- Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Tiến Dũng sử dụng tài liệu giả - phạm tội làm giả con dấu, tài liệu của cơ quan, tổ chức; tội sử dụng con dấu, tài liệu giả của cơ qu…"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Tiến D phạm tội "Sử dụng tài liệu giả của cơ quan, tổ chức".
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ ĐIỆN BIÊN PHỦ | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| TỈNH ĐIỆN BIÊN Bản án số: 28/2020/HSST Ngày: 26 - 11 - 2020 |
NHÂN DANH
NƢỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ ĐIỆN BIÊN PHỦ, TỈNH ĐIỆN BIÊN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Vũ Thị Nhung;
Các Hội thẩm nhân dân: Bà Hoàng Cúc Phương và ông Hồ Bá Thành;
- Thư ký phiên tòa: Ông Quàng Văn Long - Thư ký Toà án nhân dân thành phố Điện Biên Phủ, tỉnh Điện Biên;
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Điện Biên Phủ tham gia phiên toà: Ông Nguyễn Văn Thuân - Kiểm sát viên.
Ngày 26 tháng 11 năm 2020, tại phòng xử án của Tòa án nhân dân thành phố Điện Biên Phủ, tỉnh Điện Biên xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 36/2020/TLST-HS ngày 16 tháng 11 năm 2020, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 30/2020/QĐXXST-HS ngày 16/11/2020 đối với bị cáo:
Họ và tên: Nguyễn Tiến D; tên gọi khác: Không; Giới tính: Nam; sinh ngày: 27/7/1974 tại Hà Nam; nơi cư trú: Tổ dân phố 08, phường M, thành phố Đ, tỉnh Đ; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; nghề nghiệp: Tự do; trình độ văn hóa: 12/12; con ông: Nguyễn Văn Đ (đã chết) và bà Nguyễn Thị Y; vợ: Đỗ Thị H Yến; con: Có 02 con, lớn nhất sinh năm 2002, nhỏ nhất sinh năm 2008; tiền án: Không; tiền sự: Một lần bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi vi phạm an toàn giao thông đường bộ, tại quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 32/QĐ-XPHC ngày 05/3/2020 của phòng cảnh sát quản lý hành chính về trật tự xã hội Công an tỉnh Điện Biên; nhân thân: Làm kinh doanh tự do, thường sang Lào giải quyết công việc; bị áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú từ khi khởi tố cho đến nay; có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
1. Về hành vi phạm tội của bị cáo: Khoảng 11 giờ ngày 03/7/2020, tại khu vực tổ dân phố 08, phường Mường Thanh, thành phố Điện Biên Phủ; khi được người có thẩm quyền yêu cầu xuất trình giấy tờ xe ô tô gắn biển kiểm soát 51A - 855.92 đang đỗ tại đây, do có nghi vấn về việc sử dụng biển số giả; bị cáo Nguyễn Tiến D đã xuất trình giấy chứng nhận đăng ký xe ô tô số 102407 của Công an thành phố Hồ Chí Minh, giấy chứng nhận kiểm định xe ô tô số KC 5690733 của Cục đăng kiểm Việt Nam, đồng thời tự khai nhận ngay khi xuất trình như sau: Năm 2016 bị cáo mua xe ô tô gắn biển kiểm soát nói trên bên Lào của một người không quen biết để đi lại, sau đó nhập vào Việt Nam qua cửa khẩu Tây Trang bằng hình thức mở tờ khai tạm nhập, tái xuất. Để không phải làm thủ tục tạm nhập, tái xuất theo quy định bị cáo đã mua 02 biển kiểm soát xe ô tô giả, 01 giấy chứng nhận đăng ký xe ô tô giả và 01 giấy chứng nhận kiểm định xe ô tô giả của một người không quen biết qua mạng, để tránh sự phát hiện của cơ quan chức năng khi sử dụng xe. Trước đó, vào ngày 03/3/2020, khi bị yêu cầu xuất trình giấy tờ xe do có vi phạm khi điều khiển xe ô tô nói trên tham gia giao thông; bị cáo đã xuất trình những giấy tờ giả nói trên cho tổ Cảnh sát trật tự Công an tỉnh Điện Biên kiểm tra để che giấu nguồn gốc xe; tổ cảnh sát không phát hiện ra giấy tờ giả. Bị cáo bị xử phạt hành chính bằng hình thức phạt tiền, về lỗi vi phạm an toàn giao thông.
Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo khai nhận hành sử dụng giấy tờ xe giả của mình như đã nêu trên.
2. Các vấn đề khác: Cơ quan điều tra đã tạm giữ xe ô tô cùng giấy đăng ký xe của nước Lào, 02 biển kiểm soát xe ô tô giả và 02 giấy tờ xe giả nói trên của bị cáo. Bản kết luận giám định số 668/GĐ-PC09 ngày 10/7/2020 của phòng kỹ thuật hình sự công an tỉnh Điện Biên kết luận: Xe ô tô do Thái Lan sản xuất; hàng số khung, số máy của xe là nguyên thủy; giấy chứng nhận đăng ký xe ô tô và giấy chứng nhận kiểm định là giả; hai biển số 51A-855.92 là giả. Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không khiếu nại về kết luận giám định nêu trên.
3. Cáo trạng số 131/CT-VKSTPĐBP ngày 16/11/2020 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Điện Biên Phủ truy tố bị cáo về tội "Sử dụng tài liệu giả của cơ quan, tổ chức" theo khoản 1 Điều 341 BLHS. Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên quyết định truy tố, bị cáo nhất trí với quyết định truy tố của Viện kiểm sát.
Đại diện Viện kiểm sát đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo phạm tội "Sử dụng tài liệu giả của cơ quan, tổ chức". Áp dụng khoản 1 Điều 341; điểm i, s khoản 1 Điều 51; điểm a khoản 1 Điều 35 BLHS: Xử phạt bị cáo từ 30.000.000 đồng đến 35.000.000 đồng. Tịch thu để hủy hai biển số xe giả đã thu giữ.
4. Lời nói sau cùng của bị cáo trước khi HĐXX nghị án: Bị cáo đã nhận thấy việc làm của mình là sai trái, vi phạm pháp luật; xin được giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được
thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy:
Về hành vi phạm tội của bị cáo:
Lời khai của bị cáo trong quá trình điều tra và tại phiên tòa phù hợp với nhau, phù hợp với vật chứng thu giữ được, kết luận giám định và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Có đủ căn cứ để xác định: Sáng ngày 03/3/2020, tại khu vực tổ dân phố 08, phường Mường Thanh, thành phố Điện Biên Phủ, tỉnh Điện Biên; bị cáo Nguyễn Tiến D đã sử dụng biển số xe ô tô giả và xuất trình 01 giấy chứng nhận đăng ký xe ô tô số 102407 giả của Công an thành phố Hồ Chí Minh, 01 giấy chứng nhận kiểm định xe ô tô số KC 5690733 giả của Cục đăng kiểm Việt Nam cho tổ cảnh sát trật tự Công an tỉnh Điện Biên khi bị yêu cầu kiểm tra, nhằm tránh bị phát hiện nguồn gốc xe bị cáo đang sử dụng. Trước đó bị cáo đã mua những giấy tờ giả này trên mạng cùng hai biển kiểm soát xe ô tô giả với mục đích để không phải làm thủ tục tạm nhập tái xuất chiếc xe ô tô bị cáo đã mua từ bên Lào đem về Việt Nam. Đến ngày 3/7/2020, nghi ngờ bị cáo sử dụng biển số xe giả nên đội cảnh sát trật tự Công an thành phố Điện Biên Phủ yêu cầu bị cáo xuất trình giấy tờ xe. Do sợ bị phát hiện, bị cáo đã tự khai nhận giấy chứng nhận đăng ký xe ô tô, giấy chứng nhận kiểm định xe ô tô của bị cáo là giả và nộp lại các giấy tờ trên cho cơ quan chức năng.
Khoản 1 Điều 341 BLHS quy định: "Người nào làm giả con dấu, tài liệu hoặc giấy tờ khác của cơ quan, tổ chức hoặc sử dụng con dấu, tài liệu hoặc giấy tờ giả thực hiện hành vi trái pháp luật, thì bị phạt tiền từ 30.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng, phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc bị phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm". Bị cáo có đầy đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự; hành vi của bị cáo đủ yếu tố cấu thành tội sử dụng tài liệu giả của cơ quan, tổ chức theo điều luật đã viện dẫn trên.
