- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Ly hôn tranh chấp nuôi con"
- Tòa quyết gì? Căn c vào khoản 1 Điều 28, đi m a khoản 1 Điều 35, đi m a khoản 1 Điều 39, Điều 147, đi m b, Khoản 2 Điều 227 Bộ luật tố t ng dân sự năm 2015.
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN EAKAR TỈNH ĐẮK LẮK | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 28/2021/HNGĐ-ST. Ngày: 31/8/2021. “V/v:Ly hôn, tranh chấp về nuôi con”. |
NHÂN DANH
NƢỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN EAKAR, TỈNH ĐẮK LẮK
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
- Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Minh Ngọc.
- Các hội thẩm nhân dân:
1. Ông Phan Xuân Thắng.
2. Ông Nguyễn Thế Hằng.
- Thư phi n t a: Ông Hồ Quốc Nam.
- ại diện Viện i m sát nh n d n huyện aKar tham gia phi n t a:
Bà Giản Thị Chung. Ch c v : i m sát viên.
Ngày 31 tháng 08 năm 2021, tại tr sở Tòa án nhân dân huyện EaKar, tỉnh Đắk Lắk, xét xử sơ thẩm công khai v án hôn nhân gia đình th lý số: 161/2021/HNGĐ-ST, ngày 20 tháng 04 năm 2021 về “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con”. Theo quyết định đưa v án ra xét xử số: 31/2021/QĐXX-ST, ngày 13 tháng 08 năm 2021, Giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Bà Vũ Thị T, sinh năm 1996. Nơi Đ H TT: Thôn 11, xã E, huyện E, tỉnh Đắk Lắk. Nơi cư trú: Thôn 6D, xã C, huyện E, tỉnh Đắk Lắk. (Có mặt)
Bị đơn: Ông Bùi Đ c A, sinh năm 1997. Nơi cư trú: Thôn 11, xã E, huyện E, tỉnh Đắk Lắk. (Có mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN
* Theo đơn khởi kiện ngày 08/04/2021, tại bản tự khai, biên bản hòa giải và tại phiên tòa hôm nay nguyên đơn bà Vũ Thị T trình bày:
Tôi và chồng tôi ông Bùi Đ c A có về chung sống với nhau trên cơ sở tình yêu tự nguyện và có đăng ký kết hôn tại UBND xã E, huyện E, tỉnh Đắk Lắk vào ngày 18/01/2019.
Nguyên nhân chính dẫn đến tôi làm đơn xin ly hôn: bản thân tôi trước đây có 01 đời chồng và có 01 đ a con riêng với chồng cũ, sau khi về chung sống với ông A thì chồng tôi và gia đình có xin nhận nuôi con riêng của tôi và chuy n toàn bộ họ tên theo yêu cầu của chồng tôi, vì hoàn cảnh gia đình khó khăn chồng tôi thường xuyên phải đi làm, cho đến khoảng 2 tháng trước khi tôi làm đơn xin ly hôn, thì ông A muốn mua máy chung đ cuốn rơm nhưng vì không có vốn nên tôi không đồng ý với lại mua chung máy với người ta lại ph c tạp ra, bản thân tôi nói thì chồng không nghe nên dẫn đến hai vợ chồng xảy ra mâu thuẫn, xích mích, với lại lúc đó con riêng của tôi có về chung sống, ông A đôi lúc đánh con riêng của tôi lại càng khiến bản thân của tôi cảm thấy áp lực với cuộc sống gia đình, càng chung sống vợ chồng càng xảy ra mâu thuẫn. Hai vợ chồng chúng tôi đã không sống chung với nhau từ tháng 04/2021 cho đến nay, trong khoảng thời gian Tòa án giải quyết v án thì vào ngày 14/6/2021 ông Vũ Đ c A có vào nhà ông Vũ Văn Q là bố vợ đ đón cháu Bùi Thị Mỹ N, nên giữa hai bên có xảy ra mâu thuẫn, ông A đã có hành động đã hù dọa dỡ nhà của bố vợ, mở cốp xe máy lấy 01 con dao rồi nên xe máy chạy tông vào cửa nhà làm cửa bị hư hỏng, sau đó được căn ngăn nên ông A mới đi về sự việc này được BTQ thôn 6D xã C lập biên bản làm việc, nay tôi thấy tình cảm vợ chồng không còn, nếu tiếp t c chung sống chỉ mang lại áp lực cho nhau, nên tôi làm đơn đề nghị Tòa án giải quyết cho ly hôn với ông Bùi Đ c A.
