vanban.org

Bản án 28/2021/DS-ST — Tranh chấp hợp đồng thuê khoán tài sản

TAND huyện Chư Păh, tỉnh Gia Lai Tuyên án 21/10/2021 Dân sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.

Tuyên xử: 1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Tổng công ty cà phê Việt Nam. Buộc bà Trần Thị T phải có nghĩa vụ trả choTổng công ty cà phê Việt Nam thông qua Công ty cà phê 706 số tiền là: 46.277.718 đồng (bốn mươi sáu triệu hai trăm bảy mươi bảy ngàn bảy trăm mười tám đồng). Kể từ ngày Bản án có hiệ… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Tranh chấp hợp đồng thuê khoán tài sản — án dân sự — "tranh chấp hợp đồng giao nhận khoán sản xuất cà phê"
  • Tòa quyết gì? Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.
  • Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN CHƯ PĂH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

-TỈNH GIA LAI
------------
Bản án số: 28 /2021/DS-ST
Ngày: 21/10/2021
V/v:“Tranh chấp hợp đồng
giao nhận khoán sản xuất cà phê ”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHƯ PĂH, TỈNH GIA LAI

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

- Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Bảo

- Các Hội thẩm nhân dân: 1. Bà Hoàng Thị Bình.

2. Bà Hoàng Thị Hải.

- Thư ký phiên tòa: Bà Huỳnh Nữ Hương Giang- Thư ký Tòa án nhân dân huyện Chư Păh, Gia Lai.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Chư Păh, Gia Lai tham gia phiên tòa:Ông Nguyễn Minh Diệp - Kiểm sát viên.

Ngày 21 tháng 10 năm 2021, tại Toà án nhân dân huyện Chư Păh, tỉnh Gia Lai xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số:42/2020/TLST-DS, ngày 29 tháng 10 năm 2020, về việc “Tranh chấp hợp đồng giao nhận khoán sản xuất cà phê” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số:42/2021/QĐXXST- DS ngày 24 tháng 8 năm 2021; Quyết định hoãn phiên tòa số: 42a/2021/QĐST-DS ngày 20 tháng 9 năm 2021; Thông báo về việc thay đổi thời gian xét xử vụ án ngày 15 tháng 10 năm 2021 giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Tổng công ty cà phê Việt Nam.

Địa chỉ: 211-213-213A Trần Huy Liệu, phường 8, quận Phú Nhuận, Tp. Hồ Chí Minh.Đại diện theo pháp luật: Ông Nguyễn Văn Minh – Tổng giám đốc.

- Người đại diện theo ủy quyền: Ông Phạm Văn Ng - Giám đốc Chi nhánh Tổng công ty cà phê Việt Nam - Công ty cà phê 706.

- Người đại diện theo ủy quyền lại tham gia tố tụng: Ông Nguyễn Văn H - Phó phòng tổ chức hành chính Công ty cà phê 706. Địa chỉ: Thôn Tân Hợp, xã Ia Yok, huyện Ia Grai, tỉnh Gia Lai. Có mặt

2. Bị đơn: Bà Trần Thị T, sinh năm 1969.

Địa chỉ: Thôn 7, xã Ia Nhin, huyện Chư Păh, tỉnh Gia Lai. Vắng mặt

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Trong đơn khởi kiện nộp ngày 27 tháng 10 năm 2020, cùng các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và tại phiên toà sơ thẩm,đại diện theo ủy quyền lại của Tổng công ty cà phê Việt Nam,ông Nguyễn Văn H trình bày:

Bà Trần Thị T là công nhân của Tổng công ty cà phê 706, thực hiện phương án giao khoán sản xuất vườn cây chu kỳ 2018-2022 của Công ty, ngày 10/9/2018 bà Trần Thị T ký hợp đồng số E.39 nhận khoán diện tích 0,93ha cà phê kinh doanh của công ty, sản lượng giao khoán năm 2019 là 5.185 kg cà phê quả tươi. Nhưng khi thực hiện xong việc thu hoạch sản phẩm cà phê trên diện tích đất nhận khoán, bà T chỉ cân nhập về kho của công ty 2.489 kg cà phê tươi, như vậy bà T đã không thực hiện cam kết giao nộp sản phẩm theo hợp đồng giao nhận khoán là 2.696 kg cà phê quả tươi (5.185kg-2.489kg =2.696 kg), tương đương với giá trị thành tiền là 19.141.600 đồng tính theo giá trị trường tại thời điểm tháng 12/2019. Ngoài ra hàng năm bà T không nộp đủ sản lượng cà phê theo hợp đồng đã ký, dẫn đến nợ sản phẩm tồn đọng lại từ những năm trước là 11.515 kg cà phê quả tươi, tương đương giá trị thị trường tại thời điểm tháng 12/2019 là 81.756.500 đồng.

