dân huyện Đức Huệ.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện Đức Huệ tỉnh Long An tham gia phiên tòa: Bà Võ Thị Bích Trăm - Kiểm sát viên.
Ngày 22 tháng 6 năm 2021, tại trụ sở, Toà án nhân dân huyện Đức Huệ xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 15/2021/TLST-HS ngày 02 tháng 4 năm 2021 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 21/2021/QĐXXST-HS ngày 03 tháng 6 năm 2021 đối với bị cáo:
Nguyễn Văn V, sinh ngày 10 tháng 11 năm 1990; tại: Long An; Nơi cư trú: Ấp 6, xã T, huyện Đ, tỉnh L; nghề nghiệp: Làm ruộng; trình độ học vấn: 7/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn N (chết) và bà Ngô Thị T; có vợ là Nguyễn Bích T1, sinh năm 1985 và 02 con chung, lớn nhất sinh năm 2009, nhỏ nhất sinh năm 2013; tiền án, tiền sự: Không; Về nhân thân: Tại bản án phúc thẩm số 141/2011/HSPT ngày 19/8/2011 của Tòa án nhân dân tỉnh Long An, xử phạt bị cáo V 01 năm 06 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 03 năm 05 tháng 10 ngày (tính từ ngày 19/8/2011) về tội “trộm cắp tài sản”, bị cáo chấp hành xong bản án, đã xóa án tích; bị cáo bị bắt tạm giữ tạm giam từ ngày 31/01/2021 đến ngày 31/3/2021 được gia đình bảo lãnh tại ngoại. (Có mặt)
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án: Bà Phan Thị Y - Sinh năm 1989 - Địa chỉ: Ấp 4 , xã T, huyện Đ, tỉnh L. (Vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Thông qua các mối quan hệ xã hội, Nguyễn Văn V, đã quen biết với 01 người đàn ông tên “anh Hai” hoạt động buôn lậu tại Đức Hòa, Long An. Qua vài lần uống cà phê người này thấy V không có nghề nghiệp ổn định và biết lái xe nên người này đề nghị thuê V lái xe ô tô vận chuyển thuốc lá điếu nhập lậu từ chợ Tho Mo (xã T, huyện Đ, tỉnh L) đi đến khu vực Cầu Lớn (huyện H, thành phố H) để tiêu thụ, tiền công vận chuyển là 1.000.000 đồng mỗi chuyến. Do cần tiền tiêu xài nên V đồng ý. Khoảng chiều ngày 30/01/2021, “anh Hai” sử dụng điện thoại có 04 số cuối là “3939” gọi vào số điện thoại 0961 573 401 của V để kêu V đi đến chợ Tho Mo nhận 01 xe ô tô nhãn hiệu Chevrolet Cruze mang về giữ để sáng hôm sau đi vận chuyển thuốc lá thuê. Đến 06 giờ 30 phút ngày 31/01/2021, theo hướng dẫn của “anh Hai”, V điều khiển xe ô tô nhãn hiệu Chevrolet Cruze gắn biển số 51F - 890.65 đến chợ Tho Mo, rẽ phải vào đường Chân Tốc (ấp 3, xã T), chạy thêm 100 m rồi rẽ vào bãi đất trống bên phải đường đậu chờ. Khoảng 10 phút sau, thì có khoảng 03 thanh niên lạ mặt, chạy 03 xe mô tô chở theo thuốc lá điếu nhập lậu trong những túi ni long đến chất lên xe ô tô nói trên. Sau khi những người này chất thuốc xong, thì V điều khiển xe ô tô chở thuốc lá đi theo hướng đường tỉnh 838 để về H tiêu thụ. Đến 07 giờ 30 phút cùng ngày, khi V đang điều khiển xe đi đến đoạn đường thuộc khu phố 2, thị trấn Đ, huyện Đ, tỉnh L thì bị lực lượng chức năng chốt chặn kiểm tra. Phát hiện trên xe 51F - 890.65 đang vận chuyển 7.500 bao thuốc lá điếu nhập lậu, trong đó có 6.300 bao thuốc lá hiệu Jet, và 1.200 bao hiệu Hero. Lực lượng chức năng tiến hành lập biên bản quả tang, đưa đối tượng cùng toàn bộ tang vật về trụ sở làm rõ. Tại Cơ quan điều tra, V đã thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội như trên. Tang vật tạm giữ:
- 01 (một) xe ô tô nhãn hiệu Chevrolet, loại Cruze, màu trắng, biển kiểm soát 51F-890.65.
