- Tranh chấp gì? án hình sự — "Đặng Gia Q cùng đồng bọn - phạm tội bắt, giữ hoặc giam người trái pháp luật (điều 123 Bộ luật hình sự năm 1999)"
- Tòa quyết gì? Căn cứ điể m d khoả n 2 Điề u 2 Nghị quyết số 41/2017/QH14 ngày 20/6/2017 của Quốc hội; khoản 3 Điề u 7 và Điều 29 Bộ luậ t hì nh sự .
- Căn cứ chính? Điều 46 Bộ luật Hình sự; Nghị quyết số 41/2017/QH14 Về việc thi hành Bộ luật Hình sự…; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THUẬN THÀNH TỈNH BẮC NINH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 28/2019/HSST Ngày: 04/6/2019 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THUẬN THÀNH - TỈNH BẮC NINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Huy Tuấn.
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Trầ n Hồ ng Sơn.
Ông Nguyễ n Đăng Dũ ng.
- Thư ký phiên tòa: Ông Bùi Văn Tuyên - Thẩm tra viên Tòa án nhân dân huyện Thuận Thành.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thuận Thành tham gia phiên tòa: Ông Đoà n Đì nh Thắ ng - Kiểm sát viên.
Ngày 04/6/2019, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Thuận Thành mở phiên toà xét xử công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 54/2014/HSST ngày 14/10/2014 (Quyế t đị nh phụ c hồ i vụ á n số : 01/2019/HSST-QĐ ngà y 29/3/2019), theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 24/2019/QĐXXST-HS ngày 26/4/2019 và Quyết định hoãn phiên tòa số: 05/2019/HSST-QĐ ngày 14/5/2019, đối với các bị cáo:
1. ĐẶNG GIA Q, sinh năm 1985.
Trú tại: Thôn T - xã Gi - huyện Th - tỉnh B; Nghề nghiệp: Làm ruộng; Trình độ học vấn: 12/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Đặng Gia H , sinh năm 1963 và bà Nguyễn Thị H, sinh năm 1966; Có vợ là Ngô Thị Ng , sinh năm 1992 (đã ly hôn ) và 02 con: Con lớn sinh năm 2012, con nhỏ sinh năm 2014; Nhân thân: Năm 2007 bị Công an huyện Thuận Thành - tỉnh Bắc Ninh xử phạ t hà nh chí nh về hà nh vi “Đá nh nhau”; Tiền án, tiền sự: Không; Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 18/7/2014 đến ngày 28/8/2014 được áp dụng biện pháp ngăn chặn “Cấm đi khỏi nơi cư trú”. Hiện đang tại ngoại, có mặt tại phiên tòa.
2. HOÀNG VĂN T, sinh năm 1994.
Trú tại: Thôn Ph - xã N - huyện Th - tỉnh B; Nghề nghiệp: Làm ruộng; Trình độ học vấn: 12/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông (không rõ ) và bà Hoàng Thị T, sinh năm 1958; Vợ con: Chưa có; Tiền án, tiền sự: Không; Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 18/7/2014 đến ngày 21/7/2014 được áp dụng biện pháp ngăn chặn “Cấm đi khỏi nơi cư trú”. Hiện đang bị truy nã theo Quyết định truy nã số: 04 ngày 13/5/2015 của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyệ n Thuậ n Thà nh - tỉnh Bắc Ninh, vắ ng mặt tại phiên tòa.
3. NGUYỄ N HUY C, sinh năm 1982.
Trú tại: Thôn Th - xã H - huyện Th - tỉnh B; Nghề nghiệp: Làm ruộng; Trình độ học vấn: 09/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Nguyễ n Huy Â, sinh năm 1958 và bà Nguyễn Thị N, sinh năm 1960; Có vợ là Ngô Thị Ng, sinh năm 1984 và 02 con: Con lớn sinh năm 2004, con nhỏ sinh năm 2009; Tiền án, tiền sự: Không; Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 19/7/2014 đến ngày 25/7/2014 được áp dụng biện pháp ngăn chặn “Cấm đi khỏi nơi cư trú”. Hiện đang tại ngoại, có mặt tại phiên tòa.
4. NGUYỄ N HỮ U C (tên gọ i khá c: B), sinh năm 1991.
Trú tại: Thôn T - xã Gi - huyện Th - tỉnh B; Nghề nghiệp: Làm ruộng; Trình độ học vấn: 12/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Nguyễ n Hữ u Kh, sinh năm 1950 và bà Nguyễ n Thị B (đã chết); Vợ con: Chưa có ; Tiền án, tiền sự: Không; Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 19/7/2014 đến ngày 28/7/2014 được áp dụng biện pháp ngăn chặn “Cấm đi khỏi nơi cư trú”. Hiện đang tại ngoại, có mặt tại phiên tòa.