Bà T còn vay của Công ty cà phê 706 các loại vật tư phân bón và các khoản tiền đóng BHXH, BHYT, BHNT nhưng khi bà T bỏ việc đã không thanh toán, đến nay số tiền nợ tồn đọng không trả cho Công ty là 29.664.694 đồng.

Tổng công ty cà phê Việt Nam đề nghị bà Trần Thị T phải trả cho Tổng công ty cà phê thông qua Công ty cà phê 706 tổng ba khoản tiền là: 130.562.794 đồng.

Trong quá trình giải quyết, đại diện Tổng công ty cà phê Việt Nam xin rút bớt yêu cầu khởi kiện về khoản nợ sản phẩm tồn đọng từ những năm trước là 11.515 kg cà phê quả tươi và các khoản tiền đóng BHXH, BHYT, BHNT, chỉ yêu cầu bà T phải trả các khoản tiền sau:

-Số lượng cà phê quả tươi còn thiếu theo hợp đồng giao khoán: 2.696 kg.

Tổng Công ty Cà phê yêu cầu bà T trả bằng sản lượng Cà phê hay quy ra tiền 2.696 kg x 6.900 đồng (giá tại thời điểm tháng 12/2019) = 18.602.400 đồng

-Tiền phân bón bà T nhận năm 2019, cộng thành tiền: 21.915.000 đồng.

-Tiền nợ còn lại từ năm 2018 chuyển sang là 5.760.318 đồng

Tổng 03 khoản: 46.277.718 đồng (bốn mươi sáu triệu hai trăm bảy mươi bảy ngàn bảy trăm mười tám đồng)

Về án phí dân sự buộc bà Trần Thị T phải chịu.

Về chi phí thông báo trên phương tiện thông tin đại chúng: Tổng chi phí là 3.533.000 đồng, Tổng công ty cà phê Việt Nam tự nguyện chịu 3.533.000 đ (ba triệu năm trăm ba mươi ba ngàn đồng) chi phí này .

Ngoài ra,Tổng công ty cà phê Việt Nam không có yêu cầu gì thêm.

Đối với bị đơn bà Trần Thị T: Quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã thực hiện việc tống đạt Thông báo thụ lý vụ án, các văn bản tố tụng theo quy định nhưng bị đơn không có mặt ở nhà. Tòa án đã thông báo, niêm yết công khai các văn bản tố tụng theo đúng quy định pháp luật, đăng tin trên phương tiện thông tin đại chúng (Báo công lý số 36, 37, 38 ra các ngày 04, 07, 11/05/2021; Đài Tiếng nói Việt Nam vào lúc 17h30-18h00 các ngày 23,24,25/05/2021). Tòa án tổ chức công khai chứng cứ và H giải nhưng bị đơn bà Trần Thị T không có mặt. Đến phiên tòa xét xử lần thứ hai bà T cũng vắng mặt tại Tòa án không có lý do và không có văn bản gì trình bày ý kiến của mình đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

Kiểm sát viên phát biểu ý kiến:

Về việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký và nguyên đơn là đảm bảo theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Đối với bị đơn đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhưng vẫn vắng mặt tại phiên tòa, do đó Hội đồng xét xử xét xử vắng mặt bị đơn quy định tại điểm b khoản 2 Điều 227; khoản 3 Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự.

Về việc giải quyết vụ án: Căn cứ Điều 483; 485; 488 của Bộ luật dân sự.

Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Buộc bà Trần Thị T phải trả cho Tổng công ty cà phê Việt Nam thông qua Công ty cà phê 706 sản lượng Cà phê hay quy ra tiền 2.696 kg x 6.900 đồng (giá tại thời điểm tháng 12/2019) = 18.602.400 đồng

-Tiền phân bón bà T nhận năm 2019, quy thành tiền: 21.915.000 đồng

-Tiền nợ còn lại từ năm 2018 chuyển sang là 5.760.318 đồng

Tổng 03 khoản: 46.277.718 đồng (bốn mươi sáu triệu hai trăm bảy mươi bảy ngàn bảy trăm mười tám đồng)

Về án phí dân sự sơ thẩm buộc bà Trần Thị T phải chịu.

Về chi phí thông báo trên phương tiện thông tin đại chúng: Do Tổng công ty cà phê Việt Nam yêu cầu và tự nguyện chịu 3.533.000 đ (ba triệu năm trăm ba mươi ba ngàn đồng) chi phí này nên không xem xét.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi Ngên cứu các tài liệu,chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà. Hội đồng xét xử nhận định:

Về tố tụng:

Về thẩm quyền: Hợp đồng số E.39/HĐG-NK là Hợp đồng nhận khoán được ký kết giữa công ty Cà phê 706 với bà Trần Thị T, có địa chỉ tại thôn 7, xã Ia Nhin, huyện Chư Păh. Yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Chư Păh, tỉnh Gia Lai theo quy định tại khoản 3 Điều 26; điểm a khoản 1 Điều 35; khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự.

Về quan hệ pháp luật: Theo đơn khởi kiện, quá trình tham gia tố tụng và tại phiên tòa nguyên đơn khởi kiện bị đơn về việc thực hiện cam kết giao nộp sản phẩm theo hợp đồng giao nhận khoán cà phê và thực hiện nghĩa vụ trả các khoản nợ nên Hội đồng xét xử xác định quan hệ tranh chấp trong vụ án này là “Tranh chấphợp đồng giao nhận khoán sản xuất Cà phê và yêu cầu thực hiện nghĩa vụ trả tiền”.

Quá trình giải quyết vụ án Tòa án đã triệu tập hợp lệ bị đơn tham gia phiên tòa nhưng bị đơn vắng mặt không có lý do. Vì vậy theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 227; khoản 3 Điều 228 củaBộ luật tố tụng dân sự, Tòa án vẫn tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn.

Về nội dung: Xét yêu cầu của nguyên đơn buộc bà Trần Thị T phải trả cho Tổng công ty cà phê thông qua Công ty cà phê 706, tổng 03 khoản là:

2.1. Số lượng cà phê quả tươi còn thiếu theo hợp đồng giao khoán, buộc bà T phải thanh toán quy đổi bằng tiền : 2.696 kg x 6.900 đồng (giá tại thời điểm tháng 12/2019) = 18.602.400 đồng

Xét Hợp đồng giao-nhận khoán sản xuất cà phê giai đoạn 2018-2022 số E.39/HĐG-NK ngày 10/9/2018 có nội dung và hình thức đúng quy định về giao dịch dân sự tại Điều 401, Điều 483, 484, 485 và Điều 488 Bộ luật dân sự 2015. Hai bên tự nguyện thỏa thuận ký kết, Hợp đồng này có hiệu lực pháp luật, với định mức sản lượng đã được hai bên thỏa thuận là bên nhận khoán bà Trần Thị T có trách nhiệm giao sản lượng cho Tổng công ty cà phê thông qua Công ty cà phê 706, vụ mùa năm 2019 là 5.185 kg cà phê quả tươi. Việc thanh toán sản phẩm hàng năm khi kết thúc mỗi mùa vụ thu hoạch. Nhưng khi kết thúc mùa vụ năm 2019 bà T chỉ cân giao 2.489 kg, có phiếu cân ngày 06, 07, 24/11/2019 của Đội 6 thuộc Công ty cà phê 706 nhận, có chữ ký xác nhận số lượng của bà T. Như vậy, bà T đã vi phạm hợp đồng, Tổng công ty cà phê Việt Nam khởi kiện cầu bà T phải trả số lượng 2.696 kg cà phê quả tươi còn nộp thiếu khoán là có căn cứ. Nguyên đơn yêu cầu bị đơn phải trả bằng tiền quy đổi: 2.696 kg x 6.900 đồng (giá tại thời điểm tháng 12/2019) = 18.602.400 đồng. Căn cứ báo giá của Công ty Cà Phê 706, giá cà phê quả tươi theo giá trị trường tại thời điểm xét xử (ngày 20/10/2021) là 8.874đồng/kg, như vậy yêu cầu của nguyên về quy đổi thành tiền theo giá thời điểm năm 2019 thấp hơn giá tại thời điểm xét xử, không làm bất lợi cho bị đơn nên được chấp nhận.

