vanban.org

Bản án 28/2020/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về bạo lực gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về hôn nhân: Tuyên xử cho chị Hoàng Thị N được ly hôn với anh Đặng Văn T.

Về nuôi con: Đình chỉ việc giải quyết về nuôi con do chị Hoàng Thị N tự nguyện rút đơn yêu cầu. Về tài sản chung và các vấn đề khác: Các bên đương sự không yêu cầu nên không xem xét giải quyết. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về bạo lực gia đình — án hôn nhân và gia đình — "ly hôn"
  • Tòa quyết gì? Về hôn nhân: Tuyên xử cho chị Hoàng Thị N được ly hôn với anh Đặng Văn T.
  • Căn cứ chính? Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 244 Bộ luật Tố tụng dân sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN ĐỒNG PHÚ
TỈNH BÌNH PHƯỚC

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 28/2020/ HNGĐ-ST
Ngày 10-7-2020
Về việc “Ly hôn, nuôi con”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐỒNG PHÚ- TỈNH BÌNH PHƯỚC

Với thành phần Hội đồng xét xử gồm có:

- Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà:

Bà Nguyễn Thị Hương

- Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Lê Quang Thìn

Ông Thạch Ni

- Thư ký ghi biên bản phiên toà: Bà Đào Thị Quỳnh N - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Đồng Phú

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện Đồng Phú, tỉnh Bình Phước: Ông Lê Hoàng Anh – Kiểm sát viên.

Ngày 10 tháng 7 năm 2020, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Đồng Phú, tỉnh Bình Phước xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 52/2020/TLST- HNGĐ ngày 24 tháng 02 năm 2020 về việc “Tranh chấp ly hôn, nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 24/2019/QĐXXST-HNGĐ ngày 27/5/2020 và Quyết định hoãn phiên tòa số 12/2020/QĐST-HNGĐ, ngày 17/6/2020, giữa:

*Nguyên đơn: Chị Hoàng Thị N, sinh năm 1990 (có mặt)

Địa chỉ: Tổ 5A, ấp B, xã T, huyện Đ, tỉnh B.

* Bị đơn: Anh Đặng Văn T, sinh năm 1989 (vắng mặt)

Địa chỉ: Tổ 3, ấp P, xã T, huyện Đ, tỉnh B.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa, nguyên đơn chị Hoàng Thị N trình bày:

Về quan hệ hôn nhân: Chị Hoàng Thị N và anh Đặng Văn T chung sống với nhau một cách tự nguyện và có đăng ký kết hôn tại UBND Ủy ban nhân dân xã T, huyện Đ, tỉnh B vào năm 2011.

Trong quá trình chung sống, vợ chồng sống hạnh phúc được thời gian ngắn thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn là do vợ chồng tính tình không hợp nhau, không có tiếng nói chung về quan điểm sống và làm ăn; kinh tế gia đình khó khăn; anh T không lo làm ăn, thường hay ăn nhậu, say xỉn, chửi bới và đánh đập chị N. Chị N đã nhiều lần khuyên bảo và nhờ gia đình hai bên can thiệp nhưng anh T không thay đổi. Từ tháng 02/2019 đến nay, chị N và anh T sống ly thân. Nay, chị N xác định tình cảm giành cho anh T đã hết nên yêu cầu Tòa án giải quyết được ly hôn với anh T

Về con chung: Quá trình chung sống có 02 con chung tên là Đặng Hoàng T1, sinh ngày 24/12/2011 và Đặng Hoàng Ngọc M, sinh ngày 28/12/2013. Khi ly hôn, chị N có yêu cầu được nuôi cháu M và giao cháu T1 cho anh T trực tiếp nuôi dưỡng. Ngày 24/02/2020, chị N có đơn xin rút một phần yêu cầu khởi kiện về nuôi con. Tại phiên tòa, chị N không yêu cầu giải quyết về nuôi con.

Về tài sản chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

-Bị đơn anh Đặng Văn T vắng mặt trong suốt quá trình Tòa án giải quyết vụ án.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đồng Phú kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong tố tụng dân sự có ý kiến như sau:

- Về tố tụng: Trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa, Thẩm phán, Hội thâm nhân dân, Thư ký Tòa án và nguyên đơn đã thực hiện đúng và đủ quyền, nghĩa vụ của mình theo quy định. Bị đơn không thực hiện đầy đủ quyền, nghĩa vụ của mình theo quy định; Thời hạn giải quyết, xét xử vụ án tuân thủ đúng quy định.

- Về nội dung:

Về quan hệ hôn nhân: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị Hoàng Thị N đối với anh Đặng Văn T.

Về nuôi con: Đình chỉ yêu cầu khởi kiện về nuôi con do nguyên đơn rút yêu cầu.

Về tài sản chung và các vấn đề khác: Không yêu cầu nên không xem xét, giải quyết.