- 7.500 bao thuốc lá điếu nhập lậu, trong đó có 6.300 bao thuốc lá hiệu Jet, và 1.200 bao hiệu Hero.
- 01 (một) điện thoại nhãn hiệu Oppo, loại F5, màu bạc, gắn sim số 0961 573 401, đã qua sử dụng. Xử lý vật chứng của cơ quan Cảnh sát Điều tra:
- Đối với xe ô tô nhãn hiệu Chevrolet, loại Cruze, màu trắng, biển kiểm soát 51F-890.65. Qua điều tra xác định xe trên có số khung là 695EHH949687, số máy là 8D4173130011, mang biển kiểm soát thật là 62A-092.45. Xe này thuộc sở hữu hợp pháp của bà Phan Thị Y, sinh năm 1989, hộ khẩu thường trú tại ấp 4, xã T, huyện Đ, tỉnh L. Bà Y mua xe trên vào tháng 02/2018, với giá 650.000.000 đồng. Hình thức mua là trả góp, mục đích là dùng làm phương tiện đi lại và chạy dịch vụ. Đến tháng 02/2021, bà Y có làm hợp đồng cho Nguyễn Văn T, chứng minh thư số 301782654, sử dụng số điện thoại 0352 081 592, sinh năm 1992, hộ khẩu thường trú tại ấp 5 xã B, huyện Đ, tỉnh L thuê trong thời hạn từ ngày 20/01/2021 đến 20/02/2021, giá thuê là 15.000.000 đồng/tháng, đặt cọc 30.000.000 đồng. Nhận xe vào ngày 20/01/2021. Đến ngày 31/01/2021, bà Y nhận được điện thoại của Tân nói xe đã bị công an huyện Đức Huệ tạm giữ không rõ lý do sau đó tắt máy không liên lạc được. Đến ngày 10/02/2021, bà Y đến Công an huyện Đ trình báo sự việc như trên.
Qua thẩm tra xác minh tại Công an xã B trên địa bàn không có đối tượng nào tên Nguyễn Văn T. Đối với Nguyễn Văn V, bà Y hoàn toàn không có mối quan hệ nào và việc V sử dụng xe ô tô của bà Y gắn biển số giả là 51F - 890.65 để vận chuyển thuốc lá điếu, bà Y hoàn toàn không biết. Xét thấy, đây là tài sản hợp pháp của bà Y, và bà Y không có lỗi, không liên quan đến vụ án nên ngày 16/3/2021, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Đức Huệ đã ra Quyết định xử lý vật chứng số 10, trả lại tài sản là xe ô tô cho chủ sở hữu. Bà Phan Thị Y đã nhận lại tài sản không có yêu cầu gì khác.
Đối với biển kiểm soát 51F-890.65, qua điều tra xác định số biển kiểm soát trên do ông Trần Thái T đăng ký sử dụng cho xe mô tô Mitsubishi, loại Attrage, màu xám của mình vào tháng 10/2017 và được sử dụng liên tục cho đến nay. Đối với việc biển kiểm soát 51F-890.65 được gắn vào xe ô tô sử dụng vào mục đích phạm tội, ông Thông không biết. Xét thấy, đây là biển kiểm soát giả được sử dụng vào mục đích che giấu tội phạm, do đó đề nghị tịch thu tiêu hủy.
