- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Tranh chấp hôn nhân và gia đình"
- Tòa quyết gì? * Áp dụng Điều 28; 35; 147; 228; 235; 264; 271; 273 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.
- Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự tiếp tục; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LẠNG GIANG CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM TỈNH BẮC GIANG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 28/2020/HNGĐ-ST Ngày 13-7-2020 V/v: Tranh chấp hôn nhân và gia đình |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LẠNG GIANG, TỈNH BẮC GIANG
- Thành phần hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Thân Trọng Khôi
Các hội thẩm nhân dân: Ông: Nguyễn Quang Vinh
Ông: Lê Văn La
- Thư ký phiên tòa: Ông Đỗ Ngọc Tĩnh - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Lạng Giang, tỉnh Bắc Giang.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Lạng Giang, tỉnh Bắc Giang tham gia phiên tòa: Bà Hà Thị Hiên - Kiểm sát viên.
Ngày 13/7/2020 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Lạng Giang, tỉnh Bắc Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 88/2020/TLST-HNGĐ ngày 17 tháng 3 năm 2020 về việc tranh chấp hôn nhân và gia đình, theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 50/2020/QĐXXST-DS ngày 05/6/2020; Quyết định hoãn phiên tòa số: 41/2020/QĐST-DS ngày 30/6/2020 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Chị Hà Thị C, sinh năm 1993 (có mặt)
Nơi cư trú: Thôn Đ, xã T, huyện Lạng Giang, tỉnh Bắc Giang.
- Bị đơn: Anh Đoàn Văn H, sinh năm 1993 (vắng mặt)
Nơi cư trú: Thôn C, thị trấn V, huyện Lạng Giang, tỉnh Bắc Giang.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
* Tại đơn khởi kiện và những lời khai tiếp theo, nguyên đơn chị Hà Thị C trình bày: Chị kết hôn với anh Đoàn Văn H ngày 16/12/2014 trước khi cưới có được tìm hiểu, tự nguyện thỏa thuận đăng ký kết hôn tại UBND thị trấn V, huyện Lạng Giang, tỉnh Bắc Giang. Quá trình chung sống vợ chồng hòa thuận đến tháng 9/2019 thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân mâu thuẫn là do tính cách vợ chồng không hợp nhau và mẫu thuẫn giữa mẹ chồng và con dâu. Tháng 8/2017 anh H có bị tai nạn giao thông, chị đã chăm sóc thường xuyên, hiện anh H đã khỏe mạnh, tỉnh táo, nhưng phía mẹ chồng vẫn cho rằng chị không quan tâm. Tháng 9/2019 chị bỏ về nhà mẹ đẻ ở, vợ chồng sống ly thân và cắt đứt mọi quan hệ với nhau từ đó. Nay xét thấy tình cảm vợ chồng không còn chị thiết tha xin được ly hôn anh H.
Về con chung: Vợ chồng có một con chung là Đoàn Quốc V, sinh ngày 15/6/2016, Hiện con đang ở cùng chị, con khỏe mạnh và phát triển bình thường, nay ly hôn chị xin được nuôi con, không đề nghị Tòa an giải quyết về cấp dưỡng nuôi con.
Về tài sản: Vợ chồng không có tài sản gì đáng giá, nên chị không đề nghị Tòa án giải quyết.
* Bị đơn anh Đoàn Văn H trình bày: Anh kết hôn với chị C năm 2014. Đăng ký kết hôn tại UBND thị trấn V. Tháng 8/2017 anh bị tai nạn xe máy hiện nay sức khỏe đang bình phục dần, viết được nhưng chưa đọc được. Nay chị C xin ly hôn anh đồng ý. Đồng ý để con cho chị C nuôi, không đề nghị Tòa án giải quyết về cấp dưỡng nuôi con.
Về tài sản: Vợ chồng có 01 tủ lạnh; 01 máy điều hòa nhiệt độ; 01 máy lọc nước; 01 điện thoại di động; 01 xe mô tô, khi về mẹ đẻ chị C đã mang về anh không đề nghị Tòa án giải quyết.
Tại phiên toà hôm nay chị C có mặt giữ nguyên yêu cầu trên, anh H vắng mặt, mặc dù đã được Tòa án đã giao triệu tập phiên tòa hợp lệ đến lần thứ hai.
Phát biểu của kiểm sát viên tại phiên tòa: Về việc chấp hành pháp luật tố tụng của thẩm phán, thư ký, hội thẩm nhân dân, chị C, anh H trong suốt quá trình thụ lý giải quyết vụ án và tại phiên tòa hôm nay đều tuân thủ đúng quy định của pháp luật tố tụng dân sự. Tại phiên tòa hôm nay chị C có mặt; anh H vắng mặt, mặc dù đã được Tòa án đã giao thông báo phiên tòa hợp lệ đến lần thứ hai. Do vậy đề nghị HĐXX tiếp tục xét xử vụ án theo quy định của pháp luật. Đề nghị xét xử cho chị C được ly hôn anh H; giao chị C nuôi con chung; anh H được quyền thăm nom con sau khi đã ly hôn, không ai được cản trở anh H thực hiện quyền này; Về cấp dưỡng nuôi con và tài sản: Chị C, anh H không đề nghị Tòa án giải quyết, nên đề nghị HĐXX không xem xét giải quyết; chị C phải chịu tiền án phí dân sự sơ thẩm. Ngoài ra còn đề nghị tuyên quyền kháng cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu đầy đủ, toàn diện các chứng cứ tài liệu có trong hồ sơ vụ án và được thẩm vấn công khai tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, ý kiến của Kiểm sát viên, Hội đồng xét xử nhận định:
Về quan hệ pháp luật tranh chấp, phạm vi khởi kiện, thẩm quyền giải quyết và thủ tục tố tụng: Tại đơn khởi kiện xin ly hôn và những lời khai tiếp theo, nguyên đơn chị Hà Thị C, sinh năm 1993, Nơi cư trú: Thôn Đ, xã T, huyện Lạng Giang, tỉnh Bắc Giang, khởi kiện xin ly hôn anh Đoàn Văn H, sinh năm 1993, Nơi cư trú: Thôn C, thị trấn V, huyện Lạng Giang, tỉnh Bắc Giang; đề nghị Tòa án giải quyết về con chung, không đề nghị Tòa án giải quyết về cấp dưỡng nuôi con và tài sản. Như vậy đây là quan hệ pháp luật tranh chấp hôn nhân và gia đình, đề nghị xin được ly hôn, đề nghị giải quyết về con chung, không đề nghị giải quyết về cấp dưỡng nuôi con và tài sản, thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Lạng Giang.
Thủ tục tố tụng: Tòa án đã tiến hành đầy đủ trình tự thủ tục tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án. Tại phiên tòa hôm nay chị C có mặt, anh H vắng mặt, mặc dù đã được Tòa án đã giao thông báo phiên tòa hợp lệ đến lần thứ hai. Nên HĐXX áp dụng Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự tiếp tục xét xử vụ án theo quy định của pháp luật.
Về nội dung vụ án:
Về quan hệ hôn nhân: Chị Hà Thị C kết hôn với anh Đoàn Văn H ngày 16/12/2014, trên cơ sở tự nguyện hợp pháp, đăng ký kết hôn tại UBND thị trấn V, huyện Lạng Giang, tỉnh Bắc Giang. Quá trình chung sống vợ chồng hoà thuận đến tháng 9/2019 thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân mâu thuẫn là do tính cách vợ chồng không hợp nhau, nên trong cuộc sống vợ chồng thường bất đồng quan điểm dẫn đến cãi nhau, không bảo ban được nhau để cùng làm ăn phát triển kinh tế, xây dựng hạnh phúc gia đình. Xét thấy tình cảm vợ chồng không còn chị C thiết tha xin được ly hôn, phía anh H cũng đồng ý ly hôn, nhưng tại phiên tòa hôm nay anh H vắng mặt. HĐXX xét thấy mâu thuẫn vợ chồng đã diễn ra căng thẳng, tình cảm vợ chồng không còn, cuộc sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được, nguyện vọng xin được ly hôn của chị C là phù hợp quy định của pháp luật. Do vậy cần xử cho chị C được ly hôn anh H để giải phóng cho cả hai bên, xét là phù hợp Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014.
Về nuôi con chung: Chị C, anh H có một con chung là Đoàn Quốc V, sinh ngày 15/6/2016, Hiện cháu đang ở cùng chị C, cháu khỏe mạnh và phát triển bình thường. Nay ly hôn chị C, anh H đều xác định để chị C nuôi con; HĐXX xét thấy, thỏa thuận nuôi con của chị C, anh H là hoàn tự nguyện, không trái pháp luật, không trái đạo đức xã hội, tuy nhiên anh H vắng mặt tại phiên tòa. Nên cần giao chị C nuôi con; anh H được quyền thăm nom con sau khi đã ly hôn, không ai được cản trở anh H thực hiện quyền này. Về cấp dưỡng nuôi con: Chị C, anh H đều không đề nghị Tòa án giải quyết, nên HĐXX không đề cập xem xét giải quyết. Xét là phù hợp Điều 81; 82; 83 Luật Hôn nhân và gia đình.
Về chia tài sản: Quá trình giải quyết vụ án, chị C, anh H đều không đề nghị Tòa án giải quyết, tại phiên tòa hôm nay chị C có mặt không đề nghị Tòa án giải quyết. Nên HĐXX không đặt ra xem xét giải quyết. Nếu sau này có sảy ra tranh chấp về tài sản, Tòa án sẽ giải quyết bằng vụ án khác.
Về án phí: Chị C phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật; được khấu trừ vào tiền tạm ứng án phí chị C đã nộp.
Các đương sự được quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên.
QUYẾT ĐỊNH
* Áp dụng Điều 28; 35; 147; 228; 235; 264; 271; 273 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015. Điều 56; 81; 82; 83 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014. Điều 27 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội.
1/ Về quan hệ hôn nhân: Xử cho chị Hà Thị C được ly hôn anh Đoàn Văn H.
2/ Về nuôi con chung: Xử giao chị Hà Thị C nuôi con chung là Đoàn Quốc V, sinh ngày 15/6/2016; anh H được quyền thăm nom con sau khi đã ly hôn, không ai được cản trở anh H thực hiện quyền này.
3/ Về án phí: Chị Hà Thị C phải chịu 300.000đ tiền án phí dân sự sơ thẩm. Được khấu trừ vào 300.000đ tiền tạm ứng án phí chị C đã nộp theo biên lai thu số AA/2019/0002214 ngày 17/3/2020 tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Lạng Giang.
Báo cho đương sự có mặt biết được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Đương sự vắng mặt được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận tống đạt bản án vắng mặt.
Án xử sơ thẩm công khai./.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Bắc Giang. - VKSND huyện Lạng Giang - Chi cục THA huyện Lạng Giang - UBND thị trấn V, huyện Lạng Giang - Các đương sự - Lưu | T/M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa (đã ký) Thân Trọng Khôi |