vanban.org

Bản án 28/2021/DS-ST — Tranh chấp về hụi, họ, biêu, phường

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Trần Thị H đối với bà Nguyễn Thị T.

Buộc bà Nguyễn Thị T phải trả cho bà Trần Thị H số tiền hụi còn nợ 15.000.000đ (Mười lăm triệu đồng). Kể từ khi có đơn yêu cầu thi hành án của bà Trần Thị H, nếu chậm thi hành, bà Nguyễn Thị T còn phải trả thêm tiền lãi theo quy định tại Điều 357 và khoản 2 Điều 468 của Bộ luật dân sự năm 2015. Về á… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Tranh chấp về hụi, họ, biêu, phường — án dân sự — "Bà Trần Thị H "Tranh chấp hụi" bà Nguyễn Thị T"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Trần Thị H đối với bà Nguyễn Thị T.
  • Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 26 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN MỘC HÓA
TỈNH LONG AN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 28/2021/DS-ST
Ngày: 21/5/2021
V/v: “Tranh chấp hụi”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MỘC HÓA

TỈNH LONG AN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Phạm Thị Thúy Hồng.

Các hội thẩm nhân dân:

1/ Bà Phạm Thị Mai;

2/ Ông Võ Ngọc Bột;

- Thư ký ghi biên bản phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Thành, Thư ký Tòa án nhân dân huyện Mộc Hóa, tỉnh Long An.

Ngày 21 tháng 5 năm 2021, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Mộc Hóa, tỉnh Long An xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 18/2021/TLST-DS, ngày 15 tháng 4 năm 2021, về việc: “Tranh chấp hụi”. Theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 34/2021/QĐXXST-DS, ngày 13 tháng 4 năm 2021 và Quyết định hoãn phiên tòa số 21/2021/QĐST-DS ngày 23/4/2021 của Tòa án nhân dân huyện Mộc Hóa, tỉnh Long An giữa các đương sự:

1/ Nguyên đơn: Bà Trần Thị H, sinh năm 1970;

Địa chỉ cư trú: Ấp Bình Tây 2, xã B, huyện M, tỉnh Long An;

2/ Bị đơn: Bà Nguyễn Thị T, sinh năm: 1977;

Địa chỉ cư trú: Ấp Bình Tây 2, xã B, huyện M, tỉnh L;

(Bà H có mặt, bà T vắng mặt không lý do)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

1/ Theo đơn khởi kiện ghi ngày 28/12/2020 và những lời trình bày tiếp theo của nguyên đơn, bà Trần Thị H, như sau:

Vào ngày 20/7/2017 (AL) bà Nguyễn Thị T có tham gia đầu hụi do bà làm chủ thảo. Hụi gồm 15 thành viên, hụi 5.000.000đ, 4 tháng đóng một lần. Bà T hốt hụi vào ngày 30/11/2019 (AL) số tiền 51.700.000đ. sau khi hốt hụi bà T có đóng được một lần 5.000.000đ và nhưng đến các kỳ hụi vào tháng 03/2020, 07/2020 và 11/2020 bà T chưa đóng. Tổng cộng là 15.000.000đ.

Trước đây bà yêu cầu bà T trả số tiền 30.000.000đ. Nay bà thay đổi yêu cầu khởi kiện chỉ yêu cầu bà Nguyễn Thị T trả số tiền 15.000.000đ của 03 kỳ hụi chưa đóng, không yêu cầu tính lãi suất.

2. Bị đơn, bà Nguyễn Thị T vắng mặt nhưng tại biên bản hòa giải có ý kiến trình bày: Bà thừa nhận có tham gia chơi hụi do bà H làm chủ hụi. Hụi mở ngày 20/7/2017 (AL), hụi có 15 người tham gia, hụi 5.000.000đ, bốn tháng đóng 01 lần (một năm đóng 03 lần). Bà hốt hụi vào ngày 30/11/2019 được số tiền 51.700.000đ. Nay bà H khởi kiện yêu cầu bà trả số tiền 30.000.000đ, bà không đồng ý vì bà H đã bể hụi nên bà chỉ đồng ý trả cho bà H số tiền đã nhận là 6 x 2.600.000đ = 15.600.000đ (do hụi bỏ 2.400.000đ).