Về con chung: trong quá trình chung sống vợ chồng chúng tôi sinh được 01 người con chung.
+ Cháu tên: Bùi Thị Mỹ N, sinh ngày 26/7/2020.
Còn với cháu Bùi Đ c Th, sinh ngày 22/7/2016, cháu thắng là con riêng của tôi với chồng trước, ông A đồng ý nhận nuôi và cải chính họ tên cho cháu.
Nay hai vợ chồng ly hôn tôi có nguyện vọng được nuôi dưỡng và chăm sóc cháu 2 cháu đến tuổi trưởng thành.
Về trợ cấp nuôi dưỡng con chung: Tôi yêu cầu hàng tháng ông A phải có trách nhiệm trợ cấp tiền nuôi dưỡng cháu N là 700.000 đồng/tháng.
- Về tài sản chung, nợ chung: hông yêu cầu Tòa án giải quyết.
* Tại bản tự khai, biên bản hòa giải và tại phiên tòa bị đơn ông Bùi Đức A trình bày:
Tôi và vợ tôi có về chung sống với nhau trên cơ sở tình yêu tự nguyện và có đăng ký kết hôn tại UBND xã E, huyện E, tỉnh Đắk Lắk vào ngày 18/01/2019.
Trong quá trình về chung sống tôi có nhận con riêng của vợ tôi làm con nuôi và có thay đổi họ tên của cháu lấy họ của tôi. Chúng tôi sống chung tại nhà và đất rẫy khoảng 1ha của bố mẹ tôi cho, vì điều kiện khó khăn tôi thường xuyên phải đi làm thêm ở ngoài đ kiếm thêm thu nhập, nhưng bản thân vợ tôi lại ít quan tâm cho gia đình, chỉ đ ý về chung sống với ông bà Ngoại và làm nông nghiệp giúp ông bà, thường xuyên về nhà ông bà Ngoại chơi 1 tuần từ 2 – 3 lần, gia đình bên ngoại có việc gì to nhỏ vợ tôi cũng đều về… Đến khoảng cuối năm 2020 tôi có bàn với vợ tôi mua máy cuốn rơm đ làm chung và có trao đổi với ông bà Ngoại hỏi đ vay vốn thì được ông bà đồng ý, ông bà đồng ý ủng hộ 100.000.000 đồng, nhưng khi tôi hỏi tiền mua máy thì ông bà nói chỉ có 50.000.000 đồng ít bữa nữa mới có, nên tôi đã chấp nhận đến đầu tháng 2 tôi có vào có ý mượn 50.000.000 đồng, nhưng ông bà nói giờ chỉ có 25.000.000 đồng, nhưng ông Nội phải vào mượn. Sau khi ông nói vậy tôi có về nói với vợ là ông Ngoại xem anh như là con nít hay sao mà nói anh như vậy, không có thì không nói ngay lúc đầu đi đ không làm ăn chung nữa, ch giờ không có tiền biết nói sao với người ta bây giờ. Sáng hôm sau vợ tôi lại chở con vào ngoại chơi, bản thân tôi có nói “em suốt ngày đi như vậy” bảo ông bà trả đây ngày 200.000 đồng đ thuê người làm, ch việc làm không hết mà đi suốt ngày, sau đó tôi đi phun thuốc cho Điều, đến trưa thì vợ tôi đã dọn dẹp đồ đạc về ông bà ngoại ở.
