- Tranh chấp gì? án hình sự — "Đặng Thị B trộm cắp tài sản - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Điểm g Khoản 2 Điều 173; Điều 38; Điều 50; điểm h, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự;
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc | |
| Ơ TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THỐNG NHẤT TỈNH ĐỒNG NAI Bản án số: 28/2020/HS-ST Ngày: 25-12-2020 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THỐNG NHẤT, TỈNH ĐỒNG NAI
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Hoàng Thị Lan
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Nguyễn Đức Bằng
Ông Nguyễn Khánh Thành
- Thư ký phiên tòa: Ông Phạm Việt Dũng là Thư ký Tòa án - Tòa án nhân dân huyện Thống Nhất, tỉnh Đồng Nai.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thống Nhất, tỉnh Đồng Nai tham gia phiên tòa: Ông Võ Ngọc Thạch - Kiểm sát viên.
Ngày 25 tháng 12 năm 2020, Hội trường A - Tòa án nhân dân huyện Thống Nhất, tỉnh Đồng Nai xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 38/2020/TLST-HS ngày 27 tháng 11 năm 2020, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử sơ thẩm số: 32/2020/QĐXXST-HS ngày 11 tháng 12 năm 2020 đối với bị cáo:
Đặng Thị B sinh năm 1963 tại thành phố Hồ Chí Minh. Nơi cư trú: 109/108/3 C2 B , phường 8, Quận 4, Thành phố Hồ Chí Minh. Nghề nghiệp: Bán vé số; Văn Hoá: 00/12; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh;Tôn giáo: Không. Họ tên cha: Đặng Văn L (đã chết) và mẹ: Huỳnh Thị C (đã chết). Bị cáo là con thứ 04 trong gia đình có 07 anh chị em. Họ tên chồng: Trần Quốc T ; sinh năm 1971 (đã ly hôn). Bị cáo có 03 người con, lớn nhất sinh năm 1983, nhỏ nhất sinh năm 1994. Tiền án, tiền sự: 02 tiền án: Năm 2017 bị Tòa án nhân dân huyện Bình Chánh, thành phố Hồ Chí Minh xử phạt 01 năm 06 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” tại bản án số 132/HSST ngày 16/8/2017, đã nộp án phí ngày 25/9/2018. Năm 2018 bị tòa án nhân dân Quận 4 thành phố Hồ Chí Minh xử phạt 01 năm tù về tội “Đánh bạc” tại bản án số 28/2018/HSST, tổng hợp hình phạt với bản án số 132/HSST ngày 16/8/2017 là 2 năm 06 tháng tù giam, chấp hành xong hình phạt tù ngày 22/11/2019, chưa nộp án phí.
Nhân thân:
Năm 1996 bị Tòa án nhân dân Quận 1, thành phố Hồ Chí Minh xử phạt 09 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản của công dân” tại bản án số 58/HSST ngày 17/4/1997.
Năm 2014 bị Tòa án nhân dân Quận Bình Tân, thành phố Hồ Chí Minh xử phạt 02 năm tù về tội “Trộm cắp tài sản” tại bản án số 214/HSST ngày 11 tháng 7 năm 2014. Ơ
Năm 2004 bị Chủ tịch Ủy ban nhân dân thành phố Hồ Chí Minh ra quyết định số 4012/QĐ-UB ngày 19/8/2004 về việc cho đối tượng về giáo dục tại địa phương về hành vi “Mại dâm”.
Bị cáo bị tạm giam tại nhà tạm giữ thuộc Công an huyện Thống Nhất từ ngày 26/8/2020 đến nay.
(Có mặt)
Bị hại: Bà Trần Thị ánh T , sinh năm 1977
Địa chỉ: Ấp N , xã Q , huyện Thống Nhất, tỉnh Đồng Nai.
(Vắng mặt)
Người làm chứng: Ông Đào Văn C , sinh năm 1956
Địa chỉ: Số F5/204 ấp N , xã Q , huyện Thống Nhất, tỉnh Đồng Nai.
(Vắng mặt)
Chị Vũ Thụy Nguyệt Á , sinh năm 1979
Địa chỉ: Số F2/041B, ấp N , xã Q , huyện Thống Nhất, tỉnh Đồng Nai.
(Vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Đặng Thị B là đối tượng có tiền án về các tội trộm cắp tài sản và đánh bạc, sau khi chấp hành án phạt tù trở về địa phương vẫn không có nghề nghiệp. Để có tiền tiêu xài, B đã tìm kiếm tài sản của người dân sơ hở để trộm cắp, cụ thể:
Vào sáng ngày 26/8/2020, Đặng Thị B thuê một người đàn ông (chưa rõ tên tuổi, địa chỉ cụ thể) chở Bông đi từ Bến xe Miền Đông thuộc Thành phố Hồ Chí Minh đến chợ Nguyễn Huệ thuộc ấp Nguyễn Huệ 1, xã Quang Trung, huyện Thống Nhất, tỉnh Đồng Nai tìm kiếm tài sản của người dân sơ hở để trộm cắp. Đến 5 giờ 30 phút sáng cùng ngày, Đặng Thị B quan sát thấy bà Trần Thị Ánh T sinh năm 1977, trú ấp Nam Sơn, xã Quang Trung, huyện Thống Nhất, tỉnh Đồng Nai là tiểu thương tại chợ đang bán hàng, không chú ý trông coi tài sản thì B đến áp sát, thò tay trái vào túi nylon đựng tiền để trên sạp hàng chỗ chị T đứng bán hàng, trộm 01 ví tiền bằng vải, màu nâu bên trong có số tiền 28.060.000 đồng (hai mươi tám triệu, sáu mươi nghìn đồng). Sau khi lấy được ví tiền, Đặng Thị B giấu vào trong túi áo khoác phía trước bên trái rồi lẩn đi thì bị bà Trần Thị Ánh T cùng một số người dân phát hiện, bắt giữ quả tang B cùng với tang vật, giao Cơ quan Công an xử lý.
Quá trình điều tra, bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như đã nêu trên.
Về vật chứng vụ án:
- 01 ví đựng tiền bằng vải, màu nâu bên trong có chứa số tiền 28.060.000 đồng (hai mươi tám triệu, không trăm sáu mươi nghìn đồng) là tài sản của bà Trần Thị Ánh T , Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Thống Nhất đã trao trả tài sản cho bà Tuyết là đúng quy định pháp luật. Ơ
Về trách nhiệm dân sự: Bà Trần Thị Ánh T đã nhận lại tài sản, không yêu cầu gì về dân sự nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.
Đối với người đàn ông do Đặng Thị B thuê chở đi từ bến xe Miền Đông đến chợ Nguyễn Huệ thuộc ấp Nguyễn Huệ 1, xã Quang Trung, huyện Thống Nhất, tỉnh Đồng Nai để trộm cắp tài sản (không rõ tên tuổi, địa chỉ cụ thể) Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Thống Nhất đã tiến hành thông báo truy tìm nhưng đến nay chưa có kết quả.
Cáo trạng số 120/CT.VKSTN-HS ngày 24/11/2020 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Thống Nhất, tỉnh Đồng Nai truy tố bị cáo Đặng Thị B về tội “Trộm cắp tài sản” quy định tại điểm g, khoản 2 Điều 173 của Bộ luật Hình sự.
* Quan điểm của Đại diện Viện kiểm sát phát biểu luận tội: Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa hôm nay, bị cáo Đặng Thị B thừa nhận hành vi phạm tội của mình. Vào 05 giờ 30 phút ngày 26/8/2020, tại sạp hàng của bà Trần Thị Ánh T tại chợ Nguyễn Huệ thuộc ấp Lê Lợi 1, xã Quang Trung. Đặng Thị B có hành vi lén lút trộm của bà T 01 ví đựng tiền bằng vải, màu nâu bên trong có 28.060.000đ (Hai mươi tám triệu không trăm sáu mươi nghìn đồng). Do đó, Viện kiểm sát giữ nguyên quyết định truy tố như Cáo trạng đối với bị cáo Đặng Thị B . Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng tại điểm g, khoản 2 Điều 173, các điểm h, s khoản 1 Điều 51, Điều 38 Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo Đặng Thị B từ 03 (ba) năm đến 03 (ba) năm 06 (sáu) tháng tù.
