vanban.org

Bản án 28/2020/HS-PT — Hình sự

TAND tỉnh Quảng Trị Tuyên án 28/08/2020 Hình sự Phúc thẩm
Đã có hiệu lực pháp luật — từ ngày tuyên án 28/08/2020 Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

p dụng điểm b hoản 1 Điều 173, điểm s hoản 1 Điều 51, hoản 1Điều 56 của Bộ luật Hình sự năm 2015, xử phạt bị cáo Hồ Văn T 18 (mười tám) tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”; tổng hợp hình phạt 24 tháng tù tại Bản án hình sự sơ thẩm số 73/2019/HS-ST ngày 18/11/2019 của T a án nhân d…

Các quyết định hác của bản án sơ thẩm hông bị háng cáo, háng nghị có hiệu lực pháp luật ể từ ngày hết thời hạn háng cáo, háng nghị. Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật ể từ ngày tuyên án. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Hồ Văn T "Trộm cắp tài sản" - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? p dụng điểm b hoản 1 Điều 173, điểm s hoản 1 Điều 51, hoản 1Điều 56 của Bộ luật Hình sự năm 2015, xử phạt bị cáo Hồ Văn T 18 (mười tám) tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”; tổng hợp hình phạt 24 tháng tù tại Bản án hình sự sơ thẩm số 73/2019/HS-ST ngày 18/11/2019 của T a án nhân d…
  • Căn cứ chính? Điều 173 Bộ luật Hình sự; Điều 357 Bộ luật Tố tụng hình sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
TỈNH QUẢNG TRỊ

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 28/2020/HS-PT
Ngày 28-8-2020

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH QUẢNG TRỊ

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà:

Ông Đinh Viết Nam

Các Thẩm phán:

Ông Lê Anh Dũng

Bà Nguyễn Thị Thu Hà.

- Thư ký phiên toà: Bà Lê Thị Thanh Nhàn – Th

T a án nhân dân tỉnh Quảng Trị.

- Đại diện Viện ki m t nh n d n tỉnh Quảng Trị tham gia phiên toà: Ông Nguyễn Tr ờng - Kiểm sát viên.

Ngày 28 tháng 8 năm 2020, tại Hội tr ờng xét xử Toà án nhân dân tỉnh Quảng Trị xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự phúc thẩm thụ lý số 22/2020/TLPT-HS ngày 09 tháng 7 năm 2020 đối với bị cáo Hồ Văn T, do có kháng nghị của Viện iểm sát nhân dân tỉnh Quảng Trị đối với Bản án hình sự sơ thẩm số 27/2020/HS-ST ngày 05/6/2020 của T a án nhân dân huyện H, tỉnh Quảng Trị.

- Bị cáo bị kháng nghị:

Họ và tên: Hồ Văn T; sinh ngày 01 tháng 01 năm 1996 tại tỉnh Quảng Trị; nơi c trú: Khóm K, thị trấn L, huyện H, tỉnh Quảng Trị; nghề nghiệp: Làm rẫy; trình độ văn hóa: 2/12; dân tộc: Vân Kiều; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Hồ Văn Y và bà Hồ Thị Ta L1.; ch a có vợ con.

Tiền sự: Không có.

Tiền án: 02 tiền án:

+ Ngày 27/3/2014 bị T a án nhân dân huyện H, tỉnh Quảng Trị xử phạt 06 tháng tù cho h ởng án treo về tội “Trộm cắp tài sản” (Bản án số 08/2014/HS-ST ngày 27/3/2014).

+ Ngày 11/11/2015 bị T a án nhân dân huyện H, tỉnh Quảng Trị xử phạt18 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” (Bản án số 35/2015/HS-ST ngày 11/11/2015).

Bị cáo chấp hành xong hình phạt tù ngày 08/12/2016.

Nhân thân:

+ Ngày 10/4/2019 bị Chủ tịch UBND thị trấn L quyết định áp dụng biện pháp giáo dục tại thị trấn trong thời hạn 03 tháng về hành vi “Sử dụng trái phép chất ma túy” (Quyết định số 70/QĐ-UBND ngày 10/4/2019).

+ Ngày 18/11/2019 bị T a án nhân dân huyện H, tỉnh Quảng Trị xử phạt 24 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” (Bản án số 73/2019/HS-ST ngày 18/11/2019).

Bị cáo bị bắt tạm giam ngày 14/8/2019; hiện đang chấp hành án tại Trại giam Nghĩa An thuộc Cục C10, Bộ Công an, theo Quyết định thi hành án phạt tù số 76/2019/QĐ-CA ngày 23/12/2019 của T a án nhân dân huyện H, tỉnh Quảng Trị.

- Người bào chữa cho bị cáo: Ông Trần Đại N – Trợ giúp viên pháp l thuộc Trung tâm Trợ giúp pháp l Nhà n ớc tỉnh Quảng Trị.