Sau đó khoảng 1 tuần tôi mới nói cho ông bà Nội biết, lúc đó ông bà Nội có vào nhà ông bà Ngoại đ nói chuyện nhưng ông bà Ngoại có thái độ khinh thường nói “Con tôi về đây tôi có quyền nuôi và không cần báo cho ai hết và khinh thường tôi vì không đi làm cho ông bà mà đi làm ở bên ngoài.
Trong quá trình sống tại nhà riêng tôi thường xuyên bị ông bà ngoại nói ông bà nội sang tên nhà cửa đất đai cho vợ chồng tôi và về trong ông bà Ngoại sống nhưng tôi không đồng ý, sau này con tôi lớn tôi sẽ sang tên cho con, còn trong quá trình chung sống tôi có đánh con riêng của vợ là do cháu được ông bà chiều chuộng, bố mẹ nói không nghe nên tôi mới đánh đ dạy dỗ cháu.
Nay tôi thấy tình cảm vợ chồng không còn, mâu thuẫn vợ chồng là có thực nay vợ tôi làm đơn ly hôn tôi không đồng ý.
Về con chung: trong quá trình chung sống vợ chồng chúng tôi sinh được 01 người con chung.
+ Cháu tên: Bùi Thị Mỹ N, sinh ngày 26/7/2020.
Còn với Cháu Bùi Đ c Th, sinh ngày 22/7/2016, cháu Th là con riêng của vợ tôi với chồng trước.
Về nguyện vọng nếu hai vợ chồng ly hôn tôi có nguyện vọng được nuôi dưỡng và chăm sóc cháu Bùi Thị Mỹ N, sinh ngày 26/7/2020, đến tuổi trưởng thành,
Còn đối với cháu Bùi Đ c Th, sinh ngày 22/7/2016 giữa chúng tôi không có quan hệ huyết thống chỉ là con nuôi, là con riêng của bà Thêm, nay cháu Thắng ở với mẹ tôi đồng ý.
Về trợ cấp nuôi con: Tôi không đồng ý vì tôi cũng yêu cầu nuôi cháu.
- Về tài sản chung, nợ chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Sau khi th lý v án Tòa án nhân dân huyện Ea ar đã tiến hành triệu tập các đương sự đ tiến hành cho các đương sự tự khai, tại phiên họp ki m tra việc giao nộp, tiếp cận công khai ch ng c và hòa giải, do các đương sự không thống nhất được với nhau về việc giải quyết v án nên Tòa án đưa v án ra xét xử theo quy định của pháp luật.
Tại phiên tòa hôm nay nguyên đơn, bị đơn vẫn giữ nguyên yêu cầu, đề nghị Tòa án giải quyết theo quy định của pháp luật.
Ki m sát viên phát bi u ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố t ng: Từ khi th lý, đến khi xét xử, Thẩm phán tuân theo quy định như lập hồ sơ v án, xác định đúng quan hệ pháp luật tranh chấp, tư cách tham gia tố t ng của các đương sự, tống đạt giấy triệu tập, các quyết định của Tòa án cho đương sự, thời hạn giải quyết v án, chuy n hồ sơ cho Viện ki m sát nghiên c u đúng quy định, thành phần Hội đồng xét xử và trình tự thủ t c tố t ng tại phiên tòa đảm bảo đúng quy định theo Điều 179, Điều 195; Điều 196; Điều 203 của Bộ luật tố t ng dân sự năm 2015. Nguyên đơn, bị đơn thực hiện đúng quyền và nghĩa v của mình theo quy định của pháp luật.
Về nội dung v án:
Qua các ch ng c đã được thu thập có lưu trong hồ sơ v án, qua phần tranh t ng tại phiên tòa, xác định mâu thuẫn vợ chồng là thực tế, mâu thuẫn đã đến m c trầm trọng, nếu tiếp t c chung sống thì không mang lại hạnh phúc cho nhau.
- Từ các phân tích trên, đề nghị HĐXX áp d ng Điều 51, 56, 58; Điều 81, 82, 83, 84 Luật hôn nhân gia đình chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Vũ Thị T.