5. CAO TIẾ N CH, sinh năm 1991.
Trú tại: Thôn T - xã Gi - huyện Th - tỉnh B; Nghề nghiệp: Làm ruộng; Trình độ học vấn: 10/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Cao Tiế n Th (tự khai), sinh năm 1963 và bà Đặng Thị L, sinh năm 1963; Có vợ là Vũ Thị Y, sinh năm 1995 và 01 con sinh năm 2014; Tiền án, tiền sự: Không; Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 19/7/2014 đến ngày 28/7/2014 được áp dụng biện pháp ngăn chặn “Cấm đi khỏi nơi cư trú”. Hiện đang tại ngoại, có mặt tại phiên tòa.
* Ngườ i bị hại: Anh HOÀNG VĂN T, sinh năm 1994.
Trú tại: Thôn Ph - xã N - huyệ n Th - tỉnh B. Vắ ng mặ t tạ i phiên tò a.
* Ngườ i có quyề n lợ i, nghĩa vụ liên quan đến vụ án:
1. Bà NGUYỄ N THỊ H, sinh năm 1966.
Trú tại: Thôn T - xã Gi - huyệ n Th - tỉnh B. Vắ ng mặ t tạ i phiên tò a.
2. Anh HOÀNG KIM T, sinh năm 1994.
Trú tại: Thôn Ph - xã N - huyệ n Th - tỉnh B. Vắ ng mặ t tạ i phiên tò a.
* Ngườ i là m chứ ng:
1. Anh HỒ ĐỨ C T, sinh năm 1979.
Trú tại: Số nhà 36, ngõ 425 - khu 10 - phườ ng Đ - thành phố B - tỉnh B. Vắ ng mặ t tạ i phiên tò a.
2. Anh NGUYỄ N VĂN D, sinh năm 1989.
Trú tại: Thôn Ph - xã N - huyệ n Th - tỉnh B. Vắ ng mặ t tạ i phiên tò a.
NỘI DUNG CỦA VỤ ÁN
Theo các T3 liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 16 giờ 00 phút ngày 18/7/2014, lực lượng Công an huyện Thuận Thành bắt quả tang tại quán nước của Đặng Gia Q ở thôn Tam Á - xã Gia Đông - huyện Thuận Thành - tỉnh Bắc Ninh một vụ đánh bạc bằng hình thức bắn cá điện tử được thua bằng tiền, bắt giữ các đối tượng: Đặng Gia Q, Hoàng Văn T, Hoàng Kim T và thu giữ vật chứng gồm : 02 máy bắn cá ; 01 chìa có tay cầm màu đỏ sử dụng máy bắn cá; 01 xích sắt dài 1,5 m; 02 khóa Việt Tiệp; 01 chìa khóa; 01 quyể n vở ô ly bên trong có chữ ký củ a Đặng Gia Q và số tiền 300.000 đồng. Ngoài ra, Đặng Gia Q tự giá c giao nộ p số tiề n 705.000 đồ ng; Hoàng Kim T tự giá c giao nộ p số tiề n 10.000 đồ ng.
Quá trình điều tra xác định: Vào khoảng tháng 4/2014, Nguyễn Huy C thỏa thuận với Đặng Gia Q sẽ đặt 02 máy đành bạc bằng hình thức bắn cá trên máy điện tử tại quán nước của Q và giao cho Q quản lý cho các đối tượng đến đánh bạc trên máy bắn cá. Q trực tiếp trả tiền được thua cho người chơi và thanh toán với C vào cuối tháng, cứ 1.000 điểm tương đương với 100.000 đồng. Khi chốt điểm trên máy là số (+) thì thắng C chia cho Q một nửa, nếu là số (-) thì thua C phải chịu cả.
Lúc 18 giờ 00 phút ngày 17/7/2014, Hoàng Văn T và Nguyễn Văn D đến quán nước của Q, T thấy có máy bắn cá thì bảo Q cho chơi, Q đồng ý và nói cho T biết về hình thức và quy định chơi. Quá trình chơi, T mua điểm bằng tiền mặt và được Q nạp cho có lần 500 điểm, có lần 1.000 điểm, có lần 2.000 điểm, có lần 5.000 điểm. Trong khi T chơi thì D ngồi xem đến 20 giờ 30 phút cùng ngày thì đi về trước, một lúc sau thì có Cao Tiến Ch, Nguyễn Đức T, Nguyễn Hữu C và Nguyễn Trọng A lần lượt đến quán của Q ngồi uống nước. T tiếp tục đánh bạc đến 23 giờ 30 phút cùng ngày thì thua hết số tiền đem theo là 2.950.000 đồng, Q không cho T chơi nữa đồng thời yêu cầu T phải trả số tiền 5.500.000 đồng mà T đã vay của Q từ trước đó. Do T không có tiền trả nên Q giữ T lại và yêu cầu T gọi điện thoại nói người nhà đem tiền đến trả thì mới cho về.