- Người phiên dịch: Ông Hồ Văn L; địa chỉ: Thị trấn K, huyện Đ, tỉnh Quảng Trị.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên t a, nội dung vụ án đ ợc tóm tắt nh sau:

Sáng ngày 29/11/2018, Hồ Văn T đi bộ từ trụ sở Công an thị trấn Lđể về nhà ở hóm K, thị trấn L, huyện H. Khi đi ngang qua phía tr ớc Nhà nghỉ 30/4 của gia đình ông Trần Hùng T1 ở cùng hóm, thấy trong ph ng ho có 01 cái lồng, bên trong có nuôi 01 con chim yểng (chim nhồng), quan sát xung quanh hông có ng ời nên T nảy sinh định đột nhập vào ho lấy trộm con chim yểng bán lấy tiền tiêu xài. T đi đến mở lồng bắt trộm con chim dấu vào trong túi áo rồi đi bộ về nhà. Khoảng 10 giờ 30 phút cùng ngày, ông T1 phát hiện bị mất chim và báo công an. C ông an thị trấn L đã mời T làm việc và xác định đ ợc T là ng ời trộm cắp con chim yểng của ông T.

Tại bản ết luận định giá tài sản số 66/KLĐG ngày 11/12/2019 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện H ết luận: 01 con chim yểng (chim nhồng) 02 năm tuổi, lông màu đen, có mào, mỏ và chân màu vàng (c n sống) trị giá 1.500.000 đồng.

B n án h nh s sơ thẩm s 27/2020/HS-ST ngày 05/6/2020 của T a án nhân dân huyện H t nh u ng Trị đ qu t định:

Tuyên bố bị cáo Hồ Văn T phạm tội “Trộm cắp tài s n”. p dụng điểm g khoản 2 Điều 173; khoản 1 Điều 38, điểm s khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 55, Điều 56 của Bộ luật Hình sự 2015, xử phạt bị cáo Hồ Văn T 24 tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt tạm giam 14/8/2019.

Ngoài ra, Toà án cấp sơ thẩm còn tuyên về án phí và quyền kháng cáo theo luật định. Về trách nhiệm dân sự: Bị hại đã nhận lại tài sản và không có yêu cầu gì nên không xem xét.

Ngày 02/7/2020, Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Quảng Trị ban hành Quyết định số 833/QĐ-VKS-P7 kháng nghị một phần Bản án hình sự sơ thẩm số 27/2020/HS-ST ngày 05/6/2020 của TAND huyện H; đề nghị TAND tỉnh Quảng Trị xét xử phúc thẩm theo h ớng: Áp dụng điểm b khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự đối với bị cáo Hồ Văn T.

Tại phiên t a ph c thẩm:

- Bị cáo Hồ Văn T thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình.

- Ng ời bào chữa cho bị cáo tuy vắng mặt tại phiên t a nh ng đã gửi cho T a án bản luận cứ bào chữa, đề nghị HĐXX áp dụng điểm b hoản 1 Điều 173, điểm s hoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự xử phạt bị cáo Hồ Văn T 12 tháng tù.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Quảng Trị giữ nguyên nội dung háng nghị, đề nghị HĐXX áp dụng điểm b hoản 1 Điều 355, Điều 357 của Bộ luật Tố tụng hình sự, sửa bản án sơ thẩm của TAND huyện H theo h ớng áp dụng điểm b khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự đối với bị cáo Hồ Văn T, xử phạt bị cáo từ 12 đến 18 tháng tù.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã đ ợc tranh tụng tại phiên t a, Hội đồng xét xử nhận định nh sau:

Về tố tụng: Quyết định háng nghị phúc thẩm của Viện iểm sát nhân dân tỉnh Quảng Trị phù hợp với quy định tại Điều 336, Điều 337 của Bộ luật tố tụng hình sự về chủ thể và thời hạn háng nghị nên Hội đồng xét xử phúc thẩm xét kháng nghị theo quy định của pháp luật.

Về hành vi phạm tội của bị cáo:

Tại phiên t a hôm nay, bị cáo thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình, cụ thể: Khoảng 10 giờ 30 phút ngày 29/11/2018, bị cáo đã lén lút thực hiện hành vi trộm cắp tài sản là 01 con chim yểng (chim nhồng) của ông Trần Hùng T, giá trị tài sản mà bị cáo chiếm đoạt là 1.500.000 đồng. Tr ớc đó ngày 11/11/2015 bị cáo bị T a án nhân dân huyện H xử phạt 18 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”, đã tái phạm, ch a đ ợc xóa án tích mà c n vi phạm. Với hành vi nêu trên, bị cáo Hồ Văn T bị T a án cấp sơ thẩm xét xử về tội “Trộm cắp tài sản” là đúng.

Xét kháng nghị của Viện iểm sát nhân dân tỉnh Quảng Trị:

Kháng nghị cho rằng: T a án cấp sơ thẩm tuyên bố bị cáo Hồ Văn T phạm tội “Trộm cắp tài sản” là đúng. Tuy nhiên việc áp dụng điểm g hoản 2 Điều 173 Bộ luật hình sự về tình tiết “tái phạm nguy hiểm” đối với bị cáo là hông đúng pháp luật, mà cần áp dụng điểm b hoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự đối với bị cáo.