Về quan hệ hôn nhân: Cho bà Vũ Thị T được ly hôn với ông Bùi Đ c A.
Về con chung: Trong thời gian chung sống vợ chồng sinh được 01 người con chung Bùi Thị Mỹ N, sinh ngày 26/7/2020, hiện nay cháu N đang còn nhỏ dưới 36 tháng tuổi cần giao cho bà T trực tiếp chăm sóc và nuôi dưỡng đến tuổi trưởng thành. Còn đối với cháu Bùi Đ c Th, sinh ngày 22/7/2016 là con riêng của bà T, nên giao cho bà T nuôi dưỡng và chăm sóc là phù hợp.
- Về trợ cấp phí tổn nuôi dưỡng con chung: Trong quá trình giải quyết v án bà T yêu cầu ông A phải có trách nhiệm cấp dưỡng tiền nuôi dưỡng con chung là 700.000 đồng/tháng cho đến khi cháu N đủ 18 tuổi là phù hợp với m c thu nhập thực tế tại địa phương nên đề nghị HĐXX chấp nhận.
Ông Bùi Đ c A được quyền đi lại, thăm nom, chăm sóc con chung, không ai được cản trở. Tuy nhiên, Ông A không được lạm d ng việc thăm nom con đ cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo d c con chung. Vì lợi ích của con chung khi cần thiết, các bên có quyền thay đổi việc nuôi con chung.
Về tài sản chung, nợ chung: Tự thỏa thuận không đề cập đến đ giải quyết.
Về án phí: Các đương sự phải chịu theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, ý kiến của các đương sự, Ki m sát viên, Hội đồng xét xử xét thấy:
Về tố t ng: Bà Vũ Thị T có đơn khởi kiện đề nghị Tòa án nhân dân huyện Ea Kar giải quyết việc ly hôn với ông Bùi Đ c A, bị đơn có đăng ký hộ khẩu thường trú tại Thôn 11, xã E, huyện E, tỉnh Đắk Lắk. Theo quy định tại Khoản 1 Điều 28, đi m a, Khoản 1 Điều 35, đi m a Khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố t ng dân sự, v án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Ea Kar, tỉnh Đắk Lắk.
Về nội dung vụ án:
Về quan hệ hôn nhân: Bà Vũ Thị T và ông Bùi Đ c A có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân UBND xã E, huyện E, tỉnh Đắk Lắk vào ngày 18/01/2019 trên cơ sở tự nguyện, xét thấy đây là hôn nhân hợp pháp được pháp luật thừa nhận và bảo vệ.
Qua xem xét các ch ng c trong hồ sơ v án HĐXX nhận thấy mâu thuẫn vợ chồng của bà Vũ Thị T và ông Bùi Đ c A là có thực tế, trong cuộc sống vợ chồng có xảy ra mâu thuẫn, dẫn đến hai vợ chồng không tìm được tiếng nói chung trong cuộc sống nguyên nhân là do kinh tế không tách bạch được giữa gia đình bên chồng, hiện tại hai vợ chồng đã sống ly thân không còn quan tâm chăm sóc lẫn nhau nữa, trong quá trình Tòa án giải quyết thì vào ngày 14/6/2021 ông Vũ Đ c A có vào nhà ông Vũ Văn Q là bố vợ đ đón cháu Bùi Thị Mỹ N, nên giữa hai bên có xảy ra mâu thuẫn, ông A đã có hành động đã hù dọa dỡ nhà của bố vợ, mở cốp xe máy lấy 01 con dao rồi nên xe máy chạy tông vào cửa nhà làm cửa bị hư hỏng, sau đó được căn ngăn nên ông A mới đi về sự việc này được BTQ thôn 6D xã C lập biên bản làm việc (Bl: 35). Trong quá trình giải quyết tại Tòa án ông A xác định mâu thuẫn vợ chồng là có thực, tình cảm vợ chồng không còn nữa, hiện đang sống ly thân nhưng ông A mong muốn vợ chồng về đoàn t nuôi dạy con chung, Tòa án nhân dân huyện Ea ar đã tiến hành hòa giải đ hai vợ chồng về đoàn t nhưng không thành, mặc dù ông A không đồng ý ly hôn nhưng qua thời gian sống ly thân, qua hòa giải tại Tòa án, biên bản xác minh tại BTQ thôn 11, xã E, HĐXX xét thấy, về mâu thuẫn vợ chồng ông A và bà T đã đến m c trầm trọng không th hàn gắn được nữa, dẫn tới hai vợ chồng phải sống ly thân, tình cảm của bà T dành cho ông A là không còn nữa, cố níu kéo đ tiếp t c chung sống cũng không mang lại hạnh phúc cho nhau. Do vậy, HĐXX cần chấp nhận đơn khởi kiện ly hôn của bà T, cho bà T được ly hôn với ông Vũ Đ c A là phù hợp.
Về con chung: trong quá trình chung sống vợ chồng ông Bùi Đ c A và bà Vũ Thị T sinh được 01 người con chung.
+ Cháu tên: Bùi Thị Mỹ N, sinh ngày 26/7/2020.
Còn với Cháu Bùi Đ c Th, sinh ngày 22/7/2016, cháu Th là con riêng của Vũ Thị T. Bà T và ông A đều có nguyện vọng được nuôi dưỡng và chăm sóc con chung là cháu Bùi Thị Mỹ N.
HĐXX xét thấy: cháu Bùi Thị Mỹ N còn nhỏ, cần có sự quan tâm chăm sóc, giáo d c của người mẹ là phù hợp với khoản 3 Điều 81 Luật hôn nhân và gia đình là “con dưới 36 tháng tuổi phải giao cho mẹ chăm sóc và nuôi dưỡng, trừ trường hợp các bên đương sự có thỏa thuận khác”. Do các bên đương sự không thống nhất được với nhau về việc nuôi dưỡng con chung sau khi ly hôn và không có sự thỏa thuận khác. Do vậy, căn c vào điều luật trên HĐXX cần giao cháu Bùi Thị Mỹ N sinh ngày 26/7/2020 cho bà Vũ Thị Th trực tiếp nuôi dưỡng và chăm sóc đến tuổi trưởng thành đủ 18 tuổi là phù hợp.
Còn đối với cháu Bùi Đ c Th, sinh ngày 22/7/2016, cháu Th là con riêng của Vũ Thị T, đều được các bên đương sự thừa nhận, mặc dù ông A đã nhận nuôi dưỡng và thay đổi đ mang họ của ông A, tại Tòa án ông A đồng ý giao cháu Th cho bà T nuôi dưỡng, nên HĐXX cần giao cháu Th cho bà Vũ Thị Th trực tiếp nuôi dưỡng và chăm sóc cháu Th là phù hợp.
Về tiền trợ cấp phí tổn nuôi dưỡng con chung: bà Vũ Thị T yêu cầu ông Bùi Đ c A phải trợ cấp tiền nuôi dưỡng con chung là 700.000 đồng/tháng đến khi cháu N đủ 18 tuổi.
HĐXX xét thấy: Trong quá trình giải quyết v án ông A không đồng ý trợ cấp vì cũng có nguyện vọng được nuôi dưỡng và chăm sóc cháu N, Tuy nhiên, HĐXX đã giao cháu N sinh ngày 26/7/2020 cho bà Vũ Thị T trực tiếp nuôi dưỡng và chăm sóc đến tuổi trưởng thành, xét yêu cầu của bà T yêu cầu ông A phải có trách nhiệm trợ cấp phí tổn nuôi dưỡng con chung là phù hợp, qua biên bản xác minh tại địa phương, xác định ông A có nghề nghiệp làm nông, có m c thu nhập từ 3.000.000 đồng – 4.000.000 đồng/tháng, xét m c yêu cầu của nguyên đơn là phù hợp với m c thu nhập bình quân của ông A, xác định nghĩa v cấp dưỡng của bố mẹ với con cái khi ly hôn là ngang nhau, vì lợi ích của con nên HĐXX cần buộc ông Vũ Đ c A phải có trách nhiệm hàng tháng phải trợ cấp phí tổn nuôi dưỡng con chung cho bà Vũ Thị T là 700.000 đồng/tháng đ chăm sóc, nuôi dưỡng cháu N đủ 18 tuổi.
