- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "chị Vũ Thị Phương T đề nghị ly hôn với anh Bùi Văn Th"
- Tòa quyết gì? Về hôn nhân: Chị Vũ Thị Phương T được ly hôn với anh Bùi Văn Th.
- Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 27 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 271 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LẠC SƠN TỈNH HÒA BÌNH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 28/2020/HNGĐ-ST Ngày: 06 - 8 - 2020 V/v ly hôn, tranh chấp về nuôi con |
NHÂN DANH
NƢỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LẠC SƠN - TỈNH HOÀ BÌNH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Nguyễn Thị Thanh Hoa
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Bùi Văn Quyết;
2. Ông Bùi Văn Ơn
- Thư ký ghi phiên toà: Bà Hoàng Thị Khánh Linh - Thư ký toà án nhân dân huyện Lạc Sơn.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Lạc Sơn tham gia phiên toà: Ông Bùi Mạnh Tuấn - Kiểm sát viên.
Ngày 06 tháng 8 năm 2020, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Lạc Sơn- tỉnh Hòa Bình. Tòa án nhân dân huyện Lạc Sơn xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 109/2020/TLST-HNGĐ ngày 18 tháng 5 năm 2020 về tranh chấp về hôn nhân và gia đình theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 30/2020/QĐXX-ST ngày 21 tháng 7 năm 2020 giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Chị Vũ Thị Phương T, sinh năm 1989. Địa chỉ: xóm Đồng Tâm 2 (nay là xóm Đồng Tâm), xã Thượng Cốc, huyện Lạc Sơn, Hòa Bình. Có mặt tại phiên tòa.
2. Bị đơn: Anh Bùi Văn Th, sinh năm 1983. Địa chỉ: xóm Đồng Tâm 2 (nay là xóm Đồng Tâm), xã Thượng Cốc, huyện Lạc Sơn, tỉnh Hòa Bình. Có mặt tại phiên tòa.
NỘI DUNG VỤ ÁN
Tại đơn khởi kiện và các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa nguyên đơn chị Vũ Thị Phương T trình bày:
Về tình cảm: Chị và anh Bùi Văn Th kết hôn từ năm 2012 trên cơ sở tự nguyện, không ai ép buộc, đăng ký kết hôn tại UBND xã Thượng Cốc và tổ chức kết hôn theo phong tục tập quán địa phương. Thời gian đầu chung sống, hai vợ chồng hòa thuận, yêu thương nhau, đến năm 2017 thì hai vợ chồng phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân là do hai vợ chồng bất đồng quan điểm sống, thường xuyên cãi vã xung đột khiến mâu thuẫn vợ chồng rất trầm trọng, tình cảm vợ chồng không có, đời sống chung không thể kéo dài. Đến nay, chị T xác định tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được nên chị đề nghị Tòa án giải quyết ly hôn với anh Bùi Văn Th.
Về con chung và cấp dưỡng nuôi con sau khi ly hôn: Trong thời kỳ hôn nhân, chị T và anh Th có 02 con chung là cháu Bùi Vũ Thùy L (con gái) sinh ngày 15/9/2013; cháu Bùi Vũ Thành Đ (con trai), sinh ngày 14/4/2017. Trong quá trình giải quyết vụ án chị T có nguyện vọng được trực tiếp nuôi dưỡng, giáo dục cháu Bùi Vũ Thành Đ và đồng ý để anh Th trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục cháu Bùi Vũ Thùy L. Hai bên chưa phải thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con sau khi ly hôn. Tại phiên tòa, chị T đề nghị được trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục cả hai con chung và chưa đề nghị anh Th cấp dưỡng nuôi con sau khi ly hôn.
Về tài sản chung, công nợ: Hai vợ chồng tự thỏa thuận, không đề nghị tòa án giải quyết.
Ngoài ra chị T không có yêu cầu gì thêm.
Tại các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa bị đơn anh Bùi Văn Th trình bày:
Về thời điểm kết hôn và quá trình vợ chồng chung sống như chị T trình bày là đúng. Tình cảm vợ chồng ban đầu chung sống hòa thuận, hạnh phúc. Từ đầu năm 2017 đến nay hai vợ chồng xảy ra mâu thuẫn bất hòa nguyên nhân là hai vợ chồng bất đồng quan điểm sống, thường xuyên cãi vã xung đột, thậm chí còn xảy ra bạo lực gia đình. Tuy nhiên, anh Th nhận thấy vẫn còn tình cảm với chị T nên chị T đề nghị ly hôn anh Th không đồng ý.
Về con chung: Trong thời kỳ hôn nhân, chị T và anh Th có 02 con chung là cháu Bùi Vũ Thùy L (con gái) sinh ngày 15/9/2013; cháu Bùi Vũ Thành Đ (con trai), sinh ngày 14/4/2017. Trong quá trình giải quyết vụ án anh Th có nguyện vọng được trực tiếp nuôi dưỡng, giáo dục cháu Bùi Vũ Thành Đ và đồng ý để chị T trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục cháu Bùi Vũ Thùy L. Hai bên chưa phải thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con sau khi ly hôn. Tại phiên tòa, anh Th đề nghị được trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục cả hai con chung và chưa đề nghị chị T cấp dưỡng nuôi con sau khi ly hôn.
