- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Ly hôn giữa chị C và anh Q"
- Tòa quyết gì? Về quan hệ hôn nhân: Xử cho chị Đinh Thị C được ly hôn anh Nguyễn Văn Q.
- Căn cứ chính? Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 116 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐÔNG HƢNG TỈNH THÁI BÌNH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 28/2020/HNGĐ-ST Ngày 22/7/2020 V/v: “Tranh chấp hôn nhân gia đình” |
NHÂN DANH
NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐÔNG HƢNG, TỈNH THÁI BÌNH
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
- Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Hoàng Văn Thành.
- Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Lê Đình Cự.
2. Bà Nguyễn Thị Vĩnh.
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Quỳnh Anh – Thư ký Tòa án.
-Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đông Hưng tham gia phiên toà:
Bà Lại Thị Giang - Kiểm sát viên.
Trong ngày 22 tháng 7 năm 2020, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Đông Hưng, tỉnh Thái Bình xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 50/2020/TLST-HNGĐ ngày 20 tháng 3 năm 2020, về việc: “Tranh chấp hôn nhân và gia đình” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 31/2020/QĐXX-ST ngày 16 tháng 6 năm 2020, giữa các đương sự:
* Nguyên đơn: Chị Đinh Thị C, sinh năm 1999
HKTT: Thôn K, xã A, huyện Đ, tỉnh Thái Bình
Chỗ ở hiện nay: Thôn Đ, xã T, Huyện H, tỉnh Thái Bình
* Bị đơn:
Anh Nguyễn Văn Q, sinh năm 1989
Trú tại: Thôn K, xã A, huyện Đ, tỉnh Thái Bình
(Chị C có mặt, anh Q vắng mặt tại phiên tòa)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
1. Tại đơn khởi kiện ngày 11/02/2020; tại bản tự khai ngày 20/3/2020 và tại phiên tòa chị Đinh Thị C nguyên đơn trình bày:
* Về quan hệ hôn nhân: Chị kết hôn với anh Nguyễn Văn Q ngày 08/9/2017 do tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại UBND xã A, huyện Đ, tỉnh Thái Bình. Sau khi kết hôn vợ chồng sống hòa thuận đến tháng 7/2018 thì phát sinh mâu thuẫn do anh Q chơi bời, chị đã khuyên bảo nhiều lần nhưng anh Q không nghe nên vợ chồng thường xuyên xảy ra cãi nhau do bất đồng quan điểm sống, nhiều lần vợ chồng đã ngồi lại trao đổi nhưng không hòa hợp, chị đã bỏ về nhà bố mẹ đẻ sinh sống từ tháng 9/2019. Nay chị xác định tình cảm vợ chồng không còn chị xin được ly hôn với anh Nguyễn Văn Q.
* Về con chung: Chị và anh Q có 01 con chung là Nguyễn Quang M, sinh ngày 11/5/2018. Ly hôn chị có nguyện vọng nuôi con và không yêu cầu anh Q phải đóng góp cấp dưỡng nuôi con.
* Về tài sản và nợ: Chị không yêu cầu Tòa án giải quyết.
2. Đối với bị đơn anh Nguyễn Văn Q: Tòa án đã triệu tập nhiều lần nhưng anh Q không có mặt để tham gia tố tụng tại Tòa án.
Tại biên bản ghi lời khai ngày 13/5/2020 đối với bà Nguyễn Thị M, sinh năm 1962 (là mẹ đẻ anh Nguyễn Văn Q) - trú tại: Thôn K, xã A, huyện Đ, tỉnh Thái Bình, trình bày như sau: Anh Q đã biết việc chị C xin ly hôn và nhận được thông báo thụ lý vụ án và thông báo về phiên họp việc kiểm tra, giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải. Anh Q kết hôn với chị C ngày 08/9/2017 do tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại UBND xã A, huyện Đ. Sau khi kết hôn vợ chồng chung sống cùng gia đình bà, giữa gia đình bà và chị C thì không có mâu thuẫn gì, còn chị C và anh Q mâu thuẫn như thế nào thì bà không biết. Chị C đã nhiều lần tự ý bỏ về nhà bố mẹ đẻ sinh sống và lần gần nhất là cuối năm 2019. Gia đình bà không có mâu thuẫn gì với chị C, nguyên nhân do chị C. Nay chị C xin ly hôn anh Q đề nghị Tòa án giải quyết vụ án theo quy định của pháp luật. Về con chung: Chị C và anh Q có 01 con chung là Nguyễn Quang M, sinh ngày 11/5/2018, hiện cháu đang ở cùng gia đình bà, chị C không trông nom chăm sóc gì, bà đề nghị Tòa án giải quyết vụ án theo quy định của pháp luật.