Ông Bùi Đ c A được quyền đi lại, thăm nom, chăm sóc và giáo d c con chung không ai được cản trở. Tuy nhiên, ông A không được lạm d ng việc thăm nom con đ cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo d c con chung thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người đó. Vì lợi ích của con chung khi cần thiết, các bên có quyền thay đổi việc nuôi dưỡng con chung.
Về tài sản chung, nợ chung: Các đương sự tự thỏa thuận không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Về án phí: Căn c khoản 4 Điều 147 Bộ luật tố t ng dân sự, đi m a Khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường v Quốc hội: các đương sự phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
- Căn c vào khoản 1 Điều 28, đi m a khoản 1 Điều 35, đi m a khoản 1 Điều 39, Điều 147, đi m b, Khoản 2 Điều 227 Bộ luật tố t ng dân sự năm 2015. Điều 51, Khoản 1 Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83, Điều 84 Luật Hôn nhân và gia đình, đi m a Khoản 5 Điều 27, Nghị quyết 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường v Quốc hội.
Tuyên xử:
Chấp nhận đơn khởi kiện của bà Vũ Thị T.
1.Về quan hệ hôn nhân: Bà Vũ Thị T được ly hôn với ông Bùi Đ c A.
2.Về con chung: Giao con chung là cháu Bùi Thị Mỹ N, sinh ngày 26/7/2020,
cho bà Vũ Thị T được trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo d c cho đến khi cháu N đủ 18 tuổi.
Còn đối với cháu Bùi Đ c Th, sinh ngày 22/7/2016, là con riêng của Vũ Thị T, nên cần giao cho bà T chăm sóc và nuôi dưỡng đến tuổi trưởng thành.
- Về trợ cấp phí tổn nuôi dưỡng con chung: Hàng tháng ông Bùi Đ c A phải có trách nhiệm trợ cấp tiền phí tổn nuôi dưỡng con chung cho bà Vũ Thị T đ nuôi dưỡng cháu Bùi Thị Mỹ N với số tiền là 700.000 đồng/tháng cho đến khi cháu N đủ 18 tuổi.
Ông Bùi Đ c A được quyền đi lại, thăm nom, chăm sóc con chung không ai được cản trở. Tuy nhiên, ông Ạ không được lạm d ng việc thăm nom con đ cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo d c con chung thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người đó. Vì lợi ích của con chung khi cần thiết, các bên có quyền thay đổi việc nuôi dưỡng con chung.
3. Về tài sản chung, nợ chung: Các đương sự không yêu cầu Tòa án xem xét giải quyết.
4. Về án phí: Căn c vào Nghị quyết 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường v Quốc hội.
Bà Vũ Thị T phải chịu 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) án phí Hôn nhân gia đình sơ thẩm, được khấu trừ vào số tiền 300.000 đồng tạm ng án phí đã nộp theo biên lai thu tạm ng án phí, lệ phí Tòa án số 60AA/2021/0005280 ngày 14 tháng 04 năm 2021 tại Chi c c Thi hành án dân sự huyện Ea Kar.
Ông Bùi Đ c A phải chịu 300.000 đồng (Ba trăm ngàn đồng) tiền án phí không có giá ngạch đối với số tiền cấp dưỡng nuôi dưỡng con chung.
Nguyên đơn, bị đơn có mặt tại phiên Tòa được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày k từ ngày tuyên án.
Quyết định này được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Đắk Lắk; - V SND tỉnh Đắk Lắk; - V SND huyện Ea ar; - Chi c c THADS huyện Ea ar; - UBND xã Cư Elang; xã Ea Ô; - Các đương sự; - Lưu hồ sơ, V . | (đã ký) Nguyễn Minh Ngọc |