vanban.org

Bản án 28/2020/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn chị Lê Thị M. Chị Lê Thị M được ly hôn với anh Ngô Duy D.

Chị Lê Thị M được quyền trực tiếp nuôi dưỡng 02 con chung gồm Ngô Lê Duy Phúc giới tính nam, sinh ngày 05/01/2004 và Ngô Lê Thùy L giới tính nữ, sinh ngày 20/07/2006. Anh Ngô Duy D chưa phải có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con do chị Lê Thị M chưa yêu cầu. Anh Ngô Duy D có quyền, nghĩa vụ thăm nom, chăm … Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "M kiện D"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn chị Lê Thị M. Chị Lê Thị M được ly hôn với anh Ngô Duy D.
  • Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 19 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ VỊ THANH
TỈNH HẬU GIANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 28/2020/HNGĐ-ST
Ngày 17-02-2020
V/v tranh chấp ly hôn, nuôi con.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ VỊ THANH, TỈNH HẬU GIANG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Huỳnh Thị Trinh.

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Tạ Hồng Thái.

Bà Phạm Kim Ngọc.

- Thư ký phiên tòa: Bà Trương Thị Ngọc Dung - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Vị Thanh, tỉnh Hậu Giang.

Ngày 17 tháng 02 năm 2020 tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Vị Thanh xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 290/2019/TLST-HNGĐ ngày 09 tháng 12 năm 2019 về tranh chấp ly hôn, nuôi con theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 223/2019/QĐXXST-HNGĐ ngày 27 tháng 12 năm 2019 và Quyết định hoãn phiên tòa số: 01/2019/QĐST-HNGĐ ngày 16 tháng 01 năm 2019 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Chị Lê Thị M.

Địa chỉ: Khu vực 2, phường VII, thành phố Vị Thanh, tỉnh Hậu Giang. Có mặt.

- Bị đơn: Anh Ngô Duy D.

Địa chỉ: Khu vực 2, phường VII, thành phố Vị Thanh, tỉnh Hậu Giang. Có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Trong đơn khởi kiện và trong quá trình giải quyết vụ án cũng như tại phiên tòa nguyên đơn chị Lê Thị M trình bày:

Chị Lê Thị M và anh Ngô Duy D kết hôn và có đăng ký kết hôn vào ngày 07/6/2004 tại Ủy ban nhân dân phường VII thành phố Vị Thanh, tỉnh Hậu Giang. Sau khi kết hôn vợ chồng chung sống hạnh phúc, nhưng sau đó phát sinh nhiều mâu thuẫn, nguyên nhân là do tính cách không phù hợp. Chị M và anh D đã không còn sống chung. Nhận thấy mâu thuẫn vợ chồng đã trầm trọng đến mức không thể hàn gắn được nữa nên chị M khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết cho chị M được ly hôn với anh D.

Về con chung: Có 02 con chung gồm

1. Ngô Lê Duy P, giới tính nam, sinh ngày 05/01/2004;

2. Ngô Lê Thùy L, giới tính nữ, sinh ngày 20/7/2006;

Hiện tại các cháu đang sống chung với chị M. Chị M yêu cầu được nuôi con chung, không yêu cầu anh D cấp dưỡng.

Về tài sản chung và về nợ chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Tại phiên tòa nguyên đơn vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện.

Bị đơn anh Ngô Duy D trình bày: Diễn biến quá trình về quan hệ hôn nhân, về con chung, về tài sản chung và nợ chung như chị M khai là đúng, trong quá trình chung sống ban đầu hạnh phúc nhưng sau đó phát sinh mâu thuẫn nguyên nhân là do bất đồng quan điểm sống. Hiện nay anh D đang sống ở nhà trọ.

Về quan hệ hôn nhân: Anh D không đồng ý ly hôn với chị M vì còn thương vợ.

Về con chung: Yêu cầu được nuôi 02 con chung, không yêu cầu chị M cấp dưỡng.

Về tài sản chung: Không có, không yêu cầu Toà án giải quyết.

Về nợ chung: Không có, không yêu cầu Toà án giải quyết.

Tại phiên tòa bị đơn vắng mặt nên không có ý kiến trình bày.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

[1] Về tố tụng: Chị Lê Thị M khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn với anh Ngô Duy D. Đây là tranh chấp ly hôn được quy định tại Khoản 1 Điều 28 và Điểm a khoản 1 Điều 35, Điểm a Khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự và thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Vị Thanh, tỉnh Hậu Giang.

