vanban.org

Bản án 28/2019/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Yên Dũng, tỉnh Bắc Giang Tuyên án 24/06/2019 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố: Bị cáo Đào Văn H phạm tội “Trộm cắp tài sản” và bị cáo Nguyễn Kim T phạm tội "Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có".

Áp dụng: Điểm g khoản 2 Điều 173; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự. Xử phạt: Bị cáo Đào Văn H 03 (ba) năm tù, thời hạn tù tính từ ngày 11/02/2019. Miễn hình phạt bổ sung cho bị cáo. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Bị cáo Đào Văn H phạm tội trộm cắp TS - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Đào Văn H phạm tội “Trộm cắp tài sản” và bị cáo Nguyễn Kim T phạm tội "Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có".
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN YÊN DŨNG
TỈNH BẮC GIANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 28/2019/HS-ST
Ngày 24-6-2019

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN YÊN DŨNG, TỈNH BẮC GIANG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Nguyễn Ngọc Oanh

Các hội thẩm nhân dân: 1. Ông Đào Xuân Thịnh

2. Bà Nguyễn Thị Tin

- Thư ký phiên toà: Bà Lương Thị Nhẫn, Thư ký Toà án nhân dân H3ện Yên Dũng, tỉnh Bắc Giang.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân H3ện Yên Dũng tham gia phiên toà: Bà Nguyễn Thị Quỳnh Mai, Kiểm sát viên.

Ngày 24 tháng 6 năm 2019 tại trụ sở Tòa án nhân dân Huyện Yên Dũng, tỉnh Bắc Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 24/2019/TLST-HS ngày 03 tháng 6 năm 2019 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 27/2019/QĐXXST-HS ngày 12 tháng 6 năm 2019 đối với các bị cáo:

1. Họ và tên: Đào Văn H, sinh năm 1991 tại xã X, Huyện Yên Dũng, tỉnh Bắc Giang. Tên gọi khác: Không.

Nơi ĐKHK và nơi ở: Thôn X, xã X, Huyện Yên Dũng, tỉnh Bắc Giang; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Tự do; trình độ văn hóa: 12/12; đảng, đoàn thể: Không; con ông Đào Văn Q, sinh năm 1969; con bà Nguyễn Thị M, sinh năm 1973; vợ, con: Chưa có;

Tiền án: Bản án số: 52/2011/HS-ST ngày 30/9/2011 của Tòa án nhân dân Huyện Yên Dũng, tỉnh Bắc Giang xử phạt Đào Văn H 09 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 18 tháng về tội “Trộm cắp tài sản”; Bản án số: 101/2015/HS-ST ngày 19/3/2015 của Tòa án nhân dân thành phố Bắc Ninh, tỉnh Bắc Ninh xử phạt Đào Văn H 30 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”; Bản án số: 132/2015/HS-ST của Tòa án nhân dân thành phố Bắc Giang, tỉnh Bắc Giang xử phạt Đào Văn H 02 năm tù về tội “Tàng trữ, vận chuyển trái phép chất ma túy”. Tổng hợp hình phạt với các Bản án số: 52/2011/HS-ST ngày 30/9/2011 của Tòa án nhân dân H3ện Yên Dũng, tỉnh Bắc Giang và bản án số: 101/2015/HS-ST ngày 19/3/2015 của Tòa án nhân dân thành phố Bắc Ninh, tỉnh Bắc Ninh buộc Đào Văn H pH1 chấp hành hình phạt chung là 05 năm 03 tháng tù được trừ thời gian 02 năm bị cáo đã chấp hành xong hình phạt theo bản án số: 43/2013/HS-ST ngày 06/3/2013 của Tòa án nhân dân thành phố Bắc Giang, tỉnh Bắc Giang, bị cáo chấp hành xong hình phạt tù vào ngày 13/02/2018. Tiền sự: Không.