Đến 00 giờ 00 phút ngày 18/7/2014, T không gọi được ai đem tiền đến trả thì Q không chờ nữa mà mời Ch, T1, C, A đi uống bia và hát karaoke rồi đưa T cùng đi theo. Sau khi uống bia, hát karaoke xong Q nhờ Ch và C đưa T về nhà C để trông giữ đến khoảng 05 giờ 30 phút cùng ngày thì Ch và C đưa T ra quán của Q. Tại đây, thấy Q có một mình sợ T bỏ đi nên C đưa ra ý kiến xích T bằng xích sắt để cho T không bỏ trốn được, Q và Ch không ngăn cản mà đồng tình với C. C đã lấy 01 xích sắt cạnh giá để hàng và 02 khóa Việt Tiệp gần đó xích một đầu vào chân giá sắt rồi khóa bằng khóa Việt Tiệp màu vàng có chốt ngang, đầu còn lại C quấn vào cổ T rồi khóa bằng khóa Việt Tiệp màu đen có móc treo. T ngăn cản thì bị C dùng tay tát 01 cái vào đầu làm cho T sợ và ngồi im để cho C xích. Khi xích T xong C và Ch đi về, C đưa chìa khóa cho Ch giữ để rồi sau đó Ch ra mở khóa cho T. Trong khi bị giữ T có gọi điện gọi cho Hồ Đức T biết việc nợ tiền của Q và nhờ T3 đến giúp đỡ, T3 đến quán của Q và thấy T đang trong tình trạng bị xích, T3 xin Q thả T nhưng do T3 không có tiền trả cho Q nên Q không đồng ý thả cho T về. Sau khi được Ch mở xích, T bị Q trông giữ đến khi ăn cơm trưa Q tiếp tục bị Q xích chân lại vào giá sắt để hàng đến khi ăn cơm xong thì Q mở khóa cho T.
Khoảng 10 giờ 00 phút cùng ngày, Hoàng Kim T đến quán của Q và đánh bạc trên máy bắn cá. T2 có 300.000 đồng mua 3.000 điểm và bảo Q nạp vào 02 máy bắn cá, T2 có nhờ T chơi hộ trên 01 máy, còn T2 chơi trên một máy. Các đối tượng đánh bạc đến 17 giờ cùng ngày thì bị lực lượng Công an huyện Thuận Thành phát hiện bắt quả tang và thu giữ tang vật như đã nêu trên.
Cáo trạng số: 56/CTr-VKS ngày 11/10/2014 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Thuận Thành đã truy tố bị cáo Đặng Gia Q về các tội “Giữ ngườ i trá i phá p luậ t” và “Đá nh bạ c” theo quy định tại khoản 1 Điều 123 và khoản 1 Điề u 248 Bộ luật hình sự năm 1999; truy tố các bị cáo: Nguyễn Hữ u C (tên gọ i khá c: B) và Cao Tiế n Ch về tộ i “Giữ ngườ i trá i phá p luậ t” theo quy đị nh tạ i khoả n 1 Điề u 123 Bộ luậ t hì nh sự năm 1999; truy tố cá c bị cá o : Hoàng Văn T và Nguyễ n Huy C về tộ i “Đá nh bạ c” theo quy đị nh tạ i khoả n 1 Điề u 248 Bộ luậ t hì nh sự năm 1999.
Tại phiên tòa bị cáo Đặng Gia Q khai nhận: Do hám lợi nên bị cáo đồng ý để bị cáo Nguyễn Huy C đặt 02 máy bắn cá tại quán nước của bị cáo từ tháng 4 năm 2014. Khoảng 18 giờ 00 phút ngày 17/7/2014 có Hoàng Văn T và Nguyễn Văn D đến quán nước của bị cáo, thấy có máy bắn cá nên T hỏi bị cáo cho chơi thì được bị cáo đồng ý. Trong khi T ngồi chơi thì D ngồi xem một lúc thì bỏ đi về, chơi đến khoảng 23 giờ 30 phút thì T thua hết số tiền 2.950.000 đồng mang theo nên không chơi nữa. Vì trước đó T còn vay nợ bị cáo số tiền 5.500.000 đồng nên bị cáo không cho T về và yêu cầu T gọi điện cho người nhà đem tiền lên trả. Đến khoảng 00 giờ 00 phút ngày 18/7/2014, T không gọi được ai đem tiền lên trả nên bị cáo không chờ nữa mà mời Cao Tiến Ch, Nguyễn Đức T, Nguyễn Hữu C và Nguyễn Trọng A là người cùng thôn với bị cáo đã đến quán của bị cáo từ trước đó đi uống bia, hát karaoke rồi đưa T đi cùng. Sau khi uống bia, hát karaoke xong bị cáo có nhờ C và Ch đưa T về nhà C để trông giữ. Sáng cùng ngày, C và Ch đưa T ra lại quán nước của bị cáo rồi dùng xích sắt xích T lại để T không bỏ trốn được, T có ngăn cản thì bị C tát 01 cái vào đầu. Khi bị cáo mở cửa quán thì Ch mở xích cho T, nhưng đến buổi trưa khi ăn cơm thì bị cáo lại tiếp tục dùng xích sắt T lại, ăn cơm xong bị cáo mở khóa cho T và tiếp tục trông giữ đến khi bị lực lượng Công an huyện Thuận Thành phát hiện bắt quả tang.