Đối với anh Ngô Duy D mặc dù đã được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt không vì sự kiện bất khả kháng hoặc trở ngại khách quan. Theo quy định tại Khoản 3 Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự, Tòa án vẫn tiến hành xét xử vắng mặt anh Ngô Duy D.

Về quan hệ hôn nhân: Chị Lê Thị M và anh Ngô Duy D tiến tới hôn nhân và đã đăng ký kết vào ngày 07/6/2004 tại Ủy ban nhân dân phường VII thành phố Vị Thanh, tỉnh Hậu Giang nên quan hệ hôn nhân giữa chị M và anh D là hợp pháp. Về yêu cầu xin ly hôn của chị M, Hội đồng xét xử xét thấy: Trong quá trình chung sống, chị M và anh D thường xuyên xảy ra cãi vã nguyên nhân do tính cách vợ chồng không phù hợp làm cho cuộc sống vợ chồng không hạnh phúc, mâu thuẫn giữa vợ chồng ngày càng trầm trọng nên chị M đã không còn sống chung với anh D. Xét thấy, chị M và anh D đã không còn yêu thương, quan tâm, chăm sóc, giúp đỡ nhau, vợ chồng đã không còn sống chung, hôn nhân đã lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Tại phiên tòa chị M vẫn giữ yêu cầu được ly hôn. Căn cứ vào Điều 56 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của chị M về việc được ly hôn với anh D.

Về con chung: Quá trình chung sống chị M và anh D có 02 con chung gồm Ngô Lê Duy P giới tính nam, sinh ngày 05/01/2004 và Ngô Lê Thùy L giới tính nữ, sinh ngày 20/07/2006. Hiện tại các cháu đang sống chung với chị D. Cháu P và cháu L có nguyện vọng sống với chị M. Ngoài ra, chị M hiện tại có việc làm và thu nhập ổn định, đủ khả năng nuôi dưỡng con chung. Sau khi cân nhắc việc đảm bảo tốt nhất quyền lợi của các cháu sau khi cha mẹ ly hôn về các mặt vật chất, tình cảm và điều kiện chăm sóc, giáo dục, cũng như tránh làm xáo trộn cuộc sống của các cháu, Hội đồng xét xử quyết định giao con chung cho chị M được quyền trực tiếp nuôi dưỡng. Anh D chưa phải có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con do chị M chưa yêu cầu.

Về tài sản chung và nợ chung: Nguyên đơn, bị đơn không yêu cầu giải quyết nên không xem xét.

Nghĩa vụ chịu án phí dân sự sơ thẩm: Chị Lê Thị M phải chịu là 300.000 đồng.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào Khoản 1 Điều 28 và Điểm a Khoản 1 Điều 35, Điểm a Khoản 1 Điều 39, Điều 147 và 228 của Bộ luật tố tụng dân sự;

Căn cứ vào các Điều 19, 56, 81, 82, 83 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014;

Căn cứ vào Khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn chị Lê Thị M. Chị Lê Thị M được ly hôn với anh Ngô Duy D.

2. Chị Lê Thị M được quyền trực tiếp nuôi dưỡng 02 con chung gồm Ngô Lê Duy Phúc giới tính nam, sinh ngày 05/01/2004 và Ngô Lê Thùy L giới tính nữ, sinh ngày 20/07/2006. Anh Ngô Duy D chưa phải có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con do chị Lê Thị M chưa yêu cầu.

Anh Ngô Duy D có quyền, nghĩa vụ thăm nom, chăm sóc và giáo dục con chung không ai được cản trở.

3. Về án phí dân sự sơ thẩm: Buộc chị Chị Lê Thị M phải chịu là 300.000 (ba trăm nghìn) đồng, chị M được khấu trừ số tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu tiền số 0002869 ngày 05/12/2019 của Cơ quan Thi hành án dân sự thành phố Vị Thanh. Chị M không phải nộp thêm.

4. Các đương sự có quyền làm đơn kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, đương sự vắng mặt tại phiên tòa hoặc không có mặt khi tòa án mà có lý do chính đáng thì thời hạn kháng cáo tính từ ngày nhận được bản án hoặc được tống đạt hợp lệ.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Cỡ chữ