Hội đồng xét xử phúc thẩm thấy rằng:

Theo bản ết luận định giá tài sản số 66/KLĐG ngày 11/12/2019 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện H thì: 01 con chim yểng (chim nhồng) 02 năm tuổi, lông màu đen, có mào, mỏ và chân màu vàng (c n sống) trị giá 1.500.000 đồng. Nh vậy, tài sản bị chiếm đoạt có tang số d ới 2.000.000 đồng - mức tối thiểu để truy cứu trách nhiệm hình sự về tội trộm cắp tài sản. Tuy nhiên, bị cáo Hồ Văn T có 02 tiền án cùng về tội “trộm cắp tài sản”, ch a đ ợc xóa án tích, nên hành vi phạm tội của bị cáo lần này cấu thành tội “trộm cắp tài sản” theo quy định tại điểm b hoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự với tình tiết định tội “đ bị k t án về tội nà … chưa được xóa án tích mà c n vi phạm”.

Tại hoản 2 Điều 52 Bộ luật hình sự quy định: “Các t nh ti t đ được Bộ luật nà qu định là dấu hiệu định tội hoặc định khung h nh phạt th không được coi là t nh ti t tăng nặng”.

Tại điểm a mục 7.3 Nghị quyết 01/2006/NQ-HĐTP ngày 12/5/2006 của Hội đồng thẩm phán T a án nhân dân tối cao quy định: “Trường hợp các tiền án của bị cáo đ được xem xét là dấu hiệu cấu thành tội phạm “đ bị k t án về tội nà chưa được xóa án tích mà c n vi phạm” th các tiền án đó không được tính để xác định tái phạm tái phạm ngu hiểm đ i với bị cáo”.

Do lần phạm tội này bị cáo thực hiện hành vi ch a đủ tang số định tội nên hai tiền án về tội “trộm cắp tài sản” của bị cáo là yếu tố cấu thành tội phạm, dấu hiệu định khung theo hoản 1 chứ hông phải là tình tiết định hung “tái phạm nguy hiểm” quy định tại điểm g hoản 2 Điều 173 Bộ luật hình sự. T a án cấp sơ thẩm áp dụng điểm g hoản 2 Điều 173 Bộ luật hình sự đối với bị cáo là hông đúng quy định của pháp luật, mà cần phải xét xử bị cáo theo điểm b hoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự. Do đó nội dung háng nghị của Viện iểm sát nhân dân tỉnh là có căn cứ.

Về hình phạt: Hành vi phạm tội của bị cáo lần này cấu thành tội “trộm cắp tài sản” theo quy định tại điểm b hoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự, với mức hình phạt quy định tại hoản 1 là từ 06 tháng đến 03 năm. Do bị cáo đ ợc cấp phúc thẩm xem xét về hung hình phạt nhẹ hơn, chuyển từ hoản 2 xuống hoản 1 của cùng điều luật, nên cần giảm án và xử bị cáo ở mức 18 tháng tù theo đề nghị của đại diện Viện iểm sát là phù hợp, hông chấp nhận iến của ng ời bào chữa đề nghị HĐXX xử bị cáo T ở mức 12 tháng tù do bị cáo có nhân thân xấu, nhiều lần phạm tội, cần phải xử nghiêm.

Vì vậy, HĐXX phúc thẩm chấp nhận háng nghị của Viện iểm sát nhân dân tỉnh Quảng Trị, sửa bản án sơ thẩm, áp dụng điểm b hoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự đối với bị cáo và giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

Về án phí: Theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự và Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Th ờng vụ Quốc hội về án phí và lệ phí T a án thì bị cáo hông phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.

Các quyết định hác của bản án sơ thẩm hông có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật ể từ ngày hết thời hạn háng cáo, kháng nghị.

Do bị cáo đang chấp hành án tại trạm giam Nghĩa An đối với một bản án hác nên HĐXX hông cần ra quyết định tạm giam đối với bị cáo.

V các lẽ trên

QUYẾT ĐỊNH:

1. Căn cứ điểm b hoản 1 Điều 355, hoản 2 Điều 357 của Bộ luật tố tụng hình sự: Chấp nhận háng nghị của Viện iểm sát nhân dân tỉnh Quảng Trị, sửa bản án hình sự sơ thẩm số 27/2020/HS-ST ngày 05/6/2020 của T a án nhân dân huyện H, tỉnh Quảng Trị về hung hình phạt.

p dụng điểm b hoản 1 Điều 173, điểm s hoản 1 Điều 51, hoản 1Điều 56 của Bộ luật Hình sự năm 2015, xử phạt bị cáo Hồ Văn T 18 (mười tám) tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”; tổng hợp hình phạt 24 tháng tù tại Bản án hình sự sơ thẩm số 73/2019/HS-ST ngày 18/11/2019 của T a án nhân dân huyện H, tỉnh Quảng Trị, buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt chung của hai bản án là 42 (bốn m ơi hai) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt tạm giam 14/8/2019.

2. Các quyết định hác của bản án sơ thẩm hông bị háng cáo, háng nghị có hiệu lực pháp luật ể từ ngày hết thời hạn háng cáo, háng nghị.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật ể từ ngày tuyên án.

Cỡ chữ