Lời trình bày của bị cáo B tại phiên tòa: Bị cáo khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như lời khai tại cơ quan điều tra, thừa nhận Cáo trạng của Viện kiểm sát truy tố bị cáo về hành vi phạm tội là đúng, xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo để sớm trở về gia đình, hòa nhập với xã hội.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
1 Về thủ tục tố tụng:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Thống Nhất, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Thống Nhất, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo, những người tham gia tố tụng khác khẳng định khai báo tự nguyện, không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[1.2] Bị hại – Bà Trần Thị Ánh T mặc dù đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt tại phiên tòa, tuy nhiên bà T đã có đơn xin xét xử vắng mặt. Căn cứ Điều 292 Bộ luật Tố tụng hình sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vụ án theo thủ tục chung.
2 Về tội danh và khung hình phạt: Tại phiên tòa, bị cáo khai nhận hành vi phạm tội do mình thực hiện như nội dung bản Cáo trạng đã nêu, lời khai nhận tội này phù hợp với lời khai của bị cáo tại Cơ quan điều tra, biên bản bắt người phạm Ơ tội quả tang, phù hợp với lời khai của những người tham gia tố tụng các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án, đủ cơ sở kết luận: Vào lúc 5 giờ 30 phút sáng ngày 26/8/2020, tại sạp hàng của bà Trần Thị Ánh T sinh năm 1977 ở chợ Nguyễn Huệ thuộc ấp Nguyễn Huệ 1, xã Quang Trung, huyện Thống Nhất, tỉnh Đồng Nai. Lợi dụng bà T không chú ý trông coi tài sản, Đặng Thị B đã lén lút lấy trộm của bà Tuyết 01 ví đựng tiền bằng vải, màu nâu, bên trong có chứa số tiền 28.060.000 đồng (hai mươi tám triệu, sáu mươi nghìn đồng) thì bị bà T cùng với người dân phát hiện, bắt quả tang Đặng Thị B cùng tang vật, giao Cơ quan Công an xử lý. Đặng Thị B có 02 tiền án: Năm 2017 bị Tòa án nhân dân huyện Bình Chánh, thành phố Hồ Chí Minh xử phạt 01 năm 06 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” tại bản án số 132/HSST ngày 16/8/2017, đã nộp án phí ngày 25/9/2018. Năm 2018 bị tòa án nhân dân Quận 4 thành phố Hồ Chí Minh xử phạt 01 năm tù về tội “Đánh bạc” tại bản án số 28/2018/HSST, tổng hợp hình phạt với bản án số 132/HSST ngày 16/8/2017 là 2 năm 06 tháng tù giam, chấp hành xong hình phạt tù ngày 22/11/2019, chưa nộp án phí. Tính đến ngày thực hiện hành vi phạm tội, Đặng Thị B thuộc trường hợp tái phạm chưa được xóa án tích lại tiếp tục phạm tội do lỗi cố ý thuộc trường hợp tái phạm nguy hiểm theo quy định tại điểm g khoản 2 Điều 173 Bộ luật hình sự. Do đó, Cáo trạng số 120/CT-VKS-TN ngày 24/11/2020 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Thống Nhất truy tố bị cáo Đặng Thị B về tội danh và khung hình phạt như đã nêu trên là đúng người, đúng tội và không oan sai cho bị cáo.
3 Về tính chất, mức độ hành vi của bị cáo: Hành vi của bị cáo xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của công dân được pháp luật hình sự bảo vệ. Hành vi của bị cáo còn làm ảnh hưởng đến tình hình trật tự trị an, an toàn xã hội tại địa phương. Bị cáo Bông có nhân thân xấu, đã nhiều lần bị kết án về hành vi trộm cắp tài sản và đánh bạc, nay lại tiếp tục thực hiện hành vi trộm cắp tài sản, cho thấy bị cáo không có ý thức sửa chữa sai lầm, xem thường pháp luật nên cần thiết phải có mức hình phạt nghiêm khắc đủ để răn đe, giáo dục và thể hiện tính nghiêm minh của pháp luật.