Bị cáo Nguyễ n Huy C khai nhậ n: Vào khoảng tháng 4/2014 bị cáo có thỏa thuận với Đặng Gia Q để đặt 02 máy bắn cá tại quán nước của Q và giao cho Q quản lý để cho các đối tượng đến đánh bạc, Q trả tiền được thua cho mọi người và thanh toán với bị cáo vào cuối tháng. Quá trình đặt máy bắn cá đến trước khi bị lực lượng Công an huyện Thuận Thành bắt quả tang bị cáo đã thanh toán với Q 02 lần vào tháng 5 và tháng 6/2014 nhưng đều bị thua.
Các bị cáo: Nguyễ n Hữ u C và Cao Tiến Ch đều khai nhận: Khoảng 21 giờ 30 phút ngày 17/7/2014 các bị cáo có đến quán nước của Đặng Gia Q ngồi chơi và được Q rủ đi uống bia, hát karaoke. Sau đó, Q có nhờ các bị cáo đưa Hoàng Văn T về nhà bị cáo C để trong giữ vì trước đó T có vay tiền của Q nhưng chưa trả nên các bị cáo đồng ý đưa T về nhà bị cáo C trông giữ và ngủ. Đến 05 giờ 30 phút ngày 18/7/2018, các bị cáo đưa T ra lại quán của Q để giao lại cho Q và dùng xích sắt xích T lại để không cho T bỏ trốn, khi T có hành động ngăn cản thì bị cáo C dùng tay tát 01 cái vào đầu T làm T sợ ngồi im để cho xích.
Cũng tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thuận Thành vẫn giữ nguyên quyết định truy tố đối với các bị cáo: Đặng Gia Q , Hoàng Văn T , Nguyễ n Huy C , Nguyễ n Hữ u C (tên gọ i khá c : B) và Cao Tiến Ch. Đồng thời đề nghị Hội đồng xét xử đì nh chỉ vụ á n đố i vớ i tộ i “Đá nh bạ c” do có sự sử a đổ i , bổ sung, thay đổ i chí nh sá ch phá p luậ t nên hà nh vi “Đá nh bạ c” của các bị cáo : Đặng Gia Q, Hoàng Văn T và Nguyễ n Huy C không cấ u thà nh tộ i phạ m cũ ng như không còn nguy hiểm cho xã hội nữa . Tuyên bố các bị cáo: Đặng Gia Q , Nguyễ n Hữ u C (tên gọ i khá c: B) và Cao Tiến Ch phạm tội “Giữ Ngườ i trá i phá p luậ t”.
Áp dụng điể m d khoả n 2 Điề u 2 Nghị quyết số : 41/2017/QH14 ngày 20/6/2017 của Quốc hội , khoản 3 Điề u 7 và Điều 29 Bộ luậ t hì nh sự . Miễ n trách nhiệ m hì nh sự , đình chỉ vụ án về tội “Đá nh bạ c” đố i vớ i cá c bị cá o : Đặng Gia Q, Hoàng Văn T và Nguyễ n Huy C.
Áp dụng khoản 1 Điề u 123; điể m h, p khoản 1 Điề u 46 và Điề u 60 Bộ luậ t hình sự năm 1999.
Xử phạ t bị cáo Đặng Gia Q từ 07 tháng đến 10 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thờ i gian thử thá ch là từ 14 tháng đến 20 tháng.
Áp dụng khoản 1 Điề u 123; điể m h, p khoả n 1, khoản 2 Điề u 46 và Điề u 60 Bộ luậ t hì nh sự năm 1999.
Xử phạt bị cáo Nguyễn Hữu C (tên gọ i khá c: B) từ 05 tháng đến 07 tháng tù nhưng cho hưở ng á n treo, thờ i gian thử thá ch là từ 12 tháng đến 14 tháng.
Xử phạ t bị cá o Cao Tiế n Ch từ 04. tháng đến 06 tháng tù nhưng cho hưởn g án treo, thờ i gian thử thá ch là 12 tháng.
Về vật chứng của vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử xem xét xử lý theo quy định của pháp luật.
Trong phần tranh luận, sau khi nghe đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thuận Thành công bố bản luận tội, các bị cáo không có tranh luận gì đối với phần luận tội của đại diện Viện kiểm sát. Riêng cá c bị cá o: Đặng Gia Q, Nguyễ n Hữ u C và Cao Tiến Ch chỉ đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt, đồ ng thờ i cho cá c bị cá o đượ c cả i tạ o tại địa phương.
Căn cứ vào các chứng cứ, tài liệu được thẩm tra tại phiên tòa; Căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ, ý kiến của đại diện Viện kiểm sát và các bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Về tố tụng: Quá trình giải quyết vụ án do bị cáo Hoàng Văn T bỏ trốn khỏi địa phương nên đã bị Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Thuận Thành truy nã. Đến nay, việc truy nã đối với bị cáo không có kết quả nên Hội đồng xét xử xem xét xét xử vắng mặt bị cáo theo quy định tại Điều 290 Bộ luật tố tụng hình sự.