Nhân thân: Ngày 24/7/2012 Đào Văn H bị Công an phường Trần Phú, thành phố Bắc Giang, tỉnh Bắc Giang xử phạt vi phạm hành chính về hành vi “Sử dụng trái phép chất ma túy”; Bản án số: 43/2013/HS-ST ngày 06/3/2013 của Tòa án nhân dân thành phố Bắc Giang, tỉnh Bắc Giang xử phạt Đào Văn H về tội “Tàng trữ, vận chuyển trái phép chất ma túy”, đã chấp hành xong hình phạt tù vào ngày 26/6/2014 (Bản án bị hủy theo Quyết định tái thẩm số: 01/2015/QĐ-UBTP ngày 08/5/2015).

Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 11/02/2019 đến nay, hiện đang tạm giam tại trại tạm giam Công an tỉnh Bắc Giang, có mặt tại phiên tòa.

2. Họ và tên: Nguyễn Kim Trọng, sinh năm 1983 tại xã X, Huyện Yên Dũng, tỉnh Bắc Giang. Tên gọi khác: Không.

Nơi ĐKHK và nơi ở: Thôn Đ, xã X, Huyện Yên Dũng, tỉnh Bắc Giang; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Tự do; trình độ văn hóa: 12/12; đảng, đoàn thể: Không; con ông Nguyễn Kim T, sinh năm 1950; con bà Thân Thị G, sinh năm 1955; vợ: Nguyễn Thị L, sinh năm 1987 (đã ly hôn); bị cáo có 02 con, con lớn sinh năm 2007, con nhỏ sinh năm 2011.

Tiền án: Bản án số 04/2016/HS-ST ngày 29/01/2016 của Tòa án nhân dân Huyện Yên Dũng, tỉnh Bắc Giang xử phạt Nguyễn Kim T15 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”, bị cáo chấp hành xong hình phạt tù ngày 12/12/2016; Bản án số: 36/2017/HS-ST ngày 04/7/2017 của Tòa án nhân dân Huyện Yên Dũng, tỉnh Bắc Giang xử phạt Nguyễn Kim T15 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”, bị cáo chấp hành xong hình phạt tù ngày 22/6/2018. Tiền sự: không.

Nhân thân: Ngày 15/12/2011, Nguyễn Kim T bị Công an phường Ngô Quyền, thành phố Bắc Giang, tỉnh Bắc Giang xử phạt vi phạm hành chính về hành vi “Sử dụng trái phép chất ma túy”; ngày 11/01/2011, Nguyễn Kim T bị Công an phường Mỹ Độ, thành phố Bắc Giang, tỉnh Bắc Giang xử phạt vi phạm hành chính về hành vi “Sử dụng trái phép chất ma túy”; ngày 29/5/2012, Nguyễn Kim T bị Chủ tịch Ủy ban nhân dân Huyện Yên Dũng ra Quyết định đưa đối tượng nghiện ma túy vào Trung tâm Giáo dục Lao động Xã hội tỉnh Bắc Giang trong thời gian 24 tháng; ngày 11/01/2010, Nguyễn Kim T bị Công an phường Mỹ Độ, thành phố Bắc Giang, tỉnh Bắc Giang xử phạt vi phạm hành chính về hành vi “Sử dụng trái phép chất ma túy”.

Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 12/02/2019 đến nay, hiện đang tạm giam tại trại tạm giam Công an tỉnh Bắc Giang, có mặt tại phiên tòa.

- Bị hại: Anh Trần Văn H1, sinh năm 1990; địa chỉ: Thôn Kem, xã Nham Sơn, Huyện Yên Dũng, tỉnh Bắc Giang (Vắng mặt).

- Những người có quyền lơi, nghĩa vụ liên quan:

+ Chị Phạm Thị Ngọc H2, sinh năm 1979; địa chỉ: Thôn Minh Phượng, xã Nham Sơn, Huyện Yên Dũng, tỉnh Bắc Giang (Vắng mặt).

+ Anh Đào Văn H3, sinh năm 1999; địa chỉ: Thôn Xuân Đông, xã Xuân Phú, Huyện Yên Dũng, tỉnh Bắc Giang (Vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Do không có tiền chi tiêu cá nhân nên ngày 06/02/2019, bị cáo Đào Văn H nảy sinh ý định đi đến khu vực Thiền viện Trúc lâm Phượng Hoàng ở xã Nham Sơn, Huyện Yên Dũng tìm xem có người nào sơ hở trong việc quản lý tài sản sẽ trộm cắp xe mô tô đem đi bán lấy tiền chi tiêu cá nhân.