Hiện chi cục thi hành án dân sự huyện Đức Huệ đang tạm giữ những vật chứng chờ xử lý gồm: Đối với 7.500 bao thuốc lá điếu nhập lậu, trong đó có 6.300 bao thuốc lá hiệu Jet, và 1.200 bao hiệu Hero; 01 (một) điện thoại nhãn hiệu Oppo, loại F5, màu bạc, gắn sim số 0961 573 401, đã qua sử dụng; biển kiểm soát 51F-890.65
Cáo trạng số: 17/CT-VKS- ĐH ngày 31 tháng 3 năm 2021 của Viện Kiểm sát nhân dân huyện Đức Huệ đã truy tố bị cáo Nguyễn Văn V về tội “Vận chuyển hàng cấm” theo điểm b khoản 3 Điều 191 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đức Huệ vẫn giữ nguyên cáo trạng truy tố bị cáo Nguyễn Văn V và sau khi phân tích tính chất của hành vi và hậu quả xảy ra, đề nghị Hội đồng xét xử:
Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn V phạm tội “Vận chuyển hàng cấm”.
Căn cứ: điểm b khoản 3 Điều 191, điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; Điều 32, Điều 38 Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo Nguyễn Văn V từ 05 đến 06 năm tù. Về các biện pháp tư pháp: Căn cứ Điều 47 Bộ luật hình sự và Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự. Phần Cơ quan điều tra đã xử lý xong không có yêu cầu xem xét lại nên không xem xét.
- Đối với 7.500 bao thuốc lá nhập lậu (gồm: 6.300 bao nhãn hiệu Jet, 1.200 bao nhãn hiệu Hero) là thuốc lá điếu nhập lậu, không có hóa đơn chứng từ, không thông qua khai báo thuế, là mặt hàng Nhà nước cấm sản xuất, buôn bán, vận chuyển nên đề nghị tịch thu tiêu hủy
- Đối với 01 (một) điện thoại nhãn hiệu Oppo, loại F5, màu bạc, gắn sim số 0961 573 401, đã qua sử dụng, bị cáo sử dụng phạm tội nên đề nghị tịch thu sung vào ngân sách Nhà nước.
- Đối với 01 biển kiểm soát 51F-890.65 là biển số giả, bị cáo sử dụng để che giấu tội phạm nên tịch thu tiêu hủy. Tang vật hiện do Chi cục thi hành án dân sự huyện Đức Huệ đang quản lý. Đối với người đàn ông tên “anh Hai” thuê bị cáo vận chuyển thuốc lá điếu nhập lậu và 03 người đàn ông giao và chất thuốc lên xe ô tô cho V. Do chỉ căn cứ vào lời khai của bị can, không thể xác định rõ nhân thân, lai lịch của các đối tượng trên nên không mời làm việc được, Cơ quan Cảnh sát điều tra tiếp tục làm rõ, xử lý sau. Đối với Nguyễn Văn Tân, người đã thuê xe của bà Phan Thị Y. Qua điều tra xác minh trên địa bàn xã Bình Hòa Nam không có đối tượng nêu trên, không mời làm việc được để xác định rõ vai trò của Tân trong vụ án. Do đó, Cơ quan Cảnh sát điều tra tiếp tục làm rõ xử lý sau.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Bà Phan Thị Y vắng mặt tại phiên tòa, trong lời khai đã nhận lại tài sản không yêu cầu bị cáo bồi thường tiếp theo. Nói lời sau cùng trước khi Hội đồng xét xử vào phòng nghị án: Bị cáo biết việc làm là vi phạm pháp luật, ăn năn hối cải, hứa không tái phạm, xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo vì hoàn cảnh gia đình khó khăn.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau: [1] Các quyết định khởi tố vụ án, khởi tố bị can của cơ quan cảnh sát điều tra, quyết định phê chuẩn quyết định khởi tố bị can và cáo trạng của Viện kiểm sát truy tố bị các cáo đều thực hiện đúng theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Hành vi tố tụng của Điều tra viên, kiểm sát viên đều thực hiện đúng và hợp pháp. Những chứng cứ, tài liệu do Cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát, Kiểm sát viên thu thập là hợp pháp.