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng và lời khai của các bị cáo tại phiên tòa hôm nay. Thể hiện: Khoảng tháng 4/2014, Nguyễn Huy C có thỏa thuận đặt 02 máy bắn cá tại quán nước của Đặng Gia Q ở thôn Tam Á - xã Gia Đông - huyện Thuận Thành - tỉnh Bắc Ninh và giao cho Q quản lý để cho các đối tượng đến tham gia đáng bạc được thua bằng tiền. Khi chốt điểm trên máy là số (+) thì thắng C sẽ chia cho Q một nửa số tiền thu được, còn điểm trên máy là số (-) thì thua C sẽ chịu hết.
Do ham mê cờ bạ c nên khoả ng 18 giờ 00 phút ngày 17/7/2014, Hoàng Văn T đã đến quán của Đặng Gia Q để tham gia đánh bạc trên máy bắn cá. Quy định chơi, cứ 100.000 đồng nạp được 1.000 điểm vào trong máy bắn cá của người chơi. T tham gia đánh bạc bằng hình thức bắn cá đến 23 giờ 30 phút cùng ngày thì bị thua hết số tiền mang theo là 2.950.000 đồng nên không chơi nữa. Nhưng vì trước đó T có vay của Q số tiền 5.500.000 đồng chưa trả được nên Q đã giữ T lại và yêu cầu T gọi điện cho người nhà đem tiền lên trả nợ thì Q mới cho T về. Quá trình giữ T, Q cùng với Nguyễn Hữu C và Cao Tiến Ch đã dùng xích sắt để xích không cho T bỏ trốn, T có ngăn cản thì bị C dùng tay tát 01 cái vào đầu làm cho T sợ ngồi im để cho xích. Đến khoảng 16 giờ 00 phút ngày 18/4/2014 khi Q và đồng bọn đang đánh bạc thì bị lực lượng Công an huyện Thuận Thành phát hiện bắt quả tang.
Như vậy, có đủ cơ sở kết luận hành vi của các bị cáo: Đặng Gia Q , Hoàng Văn T và Nguyễ n Huy C đã phạm tội “Đá nh bạ c” theo quy định tại khoản 1 Điề u 248 Bộ luậ t hì nh sự năm 1999. Hành vi của các bị cáo Đặng Gia Q, Nguyễ n Hữ u C và Cao Tiế n Ch đã phạm tội “Giữ ngườ i trá i phá p luậ t” theo quy định tại khoả n 1 Điề u 123 Bộ luậ t hì nh sự năm 1999. Như vậy, bản Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Thuận Thành truy tố các bị cáo với tội danh và điều luật như đã viện dẫn ở trên là hoàn toàn có cơ sở, đúng người, đúng tội và đúng theo quy định của pháp luật.
Đối với tội “Đá nh bạ c” của các bị cáo : Đặng Gia Q , Hoàng Văn T và Nguyễ n Huy C do ngà y 17/7/2014 xác định các bị cáo tham gia đá nh bạ c vớ i số tiề n 2.950.000 đồ ng. Theo quy đị nh tạ i khoản 1 Điề u 321 Bộ luậ t hì nh sự năm 2015 đượ c sử a đổ i , bổ sung năm 2017 (có hiệu lực thi hành từ ngày 01/01/2018) thì “Ngườ i nà o đá nh bạ c trá i phé p dưới bất kỳ hình thức nào được thua bằng tiền hay hiện vật trị giá từ 5.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng hoặc dưới 5.000.000 đồng nhưng đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi này hoặc hành vi quy định tại Điều 322 của Bộ luật này hoặc đã bị kết án về tội này hoặc tội quy định tại Điều 322 của Bộ luật này, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm, thì bị phạt tiền từ 20.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng, phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm”, theo hướ ng dẫ n tạ i điể m d khoả n 2 Điề u 2 Nghị quyết số : 41/2017/QH14 ngày 20/6/2014 của Quốc hội, khoản 3 Điề u 7 và Điều 29 Bộ luậ t hì nh sự năm 2015 thì các quy định có lợi cho người phạm tội đượ c thự c hiệ n theo Bộ luậ t hì nh sự năm 2015. Vì vậy, do có sự sử a đổ i , bổ sung, thay đổ i chí nh sá ch, pháp luật làm cho hành vi đánh bạc của các bị cáo : Q, T và C không cấ u thà nh tộ i phạ m và không cò n nguy hiể m cho xã hộ i nữ a nên cầ n miễ n trách nhiệm hình sự và đình chỉ vụ án về tội “Đá nh bạ c” đố i vớ i cá c bị cá o : Q, T và C. Do bị cáo T hiện nay đang bị truy nã theo Quyết định truy nã số: 04 ngày 13/5/2014 của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Thuận Thành nên Hội đồng xét xử yêu cầu Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Thuận Thành xem xét xử lý đối với trường hợp của bị cáo T theo quy định của pháp luật.
Đối với tộ i “Giữ ngườ i trá i phá p luậ t” cầ n xé t xử đố i vớ i cá c bị cá o : Đặng Gia Q, Nguyễ n Hữ u C và Cao Tiến Ch theo quy đị nh của pháp luật.