Khoảng 10 giờ ngày 06/02/2019, bị cáo H mang theo bộ vam phá ổ khóa điện xe mô tô gồm 01 tay công số 8 và 01 thanh kim loại được mài nhọn một đầu rồi nhờ em trai là Đào Văn H3 chở đến khu vực TH2 viện. Khi đến khu vực sân của Thiền viện, H xuống xe đi bộ để tìm tài sản còn H3 đi về. H tìm kiếm xung quanh khu vực sân TH2 viện nhưng không thấy ai sơ hở để có thể trộm cắp xe mô tô nên H đi bộ xuống khu vực đường tỉnh lộ 398 hướng từ xã Nham Sơn đi thị trấn Neo để tiếp tục tìm xe mô tô trộm cắp. Khoảng 14 giờ cùng ngày, khi đi qua quán Internet của gia đình chị Phạm Thị Ngọc H2 thì H phát hiện thấy ở trước cửa quán có 01 chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda, loại xe Wave S, màu sơn trắng có BKS 98N6-8411 của anh Trần Văn H1 không có ai trông coi tài sản nên H đi đến, dùng bộ vam phá ổ khóa điện của xe mô tô rồi nổ máy điều khiển đi về xã Xuân Phú, Huyện Yên Dũng. Sau đó, H gọi điện thoại cho Nguyễn Kim T nhờ Tbán hộ chiếc xe mô tô và nói với Tlà “xe của thằng bạn nó nhẩy được” (ý nói là xe trộm cắp được). Tuy nhiên, do không có phương tiện đi lại nên T đã đặt vấn đề với H mua lại chiếc xe mô tô này. H đồng ý bán lại chiếc xe mô tô này cho T với giá 2.500.000 đồng. Khoảng 17 giờ cùng ngày, T đi đến khu vực cổng trường tiểu học xã Xuân Phú đưa cho H 2.500.000 đồng để mua lại chiếc xe mô tô BKS 98N6-8411, sau khi mua bán xong, H nói với T là đi về tháo biển kiểm soát xe ra để tránh bị phát hiện, hôm sau H sẽ đưa cho biển kiểm soát khác để lắp vào. T đã về nhà tháo biển kiểm soát xe mô tô rồi sơn lại chiếc xe thành màu đỏ. Sáng ngày 07/02/2019, H và T gặp nhau tại Trung tâm Y tế dự phòng Huyện Yên Dũng, H đưa cho T chiếc biển kiểm soát 98M9-7714 bảo Tlắp vào chiếc xe, T lấy chiếc biển kiểm soát H đưa lắp vào xe rồi đưa lại cho H chiếc biển kiểm soát 98N6-8411. Toàn bộ số tiền có được H đã sử dụng chi tiêu cá nhân hết.

Sau khi phát hiện bị kẻ gian trộm cắp mất xe mô tô, đến ngày 11/02/2019 anh H1 đã làm đơn trình báo Công an Huyện Yên Dũng. Ngày 11/02/2019, bị cáo Đào Văn H đến Công an Huyện Yên Dũng đầu thú, khai nhận hành vi phạm tội của bản thân và giao nộp 01 áo phông màu đen mặt trước có dòng chữ Gucci; 01 đôi giày nam màu đen, có nhiều họa tiết bằng kim loại gắn phía mũi giầy; 01 quần bò tối màu; 01 áo khoác da màu đen; 01 mũ lưỡi chai màu xám là trang phục H đã mặc hôm trộm cắp chiếc xe mô tô của anh H1.

Cơ quan điều tra Công an Huyện Yên Dũng đã tiến hành khám xét khẩn cấp nhà và nơi ở của Đào Văn H phát hiện và thu giữ: 01 tay công có chữ dập chìm HROME VANADIUM 8; 02 thanh kim loại một đầu hình lục giác và một đầu dẹt nhọn và 01 biển kiểm soát 98N6-8411. Ngày 12/02/2019, bị cáo Nguyễn Kim T đến Công an Huyện Yên Dũng đầu thú, khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của bản thân và giao nộp 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda, loại xe Wave S được gắn biển kiểm soát 98M9-7714.