Vào ngày 31/01/2021 (khoảng 06 giờ 30 phút), Nguyễn Văn V nhận lời vận chuyển thuê thuốc lá ngoại cho người khác (một người đàng ông chỉ biết tên anh Hai) nên dùng xe một xe ô tô con nhãn hiệu: Chevrolet, loại Cruze, màu trắng biên số giá 51F-0890.65 (biển số thật 62A-092.45) vận chuyển 7.500 bao thuốc lá ngoại (gồm: 6.300 bao nhãn hiệu Jet, 1.200 bao nhãn hiệu Hero), từ khu vực ấp 3, xã T, huyện Đ về khu vực Cầu Lớn huyện H, thành phố H, không có chứng từ hóa đơn xuất xứ hàng hóa về số thuốc lá 7.500 bao. Mục đích bị cáo là vận chuyển thuê nhận tiền công mỗi chuyến 1.000.000 đồng. Khi bị cáo V đang vận chuyển đến khu phố 2, thị trấn Đ thì bị lực lượng chức năng bắt quả tang người và tang vật.
Tại phiên toà, bị cáo Nguyễn Văn V đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội. Lời khai nhận của bị cáo phù hợp với các lời khai của người làm chứng, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, biên bản bắt người phạm tội quả tang do Công an huyện Đức Huệ tỉnh Long An lập lúc 07 giờ 40 phút, ngày 31/01/2021 và các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa. Trên cơ sở đó, đã có đủ bằng chứng để kết luận rằng bị cáo Nguyễn Văn V phạm vào tội “Vận chuyển hàng cấm”, tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm b khoản 3 Điều 191 Bộ luật hình sự. Như vậy, cáo trạng số: 17/CT-VKS-ĐH ngày 31 tháng 3 năm 2021 của Viện Kiểm sát nhân dân huyện Đức Huệ đã truy tố bị cáo Nguyễn Văn V với tội danh và điều luật nêu trên là có cơ sở đúng theo quy định của pháp luật.
Hành vi của bị cáo Nguyễn Văn V là nguy hiểm cho xã hội, làm ảnh hưởng đến trật tự quản lý kinh tế của Nhà nước, bị cáo là người đã thành niên thực hiện với lỗi cố ý là do ham thu lợi nên từ đó bị cáo nhận lời vận chuyển hàng hóa là thuốc lá ngoại không có chứng từ hóa đơn xuất xứ hàng hóa từ khu vực biên giới ấp 3, xã T, huyện Đ về Cầu Lớn huyện H, thành phố H với số lượng 7.500 bao. Hành vi này của bị cáo cần phải được xử lý nghiêm. Xét thấy, cần phải cách ly bị cáo ra khỏi xã hội mới đủ tác dụng giáo dục và phòng ngừa.
Ngoài hình phạt chính, không cần áp dụng hình phạt bổ sung theo khoản 4 Điều 191 Bộ luật hình sự, vì hoàn cảnh kinh tế gia đình bị cáo khó khăn, bản thân bị cáo không có việc làm ổn định.
Xét thấy bị cáo Nguyễn Văn V trong quá trình truy tố và xét xử thật thà khai báo, có ông ngoại là Liệt sỹ bị cáo là lao động chính trong gia đình, con còn nhỏ, vợ bị cáo bị thương tật là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự, do đó khi lượng hình cũng cần xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt cho các bị cáo.
Xét đề nghị của đại diện Viện kiểm sát về mức hình phạt đối với bị cáo Nguyễn Văn V là có cơ sở theo quy định pháp luật.