Đây là vụ á n đồ ng phạ m nhưng chỉ mang tí nh chấ t đồ ng phạ m giả n đơn . Tuy cá c bị cá o cù ng nhau thự c hiệ n hà nh vi phạ m tộ i, nhưng cá c bị cá o không có sự bàn bạc, phân công vai trò và nhiệ m vụ cụ thể đố i v ới từng bị cáo . Xong hành vi phạm tội của các bị cáo là nghiêm trọng và nguy hiểm cho xã hội, không những trực tiếp xâm phạm đến quyền bấ t khả xâm phạ m về thân thể củ a công dân được pháp luật bảo vệ mà còn làm ảnh hưởng xấu đến trật tự trị an xã hội, gây hoang mang trong quần chúng nhân dân ở địa phương. Trong vụ á n nà y, bị cáo Đặng Gia Q giữ vai trò chí nh khi là ngườ i khở i xướ ng và trự c tiế p giữ ngườ i bị hạ i ở lạ i quá n của mình, còn các bị cáo: Nguyễ n Hữ u C và Cao Tiế n Ch tham gia với vai trò đồng phạm giúp sức, trực tiếp thực hiện hành vi phạm tội. Do đó , cần phải áp dụng một mứ c hình phạt tương xứng với hành vi phạ m tộ i , vai trò tham gia trong vụ á n và hậ u quả do hà nh vi phạ m tộ i của từng bị cáo gây ra.
Xét về nhân thân, các tình tiết tăng nặng cũng như giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo. Hội đồng xét xử thấy rằng:
Đối với bị cáo Đặng Gia Q vào năm 2007 đã bị Công an huyệ n Thuậ n Thà nh xử phạ t hà nh chí nh về hà nh vi “Đá nh nhau” nhưng bị cá o không lấy đó làm bài học cho bản thân để tu dưỡng, rèn luyện thành người công dân có ích cho xã hội mà lại cố ý thực hiện hành vi phạm tội. Tuy nhiên, cũng cần xem xét bị cáo không có tiền án, tiền sự, phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng. Quá trình điều tra cũng như tại phiên toà hôm nay, bị cáo đã thành khẩn khai báo đồng thời tỏ rõ thái độ ăn năn hối cải. Đây là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại các điểm h, p khoản 1 Điều 46 Bộ luật hình sự năm 1999. Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo khi lượng hình để thể hiện sự khoan hồng của pháp luật xã hội chủ nghĩa.
Đối với các bị cáo : Nguyễ n Hữ u C và Cao Tiến Ch đều có nhân thân tốt , chưa có tiề n á n, tiề n sự , phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng. Sau khi thự c hiệ n hà nh vi phạ m tộ i đã tự nguyệ n ra đầ u thú khai bá o về hà nh vi phạ m tộ i của mình . Quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa hôm nay , các bị cáo đều đã thành khẩn khai báo đồng thời tỏ rõ thái đọ ăn năn hối cải. Đây là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại các điểm h, p khoản 1, khoản 2 Điều 46 Bộ luật hình sự năm 1999. Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt cho các bị cáo khi lượng hình để các bị cáo thấy được sự khoan hồng của pháp luật xã hội chủ nghĩa. Ngoài ra, bị cáo Nguyễn Hữu C còn có thời gian tham gia quân ngũ xây dựng và bảo vệ tổ quốc nên cần tiếp tục xem xét áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 2 Điều 46 Bộ luật hình sự năm 1999 để giảm nhẹ một phần hình phạt nữa cho bị cáo.
Từ những phân tích và nhận định nêu trên, Hội đồng xét xử xét thấy: Không cần thiết phải cách ly các bị cáo ra khỏi đời sống xã hội mà cho các bị cáo được cải tạo tại địa phương cũng đủ tác dụng giáo dục đối với các bị cáo và răn đe, phòng ngừa chung.
Ngoài hình phạt chính, tại khoản 4 Điều 123 Bộ luật hình sự năm 1999 còn quy định có thể áp dụng hình phạt bổ sung cấm đảm nhiệm chức vụ nhất định đối với người phạm tội đối. Xong xét thấy, các bị cáo đều làm ruộng, không đảm nhiệm chưc vụ trong các cơ quan có thẩm quyền nên miễn áp dụng hình phạt bổ sung cho bị cáo.
Đối với hành vi đánh bạc của các bị cáo: Đặng Gia Q, Hoàng Văn T và Nguyễn Huy C do không bị xử lý về hình sự nên Hội đồng xét xử kiến nghị Công an huyện Thuận Thành xem xét xử lý theo quy định của pháp luật.
Trong vụ án này, khi bị bắ t quả tang còn có Hoàng Kim T tham gia đá nh bạ c. Do hành vi “Đá nh bạ c” của Tuyến chưa tớ i mứ c truy cứ u trá ch nhiệ m hì nh sự nên Công an huyệ n Thuậ n Thà nh đã ra Quyế t đị nh xử phạ t hà nh chí nh đố i vớ i Tuyế n là có căn cứ.
Đối với Nguyễn Văn D là người cùng Hoàng Văn T đến quán của bị cáo Đặng Gia Q và biết việc T tham gia đá nh bạ c, Nguyễ n Xuân H đượ c bị cá o Q trả nợ số tiề n 1.500.000 đồ ng trong tổ ng số tiề n 2.950.000 đồ ng mà bị cáo Q thu đượ c từ việ c đá nh bạ c , Nguyễ n Trọ ng A và Nguyễn Đức T cùng đi uố ng bia cũ ng như đi hát karaoke vớ i bị cá o Q cùng đồng bọn, Ngô Thị Ng là vợ của bị cáo Đặng Gia Q biế t việ c T đá nh bạ c trên má y bắ n cá và bị giữ lạ i . Quá trình điều tra đã xác định: D chỉ ngồi xem T đá nh bạ c chứ không tham gia đá nh bạ c , H không biế t số tiề n mà bị cáo Q trả là do phạm tội mà có , A và T2 không tham gia và không biế t bị cá o Q cùng đồng bọn giữ T , Ng không tham gia cũ ng như không biế t việ c bị cáo Q cùng đồ ng bọ n xí ch T . Do đó , Cơ quan cả nh sá t Điề u tra Công an huyệ n Thuậ n Thà nh không xem xé t xử lý đố i vớ i: D, H, A, T2 và Ng là phù hợp.
Ngoài ra, trong vụ á n nà y còn có anh Hồ Đứ c T và anh Nguyễ n Văn D biế t việ c Hoàng Văn T bị các bị cáo : Đặng Gia Q, Nguyễ n Hữ u C và Cao Tiến Ch giữ tại quán của Q. Tại phiên tòa hôm nay, anh T3 và anh D vắng mặt nhưng quá trình điều tra đã có đầy đủ lời khai có trong hồ sơ vụ án. Vì vậy, việc đưa anh T3 và anh D vào làm người tham gia tố tụng khác trong vụ án với tư cách là người làm chứng là có cơ sở, đúng theo quy định.
Về trách nhiệm dân sự: Quá trình giải quyết vụ án , bà Nguyễn Thị H là mẹ của bị cáo Đặng Gia Q đã tự nguyệ n nộ p thay cho bị cá o số tiề n 2.245.000 đồ ng. Số tiề n đã nộ p nà y đượ c bà H xác định là số tiền tang vật mà bị cáo Q đã thu lời trong vụ á n “Đá nh bạ c”, bà H nộ p thay cho b ị cáo Q để sung quỹ Nhà nước . Tại phiên tòa hôm nay , bà H đã có đơn đề nghị Tò a á n xé t xử vắ ng mặ t và không yêu cầu bị cáo Q phải trả lại cho bà số tiền nêu trên. Xét thấy, đây là sự tự nguyện của đương sự nên Hội đồng xét xử không đề cập xem xét.
Do Hoàng Văn T vừ a là bị cá o đồ ng thờ i là ngườ i bị hạ i trong vụ á n vắ ng
mặ t tạ i phiên tò a nên Hộ i đồ ng xé t xử không xem xé t giả i quyế t việ c bồ i thườ ng trong vụ á n nà y. Nế u sau nà y Hoàng Văn T có yêu cầ u thì có quyề n khở i kiệ n bằ ng mộ t vụ á n dân sự khá c.
Về vật chứng của vụ án: Quá trình điều tra Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyệ n Thuậ n Thà nh đã thu giữ : 02 máy bắn cá; 01 chìa có tay cầm màu đỏ sử dụ ng má y bắ n cá; 01 xích sắt dài 1,5 m; 02 khóa Việt Tiệp ; 01 chìa khóa; 01 quyể n vở ô ly bên trong có chữ ký củ a Đặng Gia Q và số tiền 300.000 đồng. Ngoài ra, Đặng Gia Q tự giá c giao nộ p số tiề n 705.000 đồ ng; Hoàng Kim T tự giá c giao nộ p số tiề n 10.000 đồ ng; Nguyễ n Huy C tự giá c giao nộ p 01 chìa có tay cầm màu đen sử dụ ng má y bắ n cá và bà Nguyễ n Thị H tự nguyện giao nộ p số tiề n 2.245.000 đồ ng.
Đối với 02 máy bắn cá; 02 chìa khóa (01 chiế c có tay cầ m mà u đỏ , 01 chiế c có tay cầm màu đen dùng để sử dụng máy bắn cá ) là vật chứng liên quan đến hành vi “Đánh bạc” vẫn còn giá trị sử dụng nên tịch thu sung quỹ Nhà nước.
Đối với số tiề n 300.000 đồ ng đượ c xá c đị nh là tiề n mà Hoà ng Kim T dùng để sử dụ ng và o việ c đá nh bạ c nên cầ n tị ch thu sung quỹ Nhà nướ c.
Đối với số tiề n 705.000 đồ ng mà Đặng Gia Q tự giá c giao nộ p cũ ng như số tiề n 2.245.000 đồ ng mà bà Nguyễ n Thị H tự nguyện giao nộ p. Số tiền này được xác đị nh là số tiề n tang vậ t mà Hoàng Văn T dùng để sử dụng đánh bạc vào ngày 17/7/2014 nên cầ n tị ch thu sung quỹ Nhà nướ c.
Đối với 01 xích sắt dài 1,5 m; 02 khóa Việt Tiệp; 01 chìa khóa được xác định là vậ t chứ ng liên quan đế n hà nh vi phạ m tộ i củ a cá c bị cá o không có giá trị sử dụ ng nên cầ n tị ch thu, tiêu hủ y.
Đối với 01 quyể n vở ô ly bên trong có chữ ký củ a Đặng Gia Q và số tiền 10.000 đồng của Hoàng Kim T tự giá c giao nộ p. Quá trình điều tra đã xác định là tài sản hợp pháp của Q và T4 không liên quan đế n hà nh vi phạ m tộ i nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyệ n Thuậ n Thà nh đã trả lạ i cho Q và T4 là đúng theo quy định của pháp luật. Do đó, Hội đồng xét xử không đề cập xem xét.
Về án phí: Do cá c bị cá o : Đặng Gia Q, Hoàng Văn T và Nguyễ n Huy C đượ c miễ n trá ch nhiệ m hì nh sự và đì nh chỉ vụ á n về tộ i
“Đá nh bạ c” nên không phải chịu án phí hình sự sơ th ẩm. Các bị cáo: Đặng Gia Q, Nguyễ n Hữ u C và Cao Tiế n Ch phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật về tộ i “Giữ ngườ i trá i phá p luậ t”.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ điể m d khoả n 2 Điề u 2 Nghị quyết số 41/2017/QH14 ngày 20/6/2017 của Quốc hội; khoản 3 Điề u 7 và Điều 29 Bộ luậ t hì nh sự .
Miễ n trá ch nhiệ m hì nh sự , đình chỉ vụ án về tội “Đá nh bạ c” đố i vớ i cá c bị cáo: Đặng Gia Q, Hoàng Văn T và Nguyễ n Huy C.
Tuyên bố các bị cáo: Đặng Gia Q , Nguyễ n Hữ u C (tên gọ i khá c : B) và Cao Tiế n Ch phạm tội “Giữ ngườ i trá i phá p luậ t”.
Căn cứ khoản 1 Điều 123; điểm h, p khoản 1 Điều 46 và Điều 60 Bộ luật hình sự năm 1999.
Xử phạt bị cáo Đặng Gia Q 07 (Bảy) tháng tù nhưng cho hưở ng á n treo , thờ i gian thử thá ch là 14 (Mười bốn) tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.
Căn cứ khoản 1 Điều 123; điểm h, p khoản 1, khoản 2 Điều 46 và Điều 60 Bộ luật hình sự năm 1999.
Xử phạt bị cáo Nguyễ n Hữ u C 06 (Sáu) tháng tù nhưng cho hưở ng á n treo, thờ i gian thử thá ch là 12 (Mười hai) tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.
Xử phạt bị cáo Cao Tiế n Ch 05 (Năm) tháng tù nhưng cho hưở ng á n treo , thờ i gian thử thá ch là 12 (Mười hai) tháng tính từ ngà y tuyên á n sơ thẩ m.
Giao cá c bị cáo : Đặng Gia Q , Nguyễ n Hữ u C và Cao Tiến Ch cho Ủy ban nhân dân xã Gi - huyện Th - tỉnh B giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.
Trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo khoản 1 Điều 69 Luật thi hành án hình sự.
Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 (Hai) lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.
Về vật chứng của vụ án: Áp dụng Điều 41 Bộ luật hình sự năm 1999 và Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.
Tịch thu sung quỹ Nhà nước 02 (Hai) máy bắn cá ; 02 (Hai) chìa khóa sử dung má y bắ n cá (01 (Mộ t) chiế c có tay cầ m mà u đỏ , 01 (Mộ t) chiế c có tay cầ m màu đen) và số tiền 3.250.000 (Ba triệu hai trăm năm mươi nghì n ) đồng. Tịch thu, tiêu hủy 01 (Mộ t) xích sắt dài 1,5 m; 02 (Hai) khóa Việt Tiệp và 01 (Mộ t) chìa khóa (Theo như biên bản giao, nhận vật chứng ngày 24/10/2014 giữa Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Thuận Thành với Chi cục Thi hành án dân sự huyện Thuận Thành).
Về án phí: Áp dụng Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự và Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Buộc các bị cáo: Đặng Gia Q , Nguyễ n Hữ u C và Cao Tiến Ch mỗi bị cáo phải nộp 200.000 (Hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.
Các bị cáo có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 (Mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án.
Riêng bị cá o, ngườ i bị hạ i và người có quyền lợi , nghĩa vụ liên quan đến vụ án vắ ng mặ t tạ i phiên tò a được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 (Mười lăm) ngày kể từ ngày nhận được tống đạt bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Bắc Ninh; - VKSND huyện Thuận Thành; - CA huyện Thuận Thành; - Chi cục THADS huyện Thuận Thành; - Các bị cáo; - Những người tham gia tố tụng khác; - Lưu hồ sơ. | THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (Đã ký) Nguyễn Huy Tuấn |