Đại diện Viện kiểm sát phát biểu quan điểm tại phiên tòa: Quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, của Hội đồng xét xử và việc chấp hành pháp luật của nguyên đơn đều tuân thủ đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự, đối với bị đơn là anh Q, tuy đã nhận được thông báo của Tòa án về việc chị C xin ly hôn nhưng anh vẫn vắng mặt không trực tiếp đến Tòa án làm việc nên việc chấp hành pháp luật của bị đơn là chưa nghiêm chỉnh. Về nội dung vụ án đại diện Viện kiểm sát đề nghị HĐXX căn cứ vào quy định của pháp luật xử cho chị Đinh Thị C được ly hôn với anh Nguyễn Văn Q; Về con chung chị C và anh Q có 01 con chung là Nguyễn Quang M, sinh ngày 11/5/2018, ly hôn chị C có nguyện vọng nuôi con và không yêu cầu anh Q đóng góp cấp dưỡng nuôi con cần được chấp nhận, bởi lẽ: Quá trình giải quyết vụ án anh Q không có mặt để trình bày nguyện vọng và hiện con chưa đủ 36 tháng tuổi nên theo quy định phải giao con cho chị C trực tiếp nuôi để đảm bảo quyền lợi của con. Về tài sản và nợ: Chị C không yêu cầu nên không đặt ra giải quyết; Chị Đinh Thị C phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Sau khi xem xét toàn bộ các tài liệu chứng cứ và ý kiến của các đương sự tại các lời khai và tại phiên tòa hôm nay, Hội đồng xét xử nhận định:
Về thủ tục tố tụng: Nguyên đơn, bị đơn đều có hộ khẩu thường trú tại huyện Đ, quá trình giải quyết vụ án các đương sự không yêu cầu giải quyết về tài sản mà chỉ giải quyết về quan hệ hôn nhân và con chung, vì vậy căn cứ vào các Điều 28; 35; 39 Bộ luật tố tụng dân sự Tòa án nhân huyện Đông Hưng giải quyết là đúng thẩm quyền. Anh Q đã được Tòa án tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng, tuy nhiên tại phiên tòa ngày 07/7/2020 anh Q vắng mặt nên căn cứ vào khoản 1 Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự, HĐXX đã hoãn phiên tòa lần thứ nhất. Tại phiên tòa ngày 22/7/2020, anh Q vẫn tiếp tục vắng mặt nên HĐXX căn cứ khoản 2 Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự xét xử vắng mặt anh Q.
Về quan hệ hôn nhân: Chị Đinh Thị C kết hôn với anh Nguyễn Văn Q ngày 08/9/2017 do tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại UBND xã A, huyện Đ, tỉnh Thái Bình. Sau khi kết hôn vợ chồng sống hòa thuận đến tháng 7/2018 thì phát sinh mâu thuẫn do anh Q chơi bài bạc, chị C đã khuyên bảo nhiều lần nhưng anh Q không nghe nên vợ chồng thường xuyên xảy ra cãi nhau do bất đồng quan điểm sống, không tìm được tiếng nói chung, chị C đã bỏ về nhà bố mẹ đẻ sinh sống từ tháng 9/2019. Nay chị C xác định tình cảm vợ chồng không còn chị xin được ly hôn với anh Nguyễn Văn Q. Tại biên bản xác minh ngày 13/5/2020 chính quyền địa phương xác định giữa chị C, anh Q có phát sinh mâu thuẫn nhưng mâu thuẫn cụ thể thì địa phương không nắm rõ nên đề nghị Tòa án giải quyết vụ án theo quy định của pháp luật. HĐXX thấy rằng chị C, anh Q đã sống ly thân từ tháng 9/2019 không quan tâm, hỏi han đến nhau, không có mối ràng buộc về kinh tế nên xác định tình cảm vợ chồng giữa chị C, anh Q không còn, mục đích hôn nhân không đạt được, tình trạng hôn nhân đã trầm trọng. Vì vậy cần chấp nhận yêu cầu của chị C, xử cho chị C được ly hôn với anh Q là phù hợp với quy định tại Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình.
Về con chung: chị C và anh Q có 01 con chung là Nguyễn Quang M, sinh ngày 11/5/2018, ly hôn chị C có nguyện vọng nuôi con và không yêu cầu anh Q đóng góp cấp dưỡng nuôi con cần được chấp nhận, bởi lẽ: Quá trình giải quyết vụ án anh Q không có mặt để trình bày nguyện vọng và hiện con chưa đủ 36 tháng tuổi phù hợp với quy định tại khoản 3 Điều 81 Luật hôn nhân và gia đình.
Về tài sản và nợ: Chị Đinh Thị C không yêu cầu nên không xem xét, giải quyết.
Về án phí: Chị Đinh Thị C phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm.
Quyền kháng cáo: Các đương sự có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên:
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ vào khoản 1 Điều 28; khoản 1 Điều 35; khoản 1 Điều 39; Điều 147; Điều 227 của Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 56, 57, 58, 81, 82, 83, 84 và 116 Luật hôn nhân và gia đình; Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
1. Về quan hệ hôn nhân: Xử cho chị Đinh Thị C được ly hôn anh Nguyễn Văn Q.
2. Về con chung: Giao cho chị Đinh Thị C trực tiếp nuôi dưỡng con chung Nguyễn Quang M, sinh ngày 11/5/2018 và chấp nhận việc chị C không yêu cầu anh Q phải đóng góp cấp dưỡng nuôi con.
Việc thay đổi người nuôi con và mức cấp dưỡng được đặt ra khi một trong các bên có đơn yêu cầu. Người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.
3. Về tài sản và nợ: Chị Đinh Thị C không yêu cầu nên không xem xét, giải quyết.
4. Về án phí: Chị Đinh Thị C phải chịu 300.000 đồng án phí ly hôn sơ thẩm, chuyển số tiền 300.000 đồng chị C đã nộp tại biên lai thu tiền tạm ứng án phí số 0008367 ngày 20/3/2020 thành tiền án phí ly hôn sơ thẩm.
Quyền kháng cáo: Chị Đinh Thị C có quyền làm đơn kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, anh Nguyễn Văn Q có quyền làm đơn kháng cáo trong hạn 15 ngày tính từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.
| Nơi nhận: - VKSND huyện Đông Hưng; - Các đương sự; - UBND xã A; - Lưu hồ sơ. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ ĐÃ KÝ Hoàng Văn Thành |