- Tranh chấp gì? Tranh chấp hợp đồng vay tài sản — án dân sự — "vay tài sản"
- Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Trần Thị Ánh Nguyệt.
- Căn cứ chính? Điều 91 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ ĐỒNG XOÀI TỈNH BÌNH PHƯỚC | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 28/2021/DS-ST Ngày: 24/12/2021 V/v: “Tranh chấp hợp vay tài sản” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ ĐỒNG XOÀI, TỈNH BÌNH PHƯỚC
-Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thanh Nga
Các hội thẩm nhân dân: Ông Trần Sỹ Trinh, ông Nguyễn Văn Anh
-Thư ký phiên tòa: Bà Đỗ Thị Nga - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Đồng Xoài, tỉnh Bình Phước.
-Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Đồng Xoài tham gia phiên tòa: Bà Trần Thị Thủy Hằng -Kiểm sát viên.
Ngày 24 tháng 12 năm 2021, tại Tòa án nhân dân thành phố Đồng Xoài xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 235/2020/TLST-DS ngày 04/12/2020 về “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 28/2021/QĐXXST–DS ngày 11/10/2021, Quyết định hoãn phiên tòa số 26/2021/QĐST-DS ngày 28/10/2021 và Thông báo về việc thay đổi thời gian mở phiên tòa số 25/TB-TA ngày 26/11/2021 của Tòa án nhân dân thành phố Đồng Xoài giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị Huyền T, sinh năm 1982; Nơi cư trú: khu phố Xuân Lộc, phường P, thành phố Đồng Xoài, tỉnh Bình Phước (Xin vắng mặt).
- Bị đơn: Ông Bùi Văn H, sinh năm 1982; Nơi cư trú: tổ 5, khu phố M, thành phố Đồng Xoài, tỉnh Bình Phước (Vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện đề ngày 09/11/2020, quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn bà Nguyễn Thị Huyền T trình bày:
Do chỗ quen biết, nên ông Bùi Văn H có hỏi và mượn tôi số tiền 41.000.000đồng để làm ăn. Khi bà T cho mượn tiền thì ông H có viết giấy tau ghi ngày 25/11/2019, ông H hẹn đến ngày 25/4/2020 sẽ hoàn trả số tiền gốc và lãi là 02%/tháng/triệu cho bà T. Nhưng đến hạn thì ông H không trả. Từ đó đến nay, bà T đã nhiều lần đến nhà yêu cầu ông H hoàn trả số tiền đã mượn nhưng ông H vẫn không trả.
Nay, bà T khởi kiện yêu cầu ông H trả cho bà T số tiền gốc là 41.000.000đồng và tiền lãi là 2%/tháng/triệu từ ngày vay 25/11/2019 đến khi Tòa án giải quyết xong vụ án.
Ngày 22/12/2020 bà T có đơn xin rút yêu cầu tính lãi, không yêu cầu ông H phải trả lãi cho bà T nữa.
Bị đơn ông Bùi Văn H vắng mặt trong suốt quá trình giải quyết vụ án, không đến Tòa án làm việc, không có văn bản trình bày ý kiến về việc giải quyết vụ án.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Đồng Xoài phát biểu ý kiến: Về việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử từ khi thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án là đúng quy định pháp luật. Người tham gia tố tụng bị đơn ông Bùi Văn H vắng mặt trong suốt quá trình giải quyết vụ án.
Về quan điểm giải quyết vụ án: Căn cứ các Điều 280, 463, 466 Bộ luật dân sự năm 2015; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban H vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp và sử dụng án phí, lệ phí tòa án. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị Huyền T. Buộc ông Bùi Văn H có nghĩa vụ trả cho bà Nguyễn Thị Huyền T số tiền nợ gốc 41.000.000đồng (Bốn mươi mốt triệu đồng).
Đình chỉ yêu cầu của bà T về việc buộc ông H trả tiền lãi là 2%/tháng/triệu từ ngày vay 25/11/2019 đến khi Tòa án giải quyết xong vụ án.
Về án phí và nghĩa vụ thi hành án đề nghị Tòa án áp dụng theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra công khai tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1]Về tố tụng: Bà Nguyễn Thị Huyền T khởi kiện tranh chấp hợp đồng vay tài sản, đối với bị đơn ông Bùi Văn H có nơi cư trú tại tổ 5, khu phố Bình Thiện, phường Tân Thiện, thành phố Đồng Xoài, Bình Phước nên thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Đồng Xoài theo quy định tại khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.