4 Về nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo: Bị cáo có nhân thân xấu, đã nhiều lần thực hiện hành vi phạm cụ thể: Năm 1996 bị Tòa án nhân dân Quận 1, thành phố Hồ Chí Minh xử phạt 09 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản của công dân” tại bản án số 58/HSST ngày 17/4/1997. Năm 2004 bị Chủ tịch Ủy ban nhân dân thành phố Hồ Chí Minh ra quyết định số 4012/QĐ-UB ngày 19/8/2004 về việc cho đối tượng về giáo dục tại địa phương về hành vi “Mại dâm”. Năm 2014 bị Tòa án nhân dân Quận Bình Tân, thành phố Hồ Chí Minh xử phạt 02 năm tù về tội “Trộm cắp tài sản” tại bản án số 214/HSST ngày 11 tháng 7 năm 2014.
Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: không; Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; tài sản chiếm đoạt đã được thu hồi trả cho bị hại; bị cáo trình độ học vấn thấp (00/12) nên nhận thức pháp luật hạn chế nên cần xét cho bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại các điểm h, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự, là căn cứ xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo khi lượng hình thể hiện sự khoan hồng của pháp luật. Ơ
5 Về quyết định hình phạt: Căn cứ tính chất và mức độ của hành vi phạm tội, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của bị cáo. Hội đồng xét xử xét thấy, cần tiếp tục cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian để bị cáo suy nghĩ về hành vi phạm tội của mình, tự giác cải tạo, học tập, lao động trở thành công dân sống lương thiện, có ích cho xã hội và biết tuân thủ pháp luật.
Về hình phạt bổ sung: Theo khoản 5 Điều 173 Bộ luật Hình sự quy định: “Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền…”. Tuy nhiên, do bị cáo có hoàn cảnh kinh tế khó khăn, không có công ăn việc làm ổn định nên không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
7 Về vật chứng vụ án: 01 ví đựng tiền bằng vải, màu nâu bên trong có chứa số tiền 28.060.000 đồng (hai mươi tám triệu, sáu mươi nghìn đồng) là tài sản của bà Trần Thị Ánh T t, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Thống Nhất đã trao trả tài sản cho bà Tuyết theo Quyết định xử lý vật chứng số 52/QĐ ngày 04/9/2020 là đúng quy định pháp luật.
8 Về trách nhiệm dân sự:
- Bị hại – bà T đã nhận lại tài sản, không có yêu cầu bồi thường thiệt hại nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.
Các vấn đề khác: Đối với người đàn ông do Đặng Thị B thuê chở đi từ bến xe Miền Đông đến chợ Nguyễn Huệ thuộc ấp Nguyễn Huệ 1, xã Quang Trung, huyện Thống Nhất, tỉnh Đồng Nai để trộm cắp tài sản (không rõ tên tuổi, địa chỉ cụ thể) Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Thống Nhất đã tiến hành thông báo truy tìm nhưng đến nay chưa có kết quả.
10 Xét ý kiến luận tội của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa về phần tội danh, điều khoản truy tố, hình phạt, trách nhiệm dân sự và xử lý vật chứng là có căn cứ và phù hợp với các tình tiết của vụ án đã được thẩm tra công khai tại phiên tòa nên được chấp nhận.
11 Về án phí: Bị cáo là người bị kết án nên phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.
12 Về quyền kháng cáo: Bị cáo, bị hại được quyền kháng cáo bản án theo quy định.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào:
- Điểm g Khoản 2 Điều 173; Điều 38; Điều 50; điểm h, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự;
- Khoản 2 Điều 135 và khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
1. Tuyên bố bị cáo Đặng Thị B phạm tội: “Trộm cắp tài sản”.
Ơ
Xử phạt bị cáo Đặng Thị Bô 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng tù, thời gian chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 26/8/2020.
Miễn hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
2. Về án phí:
Buộc bị cáo Đặng Thị B phải nộp 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
3. Về quyền kháng cáo:
Bị cáo được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 (Mười lăm) ngày, kể từ ngày tuyên án. Bị hại được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Đồng Nai; - VKSND tỉnh Đồng Nai; - VKSND huyện Thống Nhất; - CCTHADS huyện Thống Nhất; - Bị cáo; - Bị hại; - Lưu hồ sơ vụ án. THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ Ơ | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Hoàng Thị Lan HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA |