- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Tranh chấp ly hôn và nuôi con giữa ông Q và bà N"
- Tòa quyết gì? Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Lê Phú Q.
- Căn cứ chính? Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU THÀNH TỈNH SÓC TRĂNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 28/2020/HNGĐ-ST Ngày: 31/8/2020 V/v: Tranh chấp xin ly hôn và nuôi con. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU THÀNH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Võ Văn Vinh.
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Lâm Ngọc Hà
2. Bà Nguyễn Văn Ngư
- Thư ký phiên tòa: Bà Lưu Thị Thúy Vy, cán bộ Tòa án nhân dân huyện Châu Thành.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Thành tham gia phiên tòa: Bà Huỳnh Mộng Kiều – Kiểm sát viên.
Ngày 31 tháng 8 năm 2020, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Châu Thành, xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 44/2020/TLST-HNGĐ, ngày 26 tháng 2 năm 2020 về việc “Tranh chấp ly hôn và nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 82/2020/QĐST- HNGĐ ngày 29/7/2020 và Quyết định hoãn phiên tòa số 65/2020/ QĐST- HNGĐ ngày 14/8/2020 giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Ông Lê Phú Q, sinh năm 1984 (có mặt).
Địa chỉ số: 152, đường T, khóm 1, phường 2, thành phố S, tỉnh Sóc Trăng.
2. Bị đơn: Bà Lê Thị Bé N, sinh năm 1985 ( vắng mặt).
Địa chỉ: Ấp T , xã T , huyện C, tỉnh Sóc Trăng.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện đề ngày 12/02/2020, cũng như tại phiên tòa sơ thẩm nguyên đơn ông Lê Phú Q, trình bày:
Ông Q và bà N kết hôn năm 2006, trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân phường 2, thị xã S (Nay là thành phố S), tỉnh Sóc Trăng Và được cấp giấy chứng nhận kết hôn ngày 24/4/2006.
Thời gian đầu ông Q và bà Ngoan chung sống hòa thuận, hạnh phúc, đến năm 2010 thì phát sinh mâu thuẫn.
Nguyên nhân mâu thuẫn là do tính tình không hợp nhau, vợ chồng thường xuyên xảy ra mâu thuẫn, bà N bỏ nhà đi về nhà cha mẹ ruột sống, tại ấp T, xã T, huyện C, tỉnh Sóc Trăng.
Từ năm 2010 đến nay ông, bà đã ly thân, mỗi người sống mỗi nơi, không ai quan tâm đến ai.
Nay ông Q nhận thấy tình cảm vợ chồng không còn nửa. Vì vậy ông Q làm đơn yêu cầu Tòa án giải quyết cho ông được ly hôn với bà N.
Về con chung: Ông Q khai vợ chồng có một con chung tên: Lê Ngọc Khánh L, sinh ngày 11/02/2007.
Khi ly hôn ông Q xin được nuôi dưỡng con chung tên Lê Ngọc Khánh L, sinh ngày 11/02/2007, không yêu cầu bà Ngoan cấp dưỡng nuôi con.
Về tài sản chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Về nợ chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN :
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
Về tố tụng: Bà N được Tòa án triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai để tham gia phiên Tòa, nhưng bà N đều vắng mặt, nên Hội đồng xét xử xét áp dụng điểm b, khoản 2 Điều 227; khoản 3 Điều 228 Bộ luật tố tung dân sư tiến hành xét xử vắng mặt bà.
Về hôn nhân: Quan hệ hôn nhân giữa ông Q và bà N là quan hệ hợp pháp. Qua quá trình chung sống do hai bên bất đồng về quan điểm sống, không quan tâm đến nhau, nên dẫn đến va chạm, mâu thuẫn, mất lòng tin với nhau. Ông Q xác định tình cảm vợ chồng không còn khả năng đoàn tụ. Mâu thuẫn vợ chồng căng thẳng, được cha mẹ hai bên đã khuyên giải nhưng không có kết quả. Điều đó chứng tỏ tình trạng hôn nhân giữa ông Q và bà N đã mâu thuẫn trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Ông Q xin ly hôn bà N là có căn cứ, phù hợp Điều 56 Luật hôn nhân gia đình năm 2014, nên Hội đồng xét xử chấp nhận.
Về con chung: Ông Q có nguyện vọng được nuôi con.Tuy nhiên, việc giao con cho ai nuôi cần phải xem xét mọi mặt và quyền lợi của con chưa thành niên.
Xét thấy, bà N từ khi thụ lý, hòa giải, cũng như tại phiên Tòa hôm nay đều vắng mặt, không có ý kiến trình bày gì đối với việc nuôi dưỡng, chăm sóc con chung.
Từ khi bà N bỏ nhà đi cho đến nay ông Q là người trực tiếp nuôi dưỡng cháu Lê Ngọc Khánh L, sinh ngày 11/02/2007. Tại biên bản ghi nhận ý kiến ngày 11/6/2020, cháu cháu Lê Ngọc Khánh L trình bày nguyện vọng, nếu cha mẹ ly hôn cháu xin được ở với cha, nên Hội đồng xét xử, căn cứ vào khoản 2, Điều 81 Luật hôn nhân và gia đình, có căn cứ để chấp nhận nguyện vọng của ông Q, giao cháu: Lê Ngọc Khánh L, sinh ngày 11/02/2007, cho ông Q được trực tiếp trông nom, chăm sóc, giáo dục, nuôi dưỡng con chung.
Về cấp dưỡng nuôi con: Ông Q không yêu cầu bà Ngoan cấp dưỡng nuôi con, nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.
Về tài sản chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Về nợ chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Về án phí: Căn cứ vào khoản 4 Điều 147 của Bộ luật tố tụng dân sự, khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 án phí và lệ phí Tòa án ông Q phải chịu 300.000đ án phí dân sự sơ thẩm trong vụ án hôn nhân.
Tại phiên tòa, Kiểm sát viên phát biểu ý kiến về việc theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử và việc chấp hành pháp luật của người tham gia tham gia tố tụng, kể từ khi thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án đã tuân theo đúng các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.
Đề nghị Hội đồng xét xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Lê Phú Q đối với bị đơn bà Lê Thị Bé N về việc "tranh chấp ly hôn và nuôi con", nguyên đơn Lê Phú Q được ly hôn với bị đơn Lê Thị Bé N; giao cho nguyên đơn trực tiếp nuôi dưỡng con chung tên: Lê Ngọc Khánh L, sinh ngày 11/02/2007, và bị đơn không phải cấp dưỡng nuôi con. Tài sản chung, nợ chung, không có.
Lời đề nghị của Kiểm sát viên là có căn cứ, nên Hội Đồng xét xử chấp nhận.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH
- Áp dụng khoản 1 Điều 28 và điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; điểm b khoản 2 Điều 227; khoản 2 Điều 228; khoản 4 Điều 147 của Bộ luật tố tụng dân sự.
- Áp dụng khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 56, Điều 58, khoản 2 Điều 81, Điều 82, Điều 83 của Luật Hôn nhân và gia đình.
- Khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Lê Phú Q.
- Về hôn nhân: Ông Lê Phú Q được ly hôn với bà Lê Thị Bé N.
- Về con chung: Giao con chung tên: Lê Ngọc Khánh L, sinh ngày 11/02/2007, cho ông Q trực tiếp nuôi dưỡng đến tuổi trưởng thành.
- Về cấp dưỡng nuôi con: Ông Q không yêu cầu bà Ngoan cấp dưỡng nuôi con, nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.
Bà Lê Thị Bé N được quyền thăm nom, chăm sóc con chung, không ai được quyền ngăn cản.
- Về tài sản chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết, nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.
- Về nợ chung: Không có, nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.
- Án phí hôn nhân sơ thẩm: Ông Lê Phú Q phải chịu 300.000đ, nhưng được trừ vào tiền tạm ứng đã nộp 300.000đ, theo biên lai thu tiền số 0001365, ngày 12/02/2020 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Châu Thành; ông Q đã nộp đủ án phí sơ thẩm.
Các đương sự được quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án; đối với đương sự không có mặt tại phiên tòa thì thời hạn kháng cáo tính từ ngày bản án được giao cho họ hoặc được niêm yết, để yêu cầu Toà án nhân dân tỉnh Sóc Trăng xét xử theo thủ tục phúc thẩm.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự./.
| Nơi nhận: - Các đương sự; - Tòa án tỉnh; - VKSND huyện Châu Thành; - Chi cục THADS huyện CT; - cơ quan đang ký kết hôn; - Lưu hồ sơ vụ án; | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán-Chủ tọa phiên tòa Võ Văn Vinh |