Về tài sản chung, công nợ chung: Hai bên tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Ngoài ra anh Th không có yêu cầu gì thêm.
* Tại biên bản xác minh ngày ngày 02/7/2020 của Tòa án nhân dân huyện Lạc Sơn chính quyền địa phương nơi cư trú của anh Bùi Văn Th và chị Vũ Thị Phương T có nội dung:
Anh Bùi Văn Th và chị Vũ Thị Phương T kết hôn năm 2012 trên cơ sở tự nguyện, tự do tìm hiểu và đăng ký kết hôn hợp pháp tại UBND Thượng Cốc, huyện Lạc Sơn, tỉnh Hòa Bình. Thời gian đầu vợ chồng chung sống hạnh phúc. Đến năm 2017, hai vợ chồng thường xuyên xảy ra mâu thuẫn, bất hòa. Nguyên nhân là do hai vợ chồng bất đồng quan điểm sống, thường xuyên cãi vã, xung đột khiến mâu thuẫn vợ chồng trở nên trầm trọng. Hai vợ chồng li thân từ đầu năm 2020, khả năng đoàn tụ là rất khó.
Về con chung: Trong quá trình chung sống, anh Th và chị T có 02 con chung là cháu Bùi Vũ Thùy L, sinh ngày 15/9/2013 và cháu Bùi Vũ Thành Đ, sinh ngày 14/4/2017. Hiện nay, chị T đang trực tiếp nuôi dưỡng, trông nom, chăm sóc, giáo dục cả hai con chung.
Về điều kiện nuôi con của anh Th và chị T:
- Xét về yếu tố nhân phẩm, đạo đức: anh Th và chị T luôn giữ gìn tư cách, phẩm chất đạo đức có lối sống trong sạch, lành mạnh.Trong mối quan hệ với hàng xóm, láng giềng tại nơi cư trú luôn vui vẻ, cởi mở, hòa đồng.
- Xét đến yếu tố kinh tế để nuôi con: Thức có công việc chính là lái xe bus, chị T kinh doanh tự do nên đều có đủ kiểu kiện kinh tế để nuôi con.
- Về thời gian chăm sóc, nuôi dưỡng con: anh Th và chị T đang làm việc và sinh sống tại địa phương, thời gian làm việc không quá gò bó nên có đủ thời gian để dành cho việc chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con.
- Về chỗ ở: anh Th và chị T có nhà cửa tại địa phương nên đủ điều kiện về chỗ ở để nuôi con.
Do đó, điều kiện nuôi con của anh Th và chị T là ngang nhau. Anh Th và chị T là người có đủ điều kiện về tư cách đạo đức, kinh tế, mức độ ổn định của nghề nghiệp, chỗ ở bảo đảm việc chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con sau khi ly hôn.
*Phát biểu của Kiểm sát viên tại phiên tòa:
Về tố tụng: Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân huyện Lạc Sơn, tỉnh Hòa Bình công nhận việc chấp hành đúng theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự của Thẩm phán, HĐXX và các đương sự từ khi thụ lý đến trước khi HĐXX nghị án.
Về nội dung:
- Về quan hệ hôn nhân: xác định mâu thuẫn giữa chị T và anh Th đã trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được nên đề nghị HĐXX chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị T.
- Về con chung: Đề nghị giao cháu Bùi Vũ Thành Đ cho chị T trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục; Giao cháu Bùi Vũ Thùy L cho anh Th trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục. Chị T và anh Th chưa đề nghị cấp dưỡng nuôi con sau khi ly hôn nên đề nghị HĐXX chưa xem xét vấn đề cấp dưỡng nuôi con trong vụ án.
- Về tài sản chung, công nợ chung: Hai bên đề nghị tự thỏa thuận, không tranh chấp nên không đề cập giải quyết trong vụ án.
- Về án phí: Căn cứ vào Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015, Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án chị T phải nộp 300.000 đồng án phí ly hôn sơ thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án; được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa HĐXX nhận ®Þnh:
Về tố tụng: Đây là vụ án hôn nhân và gia đình “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con”. Bị đơn là anh Bùi Văn Th có hộ khẩu thường trú tại xóm Đồng Tâm 2 (nay là xóm Đồng Tâm), xã Thượng Cốc, huyện Lạc Sơn, Hòa Bình. Vì vậy, Tòa án nhân dân huyện Lạc Sơn thụ lý, giải quyết là đúng thẩm quyền theo quy định tại khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng Dân sự. Sau khi thụ lý vụ án, Tòa án tiến hành thông báo và tống đạt đầy đủ các văn bản cho các bên đương sự theo quy định tại khoản 1 Điều 175 và khoản 1, 2 Điều 177 của Bộ luật Tố tụng Dân sự. Tiến hành phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải theo quy định tại Điều 211 BLTTDS. Tiến hành hòa giải theo quy định tại Điều 205 BLTTDS để hai bên thỏa thuận với nhau việc giải quyết vụ án. Anh Th và chị T đã được Tòa án triệu tập hợp lệ đến phiên tòa, đã được đảm bảo thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ của mình trong quá trình giải quyết vụ án theo quy định của pháp luật.