Cơ quan điều tra Công an Huyện Yên Dũng đã ra yêu cầu định giá tài sản để xác định giá trị tài sản bị trộm cắp. Tại bản kết luận định giá số: 01/KL-ĐGTS ngày 14/02/2019 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự Huyện Yên Dũng kết luận 01 chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda, loại xe Wave S, BKS 98N6-8411 có giá trị là 5.548.000 đồng.

Tại cơ quan điều tra, bị cáo Đào Văn H và bị cáo Nguyễn Kim T thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội của mình như đã nêu trên.

Tại bản cáo trạng số: 31/CT-VKSYD ngày 31/5/2019 Viện kiểm sát nhân dân Huyện Yên Dũng đã truy tố bị cáo Đào Văn H về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại điểm g khoản 2 Điều 173- Bộ luật hình sự và bị cáo Nguyễn Kim T về tội "Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có" theo quy định tại điểm đ khoản 2 Điều 323- Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa hôm nay, các bị cáo thừa nhận cáo trạng của Viện kiểm sát truy tố là đúng người, đúng tội, các bị cáo không bị oan. Các bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo.

Bị hại là anh Trần Văn H1 vắng mặt tại phiên tòa nhưng các lời khai có trong hồ sơ thể hiện: Ngày 06/02/2018, anh có đến quán internet nhà chị H2 chơi thì bị kẻ gian trộm cắp mất chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda, loại xe Wave S, BKS 98N6-8411. Anh đã làm đơn trình báo Công an Huyện Yên Dũng và được biết bị cáo Đào Văn H đã trộm cắp chiếc xe mô tô của anh và bán lại cho bị cáo Nguyễn Kim Trọng. Nay anh đã nhận lại chiếc xe mô tô của mình và anh tự nguyện không yêu cầu các bị cáo pH1 bồi thường cho anh. Ngoài ra anh Trần Văn H1 không có ý kiến nào khác.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là chị Phạm Thị Ngọc H2 vắng mặt tại phiên tòa nhưng các lời khai có trong hồ sơ thể hiện: Chị có kinh doanh dịch vụ internet, ngày 06/02/2019, anh Trần Văn H1 có đến nhà chị để chơi game và có bị kẻ gian trộm cắp mất chiếc xe mô tô Honda Wave BKS 98N6-8411, chị đề nghị cơ quan cảnh sát điều tra làm rõ sự việc. Ngoài ra chị Phạm Thị Ngọc H2 không có ý kiến nào khác.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là anh Đào Văn H3 vắng mặt tại phiên tòa nhưng các lời khai có trong hồ sơ thể hiện: Ngày 06/02/2019, anh trai anh là bị cáo Đào Văn H có nhờ anh chở sang Thiền viện Trúc lâm Phượng Hoàng để có việc riêng. Anh đã đồng ý chở H sang nhưng anh không biết việc H sang đó có mục đích trộm cắp tài sản để bán lấy tiền chi tiêu. Ngoài ra anh Đào Văn H3 không có ý kiến nào khác.

Sau phần xét hỏi, tại phần tranh luận Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Huyện Yên Dũng đã phát biểu lời luận tội đối với các bị cáo, phân tích tính chất mức độ nguy hiểm của hành vi mà các bị cáo đã thực hiện, nhân thân các bị cáo, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của các bị cáo đã giữ nguyên quan điểm như Cáo trạng đã truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử:

Tuyên bố: Bị cáo Đào Văn H phạm tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại điểm g khoản 2 Điều 173- Bộ luật hình sự và bị cáo Nguyễn Kim T phạm tội "Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có" theo quy định tại điểm đ khoản 2 Điều 323- Bộ luật hình sự.

Áp dụng: Điểm g khoản 2 Điều 173; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự; Xử phạt: Bị cáo Đào Văn H từ 03 năm đến 03 năm 06 tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 11/02/2019. Miễn hình phạt bổ sung cho bị cáo.