Về việc vắng mặt các đương sự: Nguyên đơn bà Nguyễn Thị Huyền T có đơn xin xét xử vắng mặt. Bị đơn ông Bùi Văn H mặc dù đã được Tòa án tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng nhưng vẫn vắng mặt không có lý do nên được xem là từ bỏ quyền trình bày, đưa ra ý kiến chứng minh để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình. Do đó, căn cứ Điều 227 và Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự Toà án tiến hành xét xử vắng mặt đương sự theo thủ tục chung.
[2]Về nội dung vụ án:
Theo Giấy mượn tiền ngày 25/11/2019 thể hiện ông Bùi Văn H có mượn tiền của bà Nguyễn Thị Huyền T số tiền 41.000.000đồng (bốn mươi mốt triệu đồng), hẹn 25/4/2020 sẽ trả đủ. Ông Bùi Văn H ký tên. Bà T cho rằng khi đến hạn trả tiền ngày 25/4/2021 ông H không thực hiện. Bà T đã đến nhà và gọi điện nhiều lần nhưng ông H cố tình né tránh nên ngày 09/11/2021bà T làm đơn khởi kiện đến Tòa án yêu cầu ông H trả lại số tiền nợ gốc là 41.000.000đồng (Bốn mươi mốt triệu đồng) và tiền lãi là 2%/tháng/triệu từ ngày vay 25/11/2019 đến khi Tòa án giải quyết xong vụ án. Ngày 22/12/2020 bà T có đơn xin rút yêu cầu tính lãi, không yêu cầu ông H phải trả lãi cho bà T nữa.
Xét thấy, các bên có xác lập hợp đồng vay tài sản trên cơ sở tự nguyện thỏa thuận, không trái pháp luật và đạo đức xã hội, làm phát sinh quyền và nghĩa vụ theo quy định tại Điều 256, 463 Bộ luật dân sự năm 2005. Trong quá trình giải quyết ông H đã được Tòa án tiến hành tống đạt hợp lệ nhưng ông Thương không đến Tòa án nên không làm việc được với ông Thương, việc ông Thương vắng mặt được xem là từ bỏ quyền trình bày, đưa ra ý kiến chứng minh để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình. Yêu cầu khởi kiện của bà T là có căn cứ nên được Hội đồng xét xử chấp nhận.
[3]Quan điểm của đại diện viện kiểm sát nhân dân thành phố Đồng Xoài có cơ sở nên được chấp nhận.
[4]Án phí sơ thẩm và các chi phí tố tụng khác: Do nguyên đơn được chấp nhận yêu cầu khởi kiện nên bà Hằng phải chịu theo quy định tại Nghị quyết số 326/2016/UBTV-QH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban H vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án đối với số tiền phải trả 1.000.000.000đồng là 42.000.000đồng.
Vì các lẽ nêu trên:
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 3 Điều 26; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; khoản 1 và khoản 4 Điều 91; Điều 147; Điều 227, Điều 228, Điều 266, Điều 271; Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.
Căn cứ Điều 280, 463, 466 Bộ luật dân sự năm 2015.
Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTV-QH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban H vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án:
Tuyên xử:
1.Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Trần Thị Ánh Nguyệt.
2.Đình chỉ yêu cầu của bà T về việc buộc ông H trả tiền lãi là 2%/tháng/triệu từ ngày vay 25/11/2019 đến khi Tòa án giải quyết xong vụ án.
3. Buộc ông Bùi Văn H có nghĩa vụ trả cho bà Nguyễn Thị Huyền T số tiền nợ gốc 41.000.000đồng (Bốn mươi mốt triệu đồng).
3. Về án phí dân sự sơ thẩm: Ông Bùi Văn H phải chịu án phí sơ thẩm là 2.050.000đồng (Hai triệu không trăm năm mươi ngàn đồng).
Bà Nguyền Thị Huyền T không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm, hoàn trả bà T số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 1.050.000đồng (Một triệu không trăm năm mươi ngàn đồng) theo biên lai thu tiền số 0025388 ngày 23/11/2020 của Chi cục thi hành án dân sự thành phố Đồng Xoài.
Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật (đối với các trường hợp Cơ quan thi hành án có quyền chủ động ra quyết định thi hành án) hoặc kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong tất cả các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tai khoản 2 Điều 468 Bộ luật dân sự năm 2015, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, điều 7, điều 9 Luật thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 luật thi hành án dân sự.
4. Quyền kháng cáo: Bà Nguyễn Thị Huyền T và ông Bùi Văn H vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.
| Nơi nhận: -TAND tỉnh Bình Phước; -VKSND TP. Đồng Xoài; -Chi cục THADS TP. Đồng Xoài; -Các đương sự; -Lưu HSVA. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẨM PHÁN–CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thị Thanh Nga |