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra công khai tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện ý kiến của các bên đương sự, kiểm sát viên.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

1.Về quan hệ pháp luật: Theo đơn khởi kiện, nguyên đơn chị Hoàng Thị N yêu cầu Tòa án giải quyết được ly hôn, nuôi con chung với anh Đặng Văn T và không yêu cầu giải quyết về tài sản chung. Ngày 24/02/2020, chị N có đơn xin rút một phần yêu cầu khởi kiện về nuôi con. Vì vậy, đây là vụ án "Ly hôn " được quy định tại khoản 1 Điều 28 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.

2. Về thẩm quyền: Bị đơn là anh Đặng Văn T cư trú tại tổ 3, ấp Thuận Phú 3, xã P, huyện Đ, tỉnh B, theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 thì đây là vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Đồng Phú, tỉnh Bình Phước.

3.Về thủ tục tố tụng: Tòa án đã giao (niêm yết) Thông báo thụ lý vụ án, Thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải, Quyết định đưa vụ án ra xét xử và Quyết định hoãn phiên tòa cho nguyên đơn, bị đơn theo đúng quy định. Anh Đặng Văn T vắng mặt không có lý do trong suốt quá trình Tòa án giải quyết vụ án. Xét thấy, cần áp dụng khoản 2 Điều 227 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 xét xử vắng mặt anh T là có cơ sở.

4.Yêu cầu của đương sự:

Chị Hoàng Thị N và anh Đặng Văn T chung sống với nhau một cách tự nguyện và có đăng ký kết hôn tại UBND xã P, huyện Đồng Phú, tỉnh Bình Phước vào năm 2011. Xét thấy, đây là cuộc hôn nhân hợp pháp, tuân thủ đầy đủ các quy định của Luật hôn nhân và gia đình. Trong quá trình chung sống vợ chồng sống hạnh phúc được một thời gian thì xảy ra mâu thuẫn. Nguyên nhân là do vợ chồng tính tình không hợp, không có sự cảm thông chia sẻ những khó khăn xảy ra trong cuộc sống gia đình, không tin tưởng nhau, anh T ham chơi, thiếu trách nhiệm với gia đình, thường hay ăn nhậu, chửi bới và đánh đập chị N. Bản thân chị N cũng không tìm được phương án tốt hơn để khắc phục hoàn cảnh nên vợ chồng từ chỗ không có tiếng nói chung, sống ly thân dẫn đến ly hôn. Quá trình giải quyết vụ án anh T cũng không tham gia mặc dù Tòa án đã triệu tập hợp lệ nhiều lần, điều này chứng tỏ anh T cũng không có thiện chí cùng chị N đoàn tụ gia đình.

Xét mâu thuẫn vợ chồng giữa chị N và anh T đã đến mức trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài nên việc chị N xin được ly hôn với anh T là có cơ sở được chấp nhận. Do vậy, cần áp dụng Điều 56 Luật hôn nhân gia đình năm 2014 tuyên xử cho chị Hoàng Thị N được ly hôn với anh Đặng Văn T là phù hợp.

Về con chung: chị N và anh T có 02 con chung tên: Đặng Hoàng T1, sinh ngày 24/12/2011 và Đặng Hoàng Ngọc M, sinh ngày 28/12/2013. Trước đây, chị N có yêu cầu được nuôi cháu Minh và giao cháu Thông cho anh T trực tiếp nuôi dưỡng. Ngày 24/02/2020, chị N có đơn xin rút một phần yêu cầu khởi kiện về nuôi con. Tại phiên tòa, chị N không yêu cầu giải quyết về nuôi con vì đã thống nhất được việc nuôi con và không muốn ảnh hưởng đến tâm lý của con. Xét yêu cầu xin rút một phần yêu cầu khởi kiện của chị N là hoàn toàn tự nguyện, căn cứ khoản 2 Điều 244 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015, cần đình chỉ giải quyết đối với yêu cầu xin rút trên.

Về tài sản chung và các vấn đề khác: Các bên đương sự không yêu cầu nên không đặt ra vấn đề xem xét, giải quyết.

Ý kiến của đại diện Viên kiểm sát tại phiên tòa là phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.

Về án phí hôn nhân sơ thẩm các bên phải nộp theo quy định tại Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự và Nghị quyết 326/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án.

Vì các lẽ trên.

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; Điều 147 và Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự;

Các điều 51 và 56 Luật hôn nhân gia đình năm 2014; Nghị quyết 326/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án.

Tuyên xử:

1. Về hôn nhân: Tuyên xử cho chị Hoàng Thị N được ly hôn với anh Đặng Văn T.

2. Về nuôi con: Đình chỉ việc giải quyết về nuôi con do chị Hoàng Thị N tự nguyện rút đơn yêu cầu.

3. Về tài sản chung và các vấn đề khác: Các bên đương sự không yêu cầu nên không xem xét giải quyết.

4. Về án phí hôn nhân sơ thẩm: Là 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng), chị Hoàng Thị N phải chịu được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu tiền số 0011442, quyển số 0229 ngày 24/02/2020 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Đồng Phú, tỉnh Bình Phước.

Trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án nguyên đơn được quyền kháng cáo bản án. Bị đơn vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc từ ngày bản án được niêm yết tại chính quyền địa phương.

Cỡ chữ