Tại phiên tòa:

Nguyên đơn trình bày đã cung cấp đủ các chứng cứ, không cung cấp chứng cứ gì thêm đồng thời vẫn giữ ý kiến như nội dung tóm tắt của vụ án.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Về quan hệ pháp luật và thẩm quyền của Tòa án: Ngày 28/12/2020 bà Trần Thị H khởi kiện yêu cầu bà Nguyễn Thị T trả lại số tiền hụi 30.000.000đ làm phát sinh quan hệ pháp luật tranh chấp hợp đồng dân sự về hụi. Đây là vụ án dân sự thuộc thẩm quyền giải quyết của Toà án. Do bà T cư trú tại huyện Mộc Hóa, nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Mộc Hóa theo quy định tại Điều 26, Điều 35, Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.

Về sự vắng mặt của đương sự: Bà Nguyễn Thị T đã được Tòa án triệu tập hợp lệ hai lần nhưng vẫn vắng mặt tại phiên tòa. Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt ông N theo quy định tại Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.

Về yêu cầu của đương sự: Bà Trần Thị H yêu cầu bà Nguyễn Thị T phải đóng số tiền hụi chết 03 lần ,mỗi lần là 5.000.000đ. Ngược lại bà T vắng mặt nhưng có ý kiến chỉ đồng ý trả 6 lần mỗi lần 2.600.000đ (do hụi bỏ 2.400.000đ). Xét bà T đã thừa nhận có góp hụi do bà H làm chủ và đã hốt hụi và đã góp được một kỳ hụi chết 5.000.000đ. Nhưng bà T không đóng hụi cho bà H 03 kỳ hụi với số tiền 15.000.000đ nên bà H phải choàng tiền trả cho các hụi viên khác. Hội đồng xét xử xác định đây là tình tiết không phải chứng minh theo quy định tại khoản 2 Điều 92 của Bộ luật tố tụng dân sự. Khoản 2 Điều 92 của Bộ luật tố tụng dân sự quy định: “Một bên thừa nhận hoặc không phản đối những tình tiết, sự kiện, tài liệu, văn bản, …. mà bên đương sự kia đưa ra thì bên đương sự đó không phải chứng minh”. Do đó có căn cứ xác định bà T còn nợ 03 kỳ hụi chết cho bà H số tiền 15.000.000đ. Nay bà H yêu cầu bà T trả số tiền 15.000.000đ là có cơ sở nên Hội đồng xét xử xét cần chấp nhận. Bà H không yêu cầu tính lãi suất, đây là sự tự nguyện của đương sự nên Hội đồng xét xử nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Về án phí dân sự sơ thẩm: bà T phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định.

Vì các lẽ trên:

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 3 Điều 26, các Điều 35, 39, 147, 227, 271 và 273 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015; Điều 471 của Bộ luật dân sự năm 2015; Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Trần Thị H đối với bà Nguyễn Thị T.

Buộc bà Nguyễn Thị T phải trả cho bà Trần Thị H số tiền hụi còn nợ 15.000.000đ (Mười lăm triệu đồng). Kể từ khi có đơn yêu cầu thi hành án của bà Trần Thị H, nếu chậm thi hành, bà Nguyễn Thị T còn phải trả thêm tiền lãi theo quy định tại Điều 357 và khoản 2 Điều 468 của Bộ luật dân sự năm 2015.

Về án phí dân sự sơ thẩm: Bà Nguyễn Thị T phải chịu 750.000đ (Bảy trăm năm mươi nghìn đồng). Bà Trần Thị H không phải chịu án phí, hoàn trả cho bà H số tiền tạm ứng án phí đã nộp 750.000đ (Bảy trăm năm mươi nghìn đồng) theo biên lai số 0000190, ngày 24/02/2021 của chi cục Thi hành án dân sự huyện Mộc Hóa, tỉnh Long An.

Nguyên đơn có mặt được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án. Bị đơn, vắng mặt, được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được tống đạt hợp lệ.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Cỡ chữ