Áp dụng: Điểm đ khoản 2 Điều 323; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự; Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Kim T từ 03 năm đến 03 năm 06 tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 12/02/2019. Miễn hình phạt bổ sung cho bị cáo.

Về vật chứng: Tịch thu tiêu hủy 01 áo phông màu đen mặt trước có dòng chữ Gucci; 01 đôi giày nam màu đen, có nhiều họa tiết bằng kim loại gắn phía mũi giầy; 01 quần bò tối màu; 01 áo khoác da màu đen; 01 mũ lưỡi chai màu xám; 01 tay công có chữ dập chìm HROME VANADIUM 8; 02 thanh kim loại một đầu hình lục giác và một đầu dẹt nhọn.

Về án phí: Bị cáo Đào Văn H và bị cáo Nguyễn Kim TpH1 chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Ngoài ra, đại diện VKSND Huyện Yên Dũng còn đề nghị tuyên quyền kháng cáo theo quy định.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại gì về hành vi và quyết định của những người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của những người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Trước cũng như tại phiên tòa hôm nay, các bị cáo khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như bản cáo trạng đã truy tố. Lời khai nhận tội của các bị cáo phù hợp với lời khai của bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, phù hợp với các tài liệu, chứng cứ mà cơ quan điều tra đã thu thập được thể hiện trong hồ sơ vụ án về thời gian, địa điểm và diễn biến của quá trình bị cáo thực hiện hành vi phạm tội. Hội đồng xét xử có đủ cơ sở để kết luận:

Khoảng 14 giờ ngày 06/02/2019, tại quán internet của chị Phạm Thị Ngọc H2 ở thôn Minh Phượng, xã Nham Sơn, Huyện Yên Dũng bị cáo Đào Văn H có hành vi trộm cắp 01 chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda, loại xe Wave S, BKS 98N6-8411 trị giá 5.548.000 đồng của anh Trần Văn H1. Sau đó, H nói cho Nguyễn Kim Tbiết là chiếc xe mô tô biển kiểm soát 98N6-8411 là do trộm cắp mà có. Do bản thân không có phương tiện đi lại nên Tđã mua chiếc xe mô tô biển kiểm soát 98N6-8411 của H với giá 2.500.000 đồng. Toàn bộ số tiền có được từ việc bán xe, H đã chi tiêu cá nhân hết. Cơ quan điều tra đã thu hồi tài sản trả lại cho bị hại.

Xét tính chất của vụ án: Vụ án này có 02 bị cáo phạm tội với lỗi cố ý, đây là vụ án đồng phạm nhưng có tính chất giản đơn. Hành vi phạm tội của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội đã trực tiếp xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của người khác được pháp luật bảo vệ, gây hoang mang trong quần chúng nhân dân, ảnh hưởng xấu đến trật tự trị an tại địa phương. Trị giá tài sản mà các bị cáo chiếm đoạt của bị hại là 5.548.000 đồng.

Xét vai trò phạm tội của từng bị cáo: Bị cáo Đào Văn H có vai trò chính bởi lẽ bị cáo là người trực tiếp trộm cắp chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda, loại xe Wave S, biển kiểm soát 98N6-8411. Bị cáo Nguyễn Kim Tcó vai trò đứng thứ hai trong vụ án khi đã tích cực nhận lời tiêu thụ tài sản mà H đã trộm cắp được.

