vanban.org

Bản án 28/2021/DS-ST — Tranh chấp hợp đồng đặt cọc

TAND TP. Cà Mau, tỉnh Cà Mau Tuyên án 26/02/2021 Dân sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của ông Quách Đại TT.

Buộc bà Trần Thị Tt có nghĩa vụ trả cho ông Quách Đại TT số tiền cọc đã nhận là 100.000.000 đồng (Một trăm triệu đồng). Kể từ ngày ông Quách Đại TT có đơn yêu cầu thi hành án, nếu bà Trần Thị Tt không thanh toán xong khoản tiền trên, thì hàng tháng còn phải chịu thêm khoản lãi phát sinh theo quy địn… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Tranh chấp hợp đồng đặt cọc — án dân sự — "Quách Đại Thạnh- Trần Thị Tiên"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của ông Quách Đại TT.
  • Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ CÀ MAU
TỈNH CÀ MAU

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 28/2021/DS-ST
Ngày 26 – 02– 2021
V/v Tranh chấp hợp đồng đặt cọc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CÀ MAU, TỈNH CÀ MAU

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ toạ phiên toà: Bà Hàng Bích Trâm

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Nguyễn Hoàng Kha

Bà Trần Kim Nguyện

- Thư ký phiên toà: Bà Nguyễn Bích Như – Là Thư ký Toà án nhân dân thành phố Cà Mau, tỉnh Cà Mau.

Ngày 26 tháng 02 năm 2021 tại trụ sở Toà án nhân dân thành phố Cà Mau xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 379/2020/TLST-DS, ngày 01 tháng 10 năm 2020 về việc “Tranh chấp hợp đồng đặt cọc” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 940/2020/QĐXXST-DS ngày 14 tháng 12 năm 2020 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Ông Quách Đại TT, sinh năm 1975

Địa chỉ: Số 14A, ấp 3, xã TV, tp. CM, tỉnh CM. (có mặt)

- Bị đơn: Bà Trần Thị Tt

Địa chỉ: Số 52, ấp 2, xã TV, tp. CM, tỉnh CM. (vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Tại đơn khởi kiện, quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa nguyên đơn ông Quách Đại TT trình bày:

Vào ngày 11/9/2018, ông TT có thỏa thuận với bà Trần Thị Tt về việc mua căn nhà của bà Tt tọa lạc tại số 52, ấp 2, xã TV, thành phố CM, tỉnh CM trên phần đất bảo lưu ven sông với giá 2.300.000.000 đồng. Căn nhà trên là của bà Tt trực tiếp quản lý sử dụng, khi thỏa thuận bà Tt có cho ông TT xem nhà và giấy sử dụng đất đứng tên bà Tt. Do có mối quan hệ quen biết nên việc mua bán nhà ông với bà Tt chỉ thỏa thuận miệng với nhau không có làm hợp đồng chuyển nhượng, cùng ngày 11/9/2018 bà Tt có viết biên nhận và đã nhận của ông số tiền đặt cọc 100.000.000 đồng. Sau khi giao tiền cọc ông có yêu cầu bà Tt làm thủ tục chuyển nhượng nhưng bà Tt không thực hiện nên ông TT yêu cầu bà Tt trả lại số tiền cọc 100.000.000 đồng, bà Tt có hứa nhiều lần nhưng không trả cho ông. Sự việc tranh chấp giữa ông TT với bà Tt chính quyền địa phương có biết. Nay ông TT khởi kiện yêu cầu buộc bà Tt trả lại cho ông số tiền đã nhận cọc là 100.000.000 đồng, ngoài ra ông không có yêu cầu gì khác.

Trong quá trình Tòa án thụ lý giải quyết vụ án, Tòa án đã tống đạt các văn bản tố tụng cho bị đơn bà Trần Thị Tt đầy đủ, đúng theo quy định pháp luật nhưng bị đơn vẫn vắng mặt không lý do, không có ý kiến đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

Tại phiên tòa, nguyên đơn vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện, yêu cầu bị đơn trả số tiền đã đặt cọc là 100.000.000 đồng, không yêu cầu về về bồi thường và lãi suất.

NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN:

Về tố tụng: Bị đơn bà Trần Thị Tt đã được Tòa án tống đạt hợp lệ Quyết định đưa vụ án ra xét xử, Quyết định hoãn phiên tòa; Giấy triệu tập tham gia phiên tòa đến lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt không rõ lý do. Căn cứ các Điều 227, 228 của Bộ luật tố tụng dân sự tiến hành xét xử vụ án vắng mặt đối với bà Tt.

Về quan hệ pháp luật tranh chấp giữa các đương sự được xác định là tranh chấp hợp đồng dân sự, cụ thể là tranh chấp về hợp đồng đặt cọc thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án theo quy định tại Điều 26, 35 và 39 Bộ luật tố tụng dân sự

Xét yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn thấy rằng, nguyên đơn là ông Quách Đại TT có đặt cọc cho bị đơn là Trần Thị Tt số tiền 100.000.000 đồng để mua căn nhà của bị đơn tọa lạc tại số 52, ấp 2, xã TV, thành phố CM, tỉnh CM. Việc thỏa thuận chuyển nhượng chỉ thỏa thuận miệng với nhau không có lập hợp đồng, chỉ làm biên nhận tiền cọc. Để chứng minh cho yêu cầu, lời trình bày của mình nguyên đơn cung cấp Biên nhận ngày 11/9/2018 do bà Tt viết và ký tên với nội dung thể hiện Trần Thị Tt có nhận số tiền cọc bán nhà của Quách Đại TT số tiền 100.000.000 đồng. Ngoài ra, nguyên đơn còn cung cấp đơn có xác nhận của chính quyền địa phương ngày 02/02/2021 với nội dung ông Quách Đại TT có tranh chấp với bà Trần Thị Tt về việc yêu cầu bà Tt trả lại số tiền đặt cọc 100.000.000 đồng để mua căn nhà số 52, ấp 2, xã TV, thành phố CM, tỉnh CM nhưng trốn tránh đến nay không làm thủ tục chuyển nhượng. Do đó, lời trình bày của nguyên đơn có căn cứ chấp nhận. Quá trình thực hiện thỏa thuận đến nay bị đơn vẫn không thực hiện việc chuyển nhượng cho nguyên đơn, như vậy xem như bị đơn đã từ chối giao kết hợp đồng và cũng không trả lại tiền cọc cho nguyên đơn. Tại phiên tòa, nguyên đơn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện, yêu cầu bị đơn có nghĩa vụ trả cho nguyên đơn số tiền cọc đã nhận là 100.000.000 đồng, không yêu cầu bồi thường và cũng không yêu cầu tính lãi đối với số tiền đã đặt cọc. Bị đơn không có ý kiến đối với yêu cầu của nguyên đơn nên Hội đồng xét xử không xem xét. Do đó, yêu cầu của nguyên đơn về việc buộc bị đơn trả lại tiền cọc đã nhận 100.000.000 đồng là có căn cứ chấp nhận.

Án phí dân sự sơ thẩm có giá ngạch đương sự phải nộp theo quy định pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ các Điều 328 của Bộ luật dân sự; Các Điều 227, 228 của Bộ luật tố tụng dân sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của ông Quách Đại TT.

Buộc bà Trần Thị Tt có nghĩa vụ trả cho ông Quách Đại TT số tiền cọc đã nhận là 100.000.000 đồng (Một trăm triệu đồng).

Kể từ ngày ông Quách Đại TT có đơn yêu cầu thi hành án, nếu bà Trần Thị Tt không thanh toán xong khoản tiền trên, thì hàng tháng còn phải chịu thêm khoản lãi phát sinh theo quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật dân sự đối với số tiền chậm trả tương ứng với thời gian chậm trả.

Án phí dân sự sơ thẩm có giá ngạch: Bà Trần Thị Tt phải nộp 5.000.000 đồng. Ông Quách Đại TT không phải nộp, ngày 15/9/2020 ông TT đã dự nộp tạm ứng án phí số tiền 2.500.000 đồng tại biên lai số 0002377 được nhận lại toàn bộ khi bản án có hiệu lực pháp luật.

Nguyên đơn được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị đơn được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Cỡ chữ