Người có quyền lợi nghĩa vụ có liên quan: Bà Phan Thị Y vắng mặt tại phiên tòa, trong lời khai đã nhận lại tài sản không yêu cầu bị cáo bồi thường tiếp theo nên không xem xét. Nếu sau này phát sinh yêu cầu bồi thường sẽ tách ra giải quyết bằng một vụ án khác. [8] Về các biện pháp tư pháp: Căn cứ Điều 47 Bộ luật hình sự và Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự. Phần cơ quan điều tra đã xử lý xong không có yêu cầu xem xét lại nên không xem xét.
- Đối với 7.500 bao thuốc lá ngoại (gồm: 6.300 bao nhãn hiệu Jet, 1.200 bao nhãn hiệu Hero); do nước ngoài sản xuất không có chứng hóa đơn xuất xứ hàng hóa, không xác định chủ sở hữu nên tịch thu tiêu hủy.
- Đối với 01 (một) điện thoại nhãn hiệu Oppo, loại F5, màu bạc, gắn sim số 0961 573 401, đã qua sử dụng, bị cáo sử dụng thực hiện phạm tội nên tịch thu sung vào ngân sách Nhà nước.
- Đối với 01 biển kiểm soát 51F-890.65 là biển số giả nên tịch thu tiêu hủy. Tang vật hiện do chi cục thi hành án dân sự huyện Đức Huệ đang quản lý. Bị cáo chưa nhận tiền công nên không đề cập thu hồi lại. [9] Đối với những người giới thiệu, người thuê bị cáo, người giao nhận thuốc cho bị cáo, cùng một số người khác mua hàng cấm không xác định được nhân thân, lai lịch, địa chỉ, không làm việc được. Cơ quan Cảnh sát điều tra tiếp tục thẩm tra, xác minh đề xuất xử lý sau, nên không đề cập xử lý trong vụ án này là phù hợp. Nhằm không bỏ lọt tội phạm, kiến nghị cơ quan điều tra tiếp tục điều tra xác minh để xử lý sau theo quy định của pháp luật. [10] Bị cáo Nguyễn Văn V phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định pháp luật. Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn V phạm tội “Vận chuyển hàng cấm”. Căn cứ điểm b khoản 3 Điều 191, điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; Điều 32, Điều 38 Bộ luật hình sự; Các Điều 299, 326, 329 Bộ luật Tố tụng Hình sự.
- Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn V 05 (năm) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn từ tính ngày bắt bị cáo thi hành án phạt tù nhưng được khấu trừ thời gian tạm giữ, tạm giam (từ ngày 31/01/2021 đến 31/3/2021). Về các biện pháp tư pháp: Căn cứ Điều 47 Bộ luật hình sự và Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.
- Tịch thu tiêu hủy 7.500 bao thuốc lá ngoại (gồm: 6.300 bao thuốc lá ngoại nhãn hiệu Jet, 1.200 bao thuốc lá ngoại nhãn hiệu Hero).
- Tịch thu sung vào ngân sách Nhà nước: 01 (một) điện thoại nhãn hiệu Oppo, loại F5, màu bạc, gắn sim số 0961 573 401.
- Tịch thu tiêu hủy 01 biển kiểm soát giả 51F-890.65.
Tang vật hiện do Chi cục thi hành án dân sự huyện Đức Huệ đang quản lý.
Về án phí: Căn cứ Điều 135, Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí lệ phí Tòa án.
Buộc bị cáo Nguyễn Văn V phải chịu 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm sung vào ngân sách Nhà nước.
Bị cáo có quyền kháng cáo bản án theo thủ tục phúc thẩm trong thời hạn 15 ngày tính từ ngày tuyên án (ngày 22/6/2021). Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên toà có quyền kháng cáo bản án theo thủ tục phúc thẩm trong thời hạn 15 ngày tính từ ngày nhận được hoặc bản án được niêm yết
TM.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Long An; - VKSND tỉnh Long An; - VKSND huyện Đức Huệ; - Công an huyện Đức Huệ; - CC.THADS huyện Đức Huệ; - Bị cáo; người liên quan; - Hồ sơ THAHS; - Lưu hồ sơ, án văn; | Nguyễn Văn Triến |