2.2. Tiền phân bón bà T nhận năm 2019: tổng cộng tính thành tiền: 21.915.000 đồng.

Căn cứ nội dung thỏa thuận Hợp đồng giao-nhận khoán sản xuất cà phê giai đoạn 2018-2022 số D.27/HĐG-NK ngày 10/9/2018 có nội dung tại Điều 2: “Công ty cung cấp cây giống, phân bón theo dự toán xây dựng đã được phê duyệt”; “danh sách cấp phân bón ghi nợ” của Đội 6 năm 2019, có chữ ký nhận số lượng phân bón của bà T. Nên yêu cầu của nguyên buộc bà T phải trả số tiền nợ phân bón này được chấp nhận.

2.3-Tiền nợ còn lại từ năm 2018 chuyển sang là 5.760.318 đồng có chữ ký xác nhận của bà T nên được chấp nhận.

Do đó, buộc bà Trần Thị T phải trả choTổng công ty cà phê Việt Nam, thông qua Công ty Cà phê 706, tổng 03 khoản nợ là: 46.277.718 đồng (bốn mươi sáu triệu hai trăm bảy mươi bảy ngàn bảy trăm mười tám đồng).

Đại diện Tổng công ty cà phê Việt Nam xin rút bớt yêu cầu khởi kiện về khoản nợ sản phẩm tồn đọng lại từ những năm trước là 11.515 kg cà phê quả tươi và các khoản tiền đóng BHXH, BHYT, BHNT các khoản tiền lãi. Việc rút yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn không gây bất lợi cho bị đơn nên HĐXX chấp nhận.

Về án phí: Yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn được chấp nhận nên bị đơn phải chịu tiền án phí dân sự sơ thẩm là: 46.277.718 đ x 5% = 2.313.900 đồng (hai triệu ba trăm mười ba nghìn chín trăm đồng). Trả lại cho nguyên đơn số tiền tạm ứng án phí đã nộp.

Về chi phí thông báo trên phương tiện thông tin đại chúng: Do Tổng công ty cà phê Việt Nam yêu cầu và tự nguyện chịu 3.533.000 đ (ba triệu năm trăm ba mươi ba ngàn đồng) chi phí này nên không xem xét .

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào:

- Khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 147; Điều 227; 228 của Bộ luật tố tụng dân sự.

- Điều 401, Điều 483, 484, 485 và Điều 488 Bộ luật dân sự 2015;

- Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.

Tuyên xử: 1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Tổng công ty cà phê Việt Nam. Buộc bà Trần Thị T phải có nghĩa vụ trả choTổng công ty cà phê Việt Nam thông qua Công ty cà phê 706 số tiền là: 46.277.718 đồng (bốn mươi sáu triệu hai trăm bảy mươi bảy ngàn bảy trăm mười tám đồng).

Kể từ ngày Bản án có hiệu lực pháp luật và kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến khi thi hành án xong tất cả các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền do chậm thực hiện nghĩa vụ trả tiền theo quy định tại Điều 357 của Bộ luật dân sự.

2. Án phí dân sự sơ thẩm: Buộc bà Trần Thị T phải nộp 2.313.900 đồng (hai triệu ba trăm mười ba nghìn chín trăm đồng) để nộp ngân sách Nhà nước. Hoàn trả lại cho choTổng công ty cà phê Việt Nam thông qua Công ty cà phê 706 số tiền tạm ứng án phí đã nộp là: 3.265.000 đồng theo biên lai thu án phí, lệ phí Tòa án số: 0010236, ngày 28 tháng 10 năm 2020 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Chư Păh, tỉnh Gia Lai.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6; 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án nguyên đơn có quyền làm đơn kháng cáo lên Tòa án nhân dân tỉnh Gia Lai yêu cầu xét xử phúc thẩm.

Bị đơn vắng mặt được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án được tống đạt hợp lệ hoặc bản án được niêm yết công khai./.

Cỡ chữ