Về quan hệ hôn nhân: Quan hệ hôn nhân giữa chị T và anh Th được xác lập trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn, là hôn nhân hợp pháp. Quá trình chung sống chị T và anh Th không có hạnh phúc do hai vợ chồng bất đồng quan điểm sống, thường xuyên xảy ra cãi vã, xung đột vì thế cuộc sống gia đình thường xuyên bất hòa. Từ những nhận định trên thấy mâu thuẫn giữa chị T và anh Th đã trầm trọng, mục đích hôn nhân không thể đạt được nên HĐXX chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị T là phù hợp Điều 51; khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014.
Về con chung: Anh Th và chị T có hai con chung là cháu Bùi Vũ Thùy L, sinh ngày 15/9/2013 và cháu Bùi Vũ Thành Đ, sinh ngày 14/4/2017. Khi ly hôn, anh Th và chị T đều có nguyện vọng được trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục cả hai con chung.
Theo quy định tại Điều 17 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 thì vợ, chồng bình đẳng với nhau, có quyền, nghĩa vụ ngang nhau về mọi mặt trong gia đình. Trên cơ sở nguyên tắc này có thể hiểu người cha và người mẹ bình đẳng với nhau về quyền và nghĩa vụ trong việc nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục con cái trong thời kỳ tồn tại quan hệ hôn nhân và ngay cả khi quan hệ hôn nhân chấm dứt.
HĐXX nhận thấy cháu Bùi Vũ Thành Đ còn nhỏ, cần sự trông nom, chăm sóc, gần gũi của người mẹ; cháu Bùi Vũ Thùy L đã có khả năng tự chăm sóc bản thân. Vì vậy, để đảm bảo quyền lợi và sự phát triển về mọi mặt của con chung cần giao cháu Bùi Vũ Thành Đ cho chị T trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục; giao cháu Bùi Vũ Thùy L cho anh Th trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục cho đến khi các con chung đủ 18 tuổi hoặc khi có sự thay đổi khác.
Vấn đề cấp dưỡng nuôi con: Anh Th và chị T chưa đặt ra yêu cầu cấp dưỡng nuôi con chung sau khi ly hôn. Căn cứ kết quả xác minh tại địa phương về điều kiện nuôi con của chị T và anh Th; căn cứ các Điều 82, 83 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 HĐXX thấy chưa cần thiết giải quyết vấn đề cấp dưỡng nuôi con chung trong vụ án. Việc cấp dưỡng nuôi con sẽ được giải quyết bằng một vụ án khác khi được sự có yêu cầu và có đủ điều kiện.
Về tài sản chung, công nợ chung: Hai bên tự thỏa thuận, không tranh chấp nên HĐXX không xem xét.
Về án phí: Chị T phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Về quyền kháng cáo: Các đương sự có quyền kháng cáo trong thời gian luật định.
Vì các lẽ trên:
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ Điều 51; Điều 56; Điều 58; Điều 81 , 82, 83, Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014;
Căn cứ Điều 147, Điều 271 và Điều 273 Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015;
Căn cứ Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án
1. Về hôn nhân: Chị Vũ Thị Phương T được ly hôn với anh Bùi Văn Th.
2. Về con chung, cấp dƣỡng: Giao con chung là cháu Bùi Vũ Thùy L, sinh ngày 15/9/2013 cho anh Bùi Văn Th trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục; Giao cháu Bùi Vũ Thành Đ sinh ngày 14/4/2017 cho chị Vũ Thị Phương T trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục cho đến khi con chung 18 tuổi hoặc đến khi có sự thay đổi khác. Hai bên chưa phải thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con sau khi ly hôn.
Người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở. Cha mẹ không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom con để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người đó. Cha, mẹ trực tiếp nuôi con cùng các thành viên gia đình không được cản trở người không trực tiếp nuôi con trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con.
3. Về tài sản chung, công nợ chung: Chị T và anh Th không yêu cầu giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.
5. Về án phí: Chị Vũ Thị Phương T phải chịu 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) án phí ly hôn sơ thẩm và được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000 đồng (Ba trăm ngàn đồng) theo biên lai thu tiền số 0003532 ngày 18/5/2020 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Lạc Sơn. Chị Vũ Thị Phương T đã nộp đủ án phí.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thì hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành theo quy định tại các Điều 6,7 và 9 Luật Thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
6. Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn, bị đơn có mặt được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
| Nơi nhận: - Tòa án nhân dân tỉnh Hòa Bình; - VKSND tỉnh Hòa Bình; - VKSND huyện Lạc Sơn; - CCTHA huyện Lạc Sơn; - UBND Thượng Cốc; - Đương sự; - Lưu hồ sơ. | T/M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẨM PHÁN- CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thị Thanh Hoa |