Về tính chất, mức độ của hành vi phạm tội; nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và hình phạt: Bị cáo phạm tội thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, xâm phạm đến trật tự quản lý hành chính của Nhà nước, mà nguyên nhân là do bị cáo thiếu ý thức chấp hành pháp luật, nhận thức không đầy đủ khi cho rằng việc làm của mình không bị xử lý hình sự; bị cáo phạm tội lần đầu, đã thành khẩn khai báo về hành vi phạm tội của mình, nên được áp dụng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo Điều 51 BLHS. Hình phạt tiền và các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự Đại diện Viện kiểm sát đề nghị áp dụng đối với bị cáo là có cơ sở để chấp nhận. Tuy nhiên, bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự; hiện tại bị cáo không còn kinh doanh bên Lào, công việc không ổn định do ảnh hưởng của dịch COVIC nói chung, nên áp dụng hình phạt dưới mức thấp nhấp của khung hình phạt tiền mà điều luật đã quy định theo Điều 54 BLHS đối với bị cáo, thể hiện chính sách pháp luật khoan hồng của Đảng và nhà nước ta đối với người phạm tội.
Về hình phạt bổ sung: Theo Khoản 4 Điều 341 BLHS thì: "Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng". Tuy nhiên, hình phạt tiền đã được áp dụng là hình phạt chính, nên HĐXX không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo theo điểm e khoản 2 Điều 32 BLHS.
Vật chứng và các vấn đề khác: Hai biển kiểm soát ô tô giả là vật Nhà nước cấm lưu hành, tịch thu để hủy. 01 giấy chứng nhận đăng ký xe ô tô số 102407 giả và 01 giấy chứng nhận kiểm định giả được lưu lại trong hồ sơ vụ án. Bị cáo không quen biết người bán giấy tờ giả nên không có cơ sở điều tra làm rõ. Riêng giấy chứng nhận xe ô tô của nước Lào và xe ô tô bị cáo khai mua bên nước Lào của một người không quen biết, hiện chưa xác định được chủ xe, nguồn gốc xe; cơ quan điều tra đã tách ra để xử lý bằng một vụ việc khác nên không đề cập xử lý.
Án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra và Viện kiểm sát nhân dân thành phố Điện Biên Phủ, Điều tra viên và Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã được thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của BLTTHS. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
1. Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Tiến D phạm tội "Sử dụng tài liệu giả của cơ quan, tổ chức".
2. Hình phạt: Áp dụng khoản 1 Điều 341, điểm i và s khoản 1 Điều 51, điểm a khoản 1 Điều 35 và Điều 54 BLHS; khoản 2 Điều 357 BLDS: Xử phạt bị cáo 15.000.000 đồng (Mười lăm triệu đồng). Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật, cho đến khi thi hành xong khoản tiền phạt, hàng tháng bị cáo còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi xuất quy định tại khoản 2 Điều 468 của BLDS 2015.
3. Vật chứng: Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 47 BLHS; điểm a khoản 2 Điều 106 BLTTHS: Tịch thu để hủy 02 biển kiểm soát ghi số 51A-855.92 (Biên bản giao nhận vật chứng ngày 16 tháng 11 năm 2020 giữa Chi cục thi hành án dân sự và Cơ quan cảnh sát điều tra).
4. Án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 BLTTHS và điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban thường vụ Quốc hội, bị cáo phải chịu 200.000 (hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.
5. Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án (26/11/2020).
| Nơi nhận: - Bị cáo; - Viện kiểm sát TP.ĐBP; - Viện kiểm sát tỉnh ĐB; - Cơ quan CSĐT công an TP.ĐBP; - Cơ quan thi hành án hình sự; - Nhà tạm giữ CATP; - Sở Tư pháp tỉnh Điện Biên; - HS Thi hành án HS; - Chi cục Thi hành án DS TPĐBP; - TAND tỉnh ĐB - Lưu hồ sơ; -VP. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA |