vanban.org

Bản án 28/2019/HS-ST — Hình sự

TAND TX. Bình Long, tỉnh Bình Phước Tuyên án 12/07/2019 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo Lê Văn H, Lê Văn T phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

Xử phạt bị cáo Lê Văn H 01 (một) năm tù, thời gian chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 17 tháng 4 năm 2019. Xử phạt bị cáo Lê Văn T 01 (một) năm tù, thời gian chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 17 tháng 4 năm 2019. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Lê Văn H và Lê Văn T phạm tội "Trộm cắp tài sản" - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Lê Văn H, Lê Văn T phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
  • Căn cứ chính? Điều 173 Bộ luật Hình sự; Điều 23 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 292 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THỊ XÃ BÌNH LONG
TỈNH BÌNH PHƯỚC

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 28/2019/HS-ST
Ngày 12 tháng 7 năm 2019

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ BÌNH LONG, TỈNH BÌNH PHƯỚC

Với Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên tòa: Bà Trần Thị Yến;

Hội thẩm nhân dân: Ông Phạm Mạnh Biện và ông Nguyễn Thanh Minh;

Thư ký phiên tòa: Bà Phạm Tân Huyền, Thư ký Tòa án nhân dân thị xã Bình Long, tỉnh Bình Phước

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Bình Long, tỉnh Bình Phước tham gia phiên toà: Bà Đỗ Thị Minh Dung - Kiểm sát viên.

Ngày 12 tháng 7 năm 2019 Toà án nhân dân thị xã Bình Long, tỉnh Bình Phước xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 32/2019/TLST-HS ngày 21 tháng 6 năm 2019 theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 31/2019/QĐXX-ST ngày 26 tháng 6 năm 2019 đối với bị cáo:

1. Họ và tên: Lê Văn H; Giới tính: Nam, sinh năm 1982. Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: Tổ 3 ấp TT, xã TP, thị xã BL, tỉnh Bình Phước. Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không. Trình độ học vấn: 7/12; Nghề nghiệp: Thợ hồ. Bị cáo có một con tên Lê Quốc B, sinh năm 2008, vợ tên Lương Thị Mỹ Ph, sinh năm 1988, đã ly hôn năm 2015. Con ông Lê Văn Kh (đã chết) và bà Nguyễn Thị Kim Th, sinh năm 1952, nghề nghiệp: Công nhân hưu trí. Bị cáo là con thứ 2 trong gia đình, bị cáo có ba anh em ruột, lớn nhất sinh năm 1972, nhỏ nhất sinh năm 1988.

Tiền án: Không. Bị cáo có 2 tiền sự

- Ngày 11/10/2018 bị Chủ tịch Ủy ban nhân dân xã TP, thị xã BL, tỉnh Bình Phước áp dụng biện pháp giáo dục tại xã, phường, thị trấn theo quyết định số 139/QĐ-UBND.

- Ngày 04/01/2019 bị Tòa án nhân dân thị xã BL, tỉnh Bình Phước áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc, thời gian chấp hành tại cơ sở cai nghiện là 24 tháng theo quyết định số 03/QĐ-TA.

Ngày 17/4/2019 bị bắt tạm giam cho đến nay, bị cáo có mặt tại phiên tòa.

2. Họ và tên: Lê Văn T; Giới tính: Nam, sinh năm 1988. Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: Tổ 3 ấp TT, xã TP, thị xã BL, tỉnh Bình Phước. Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không. Trình độ học vấn: 7/12; Nghề nghiệp: Thợ hồ. Bị cáo có hai con tên Lê Anh K, sinh năm 2008 và Lê Khả N, sinh năm 2012, vợ tên Hoàng Thị Xuân H, sinh năm 1988, đã ly hôn năm 2018. Con ông Lê Văn Kh (đã chết) và bà Nguyễn Thị Kim Th, sinh năm 1952, nghề nghiệp: Công nhân hưu trí. Bị cáo là con út trong gia đình, bị cáo có hai anh ruột sinh năm 1972 và năm 1982, chị gái ruột sinh năm 1985.

Tiền án: Không. Bị cáo có 1 tiền sự: Ngày 05/12/2018 bị Công an xã TP, thị xã Bình Long, tỉnh Bình Phước xử phạt vi phạm hành chính về hành vi “Trộm cắp tài sản”, xử phạt số tiền 1.500.000 đồng theo quyết định số 32/QĐ-XPVPHC (chưa chấp hành).

Ngày 17/4/2019 bị bắt tạm giam cho đến nay, bị cáo có mặt tại phiên tòa.

- Bị hại: Chị Lương Thị H, sinh năm 1993 (xin xét xử vắng mặt)

Địa chỉ: Tổ 4 ấp TT, xã TL, thị xã BL, tỉnh Bình Phước

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo tài liệu hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 14 giờ ngày 01 tháng 3 năm 2019, Lê Văn H rủ em ruột tên Lê Văn T đi tìm tài sản để chiếm đoạt bán lấy tiền mua ma Ty sử dụng. T điều khiển xe mô tô Dream biển kiểm soát 93H3 - 0734 chở H đến khu vực xã Thanh Lương, thị xã Bình Long. Khi đi ngang nhà chị Lương Thị H phát hiện không có người trông coi. T và H nảy sinh ý định đột nhập, chiếm đoạt tài sản trong nhà chị H. T dừng xe cho H xuống đi bộ ra phía sau nhà, H dùng kìm bẻ khóa cửa, vào trong nhà lấy máy hấp dầu hiệu Kangli, máy sấy tóc, bếp ga, âm ly màu đen, bàn inox, hai máy duỗi tóc, máy bấm tóc, hộp đá trang trí, bộ dip nhúng, hai mươi chai sơn móng tay, bộ đồ làm móng tay, móng chân. H đem tài sản chiếm đoạt được đến bụi cây cách nhà chị H 150 mét cất giấu.

Sau khi cho H xuống xe, T điều khiển xe chạy đi khoảng 15 phút thì quay lại nhà chị H gặp H, T chở bếp gas và bàn inox về nhà, rồi quay lại chở máy hấp dầu, còn H đi bộ về nhà. Trên đường chở máy hấp dầu đi cất giấu, T bị anh Thân Văn H phát hiện. T vứt máy hấp dầu và điều khiển xe mô tô đến nhà cháu Nguyễn Thị Cẩm T tự để xe mô tô trong nhà rồi đi bộ về.

Kết luận định giá tài sản số 27/KL - HĐĐGTS ngày 27/3/2019 của Hội đồng định giá tài sản tố tụng hình sự thị xã Bình Long kết luận: Máy hấp dầu màu trắng hiệu Kangli trị giá 1.500.000 đồng, máy sấy tóc trị giá 200.000 đồng, bếp ga trị giá 400.000 đồng, âm ly trị giá 300.000 đồng, bàn inox trị giá 300.000 đồng, hai máy duỗi tóc trị giá: 300.000 đồng, máy bấm tóc trị giá 200.000 đồng, hộp đá trang trí trị giá 500.000 đồng, bộ dip nhúng trị giá 650.000 đồng, hai mươi chai sơn gel Haokou trị giá 1.600.000 đồng, bộ đồ làm móng tay, móng chân trị giá 2.500.000 đồng, tổng cộng 8.450.000 đồng.

Cáo trạng số 31/CTr - VKS ngày 21/6/2019 của Viện kiểm sát nhân dân thị xã Bình Long truy tố bị cáo Lê Văn H và Lê Văn T về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại Khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Bình Long giữ nguyên nội dung bản cáo trạng truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử: Căn cứ Khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự, tuyên bố bị cáo Lê Văn H, Lê Văn T phạm tội “Trộm cắp tài sản”. Căn cứ Điều 38; Điều 50; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự, xử phạt mỗi bị cáo từ 9 đến 12 tháng tù. Căn cứ Điều 47 Bộ luật hình sự và Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự đề nghị Hội đồng xét xử tịch thu tiêu hủy một cái kìm vỏ nhựa màu đỏ dài 20cm, tịch thu sung vào ngân sách nhà nước xe môtô kiểu dáng Dream, màu nâu, biển kiểm soát 93H3-0734, số máy 00044996, số khung RPHDCCAUM5H-044996.

Lời nói sau cùng của các bị cáo: Các bị cáo đã nhận thức được hành vi vi phạm pháp luật, các bị cáo cảm thấy rất ăn năn, hối hận về việc đã làm và xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt để bị cáo trở thành người công dân tốt.

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

. Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thị xã Bình Long, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thị xã Bình Long, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng.

Về sự vắng mặt của người bị hại: Ngày 02 tháng 7 năm 2019, chị Lương Thị H có đơn xin xét xử vắng mặt. Căn cứ Điều 292 Bộ luật tố tụng hình sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt chị Lương Thị H.

. Về lời khai nhận của các bị cáo: Xét thấy lời khai nhận của các bị cáo tại phiên tòa phù hợp lời khai của các bị cáo, bị hại trong quá trình điều tra và vật chứng được thu giữ cùng tài liệu, chứng cứ trong hồ sơ vụ án. Cụ thể, khoảng 14 giờ ngày 01 tháng 3 năm 2019, Lê Văn H và Lê Văn T đã có hành vi lén lút chiếm đoạt tài sản của chị Lương Thị H, trị giá 8.450.000 đồng. Từ căn cứ nêu trên xét thấy việc truy tố của Viện kiểm sát nhân dân thị xã Bình Long đối với các bị cáo là có căn cứ, đủ cơ sở kết luận bị cáo Lê Văn H và Lê Văn T phạm tội “Trộm cắp tài sản”, tội phạm và hình phạt được quy định tại Khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự.

. Hành vi phạm tội của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm trực tiếp đến quyền sở hữu về tài sản của chủ sở hữu được pháp luật bảo vệ, làm ảnh hưởng đến tình hình an ninh trật tự xã hội tại địa pH. Xét vai trò của các bị cáo trong vụ án, bị cáo Lê Văn H là người khởi xướng và trực tiếp thực hiện hành vi trộm cắp tài sản, bị cáo Lê Văn T người giúp sức thực hiện hành vi phạm tội nên giữ vai trò đồng phạm.

. Khi xem xét quyết định hình phạt, Hội đồng xét xử xem xét các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho các bị cáo. Tình tiết tăng nặng: Không. Tình tiết giảm nhẹ: Tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa các bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, tài sản đã thu hồi trả lại cho bị hại nên cần áp dụng Điểm s Khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự giảm nhẹ một phần hình phạt cho hai bị cáo.

. Về bồi thường thiệt hại: Chị Lương Thị H đã nhận lại tài sản, không yêu cầu bồi thường thiệt hại nên Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết.

. Về vật chứng của vụ án: Căn cứ Điều 47 Bộ luật hình sự và Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự tịch thu tiêu hủy một cái kìm vỏ nhựa màu đỏ dài 20cm, tịch thu sung vào ngân sách nhà nước xe môtô kiểu dáng Dream, màu nâu, biển kiểm soát 93H3-0734, số máy: 00044996, số khung RPHDCCAUM5H-044996.

Đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Bình Long tại phiên tòa về hình phạt đối với các bị cáo phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.

. Án phí hình sự sơ thẩm: Các bị cáo phải chịu theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Tuyên bố bị cáo Lê Văn H, Lê Văn T phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

Căn cứ Khoản 1 Điều 173; Điều 38; Điều 50; Điểm s Khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự.

Xử phạt bị cáo Lê Văn H 01 (một) năm tù, thời gian chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 17 tháng 4 năm 2019.

Căn cứ Khoản 1 Điều 173; Điều 38; Điều 50; Điểm s Khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự.

Xử phạt bị cáo Lê Văn T 01 (một) năm tù, thời gian chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 17 tháng 4 năm 2019.

Căn cứ Điều 47 Bộ luật hình sự và Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự tịch thu tiêu hủy một cái kìm vỏ nhựa màu đỏ dài 20cm, tịch thu sung vào ngân sách nhà nước xe môtô kiểu dáng Dream, màu nâu, biển kiểm soát 93H3-0734, số máy: 00044996, số khung RPHDCCAUM5H-044996. (Theo biên bản giao nhận vật chứng, tài sản số 0002591 ngày 25/6/2019 của Chi cục Thi hành án dân sự thị xã Bình Long).

Áp dụng Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

Án phí hình sự sơ thẩm: Bị cáo Lê Văn H, Lê Văn T mỗi người phải chịu 200.000 đồng.

Các bị cáo có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, bị hại vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc từ ngày bản án được niêm yết tại chính quyền địa pH, nơi cư trú.

Cỡ chữ