Xét về tiền án và nhân thân của các bị cáo: Đối với bị cáo Đào Văn H đã nhiều lần bị xét xử nhiều hành vi phạm tội, cụ thể: Bản án số: 52/2011/HS-ST ngày 30/9/2011 của Tòa án nhân dân Huyện Yên Dũng, tỉnh Bắc Giang xử phạt Đào Văn H 09 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 18 tháng về tội “Trộm cắp tài sản”; Bản án số: 101/2015/HS-ST ngày 19/3/2015 của Tòa án nhân dân thành phố Bắc Ninh, tỉnh Bắc Ninh xử phạt Đào Văn H 30 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”; Bản án số: 132/2015/HS-ST của Tòa án nhân dân thành phố Bắc Giang, tỉnh Bắc Giang xử phạt Đào Văn H 02 năm tù về tội “Tàng trữ, vận cH3ển trái phép chất ma túy”. Tổng hợp hình phạt với các Bản án số: 52/2011/HS-ST ngày 30/9/2011 của Tòa án nhân dân H3ện Yên Dũng, tỉnh Bắc Giang và bản án số: 101/2015/HS-ST ngày 19/3/2015 của Tòa án nhân dân thành phố Bắc Ninh, tỉnh Bắc Ninh buộc Đào Văn H pH1 chấp hành hình phạt chung là 05 năm 03 tháng tù được trừ thời gian 02 năm bị cáo đã chấp hành xong hình phạt theo bản án số: 43/2013/HS-ST ngày 06/3/2013 của Tòa án nhân dân thành phố Bắc Giang, tỉnh Bắc Giang, bị cáo chấp hành xong hình phạt tù vào ngày 13/02/2018. Nhân thân: Ngày 24/7/2012 Đào Văn H bị Công an phường Trần Phú, thành phố Bắc Giang, tỉnh Bắc Giang xử phạt vi phạm hạnh chính về hành vi “Sử dụng trái phép chất ma túy”

; Bản án số : 43/2013/HS-ST ngày 06/3/2013 của Ṭ a án nhân dân thành phố Bắc Giang, tỉnh Bắc Giang xử phạt Đào Văn H về tội “Tàng trữ, vận chuyển trái phép chất ma túy”, đã chấp hành xong hình phạt tù vào ngày 26/6/2014 (Bản án bị hủy theo Quyết định tái thẩm số: 01/2015/QĐ-UBTP ngày 08/5/2015).

Đối với bị cáo Nguyễn Kim Tcũng đã hai lần bị xét xử về hành vi “Trộm cắp tài sản”, cụ thể: Bản án số 04/2016/HS-ST ngày 29/01/2016 của Tòa án nhân dân Huyện Yên Dũng, tỉnh Bắc Giang xử phạt Nguyễn Kim T15 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”, bị cáo chấp hành xong hình phạt tù ngày 12/12/2016; Bản án số: 36/2017/HS-ST ngày 04/7/2017 của Tòa án nhân dân Huyện Yên Dũng, tỉnh Bắc Giang xử phạt Nguyễn Kim T15 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”, bị cáo chấp hành xong hình phạt tù ngày 22/6/2018. Nhân thân: Ngày 15/12/2011, Nguyễn Kim Tbị Công an phường Ngô Quyền, thành phố Bắc Giang, tỉnh Bắc Giang xử phạt vi phạm hành chính về hành vi “Sử dụng trái phép chất ma túy”; ngày 11/01/2011, Nguyễn Kim T bị Công an phường Mỹ Độ, thành phố Bắc Giang, tỉnh Bắc Giang xử phạt vi phạm hành chính về hành vi “Sử dụng trái phép chất ma túy”; ngày 29/5/2012, Nguyễn Kim Tbị Chủ tịch Ủy ban nhân dân Huyện Yên Dũng ra Quyết định đưa đối tượng nghiện ma túy vào Trung tâm Giáo dục Lao động Xã hội tỉnh Bắc Giang trong thời gian 24 tháng; ngày 11/01/2010, Nguyễn Kim T bị Công an phường Mỹ Độ, thành phố Bắc Giang, tỉnh Bắc Giang xử phạt vi phạm hành chính về hành vi “Sử dụng trái phép chất ma túy”.

Xét thấy, các bị cáo là người có nhân thân xấu với nhiều lần trộm cắp tài sản và đã bị nhiều tòa án ở nhiều địa phương xét xử, các bị cáo đã có thời gian chấp hành án tại trại giam. Nhưng các bị cáo không lấy đó làm bài học kinh nghiệm mà trong thời gian ngắn bị cáo đã liên tiếp thực hiện nhiều hành vi phạm tội. Chứng tỏ bị cáo là đối tượng khó giáo dục nên cần có hình phạt nghiêm, tương xứng với hành vi phạm tội của bị cáo mới có tác dụng giáo dục riêng và phòng ngừa chung. Hành vi của các bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại điểm g khoản 2 Điều 173- Bộ luật hình sự và về tội "Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có" theo quy định tại điểm đ khoản 2 Điều 323- Bộ luật hình sự. Như vậy, cần pH1 áp dụng hình phạt tù có thời hạn, cách ly các bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian để cải tạo, giáo dục bị cáo trở thành người có ích cho xã hội như đại diện VKSND H3ện đã phát biểu về đường lối giải quyết vụ án.

Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Không có.

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa hôm nay các bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; sau khi vụ việc bị phát hiện cả hai bị cáo đã tự nguyện ra cơ quan điều tra đầu thú nên cần áp dụng điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự để giảm nhẹ một phần hình phạt cho các bị cáo khi quyết định hình phạt.

Về hình phạt bổ sung: Tội phạm do các bị cáo thực hiện, lẽ ra pH1 áp dụng hình phạt bổ sung là hình phạt tiền đối với các bị cáo. Tuy nhiên, HĐXX thấy các bị cáo không có nghề nghiệp và thu nhập ổn định, nên HĐXX không áp dụng hình phạt bổ sung là hình phạt tiền đối với các bị cáo.

Đối với Đào Văn H3 đã có hành vi chở bị cáo Đào Văn H sang khu vực Thiền viện Trúc lâm Phượng Hoàng. Tuy nhiên, H3 không biết mục đích H sang đó để trộm cắp tài sản bán lấy tiền chi nên cơ quan điều tra không xử lý đối với Đào Văn H3 là có căn cứ, Hội đồng xét xử thấy cần chấp nhận.

Về vật chứng của vụ án: Đối với 01 áo phông màu đen mặt trước có dòng chữ Gucci; 01 đôi giày nam màu đen, có nhiều họa tiết bằng kim loại gắn phía mũi giầy; 01 quần bò tối màu; 01 áo khoác da màu đen; 01 mũ lưỡi chai màu xám; 01 tay công có chữ dập chìm HROME VANADIUM 8; 02 thanh kim loại một đầu hình lục giác và một đầu dẹt nhọn là những vật chứng bị cáo đã sử dụng làm công cụ, phương tiện dùng vào việc phạm tội nên cần tịch thu tiêu hủy, Hội đồng xét xử xét thấy cần chấp nhận.

Về án phí: Bị cáo Đào Văn H và bị cáo Nguyễn Kim T phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Quyền kháng cáo: Bị cáo; bị hại; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan được quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Tuyên bố: Bị cáo Đào Văn H phạm tội “Trộm cắp tài sản” và bị cáo Nguyễn Kim T phạm tội "Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có".

Áp dụng: Điểm g khoản 2 Điều 173; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự.

Xử phạt: Bị cáo Đào Văn H 03 (ba) năm tù, thời hạn tù tính từ ngày 11/02/2019. Miễn hình phạt bổ sung cho bị cáo.

Áp dụng: Điểm đ khoản 2 Điều 323; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự.

Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Kim T 03 (ba) năm tù, thời hạn tù tính từ ngày 12/02/2019. Miễn hình phạt bổ sung cho bị cáo.

- Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự, Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.

Tịch thu tiêu hủy 01 áo phông màu đen mặt trước có dòng chữ Gucci; 01 đôi giày nam màu đen, có nhiều họa tiết bằng kim loại gắn phía mũi giầy; 01 quần bò tối màu; 01 áo khoác da màu đen; 01 mũ lưỡi chai màu xám; 01 tay công có chữ dập chìm HROME VANADIUM 8; 02 thanh kim loại một đầu hình lục giác và một đầu dẹt nhọn.

(Vật chứng của vụ án như trong Biên bản giao nhận vật chứng giữa cơ quan cảnh sát điều tra và Chi cục thi hành án dân sự H3ện Yên Dũng).

- Về án phí: Áp dụng Điều 135, 136 - BLTTHS và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội, quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Buộc các bị cáo Đào Văn H và Nguyễn Kim T mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đồng tiền án phí hình sự sơ thẩm.

- Về quyền kháng cáo: Căn cứ Điều 331, 332 và 333- BLTTHS

Án xử công khai sơ thẩm, báo cho các bị cáo có mặt biết có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người pH1 thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Cỡ chữ