- Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyẽn Văn T - phạm tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác (điều 134 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BL…"
- Tòa quyết gì? [1] Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 355 và Điều 356 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 134 Bộ luật Hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẾN TRE | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 28 /2019/HS-PT Ngày: 27-3-2019 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẾN TRE
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Phạm Văn Tỉnh
Các Thẩm phán: Ông Bùi Thế Xương
Ông Nguyễn Thế Hồng
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Như Sương – Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Bến Tre
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bến Tre tham gia phiên tòa:
Ông Nguyễn Hoàng Phúc – Kiểm sát viên.
Ngày 27 tháng 3 năm 2019, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Bến Tre xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự phúc thẩm thụ lý số: 10/2019/HSPT ngày 09 tháng 01 năm 2019 đối với bị cáo Nguyễn Văn T do có kháng cáo của bị cáo đối với Bản án hình sự sơ thẩm số: 39/2018/HSST ngày 30 tháng 11 năm 2018 của Tòa án nhân dân huyện P.
- Bị cáo có kháng cáo: Nguyễn Văn T, sinh năm 1973, tại tỉnh Bến Tre; nơi cư trú: số 241/1 ấp G, xã T, huyện P, tỉnh Bến Tre; nghề nghiệp: thợ cắt tóc; trình độ văn hóa: 5/12; con ông Nguyễn Văn K và bà Trương Thị M, vợ Đặng Thị R, có một người con sinh năm 2013; tiền án: không; tiền sự: không; bị cáo tại ngoại, có mặt.
- Người bào chữa cho bị cáo: Ông Trần Nhật L– Luật sư Văn phòng luật sư H thuộc Đoàn luật sư tỉnh Bến Tre;
- Bị hại: Ngô Thành Tr, sinh năm 1969, nơi cư trú: 178/1 ấp G, xã T, huyện P, tỉnh Bến Tre, có mặt;
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Do có mâu thuẫn từ trước nên vào ngày 06 tháng 10 năm 2017, giữa Nguyễn Văn T và ông Ngô Thành Tr (sinh năm 1969, ngụ cùng ấp G, xã T, huyện P, tỉnh Bến Tre; ở gần nhà T) xảy ra cự cãi dẫn đến T bị ông Tr đánh. Tức giận về việc này, T dùng cây ném vào nhà ông Tr làm hư hỏng tài sản. Sự việc nói trên được Công an xã T mời đến giải quyết và T đã bồi thường thiệt hại cho ông Tr xong.
Vào khoảng 23 giờ 30 phút ngày 04 tháng 01 năm 2018, sau khi Nguyễn Văn T đi dự tiệc cưới về đến lộ đan phía trước nhà mình (thuộc khu vực ấp G, xã T, huyện P, tỉnh Bến Tre), T nhìn thấy ông Ngô Thành Tr đi về hướng T đang đứng. Lúc này, do T đã có uống rượu và nhớ lại mâu thuẫn xảy ra giữa T và ông Tr trước đây nên T nghĩ rằng ông Tr đi đến để đánh T. Liền lúc này, T nhặt viên gạch (loại gạch thẻ dùng trong xây dựng) tại nơi T đang đứng rồi đi về phía của ông Tr. T dùng tay phải cầm viên gạch đánh một cái trúng vào vùng mặt gây thương tích ở mũi và mắt phải của ông Tr. Do bị đánh bất ngờ nên ông Tr ôm T lại và cả hai bị rơi xuống ruộng gần đó. Sau một lúc xô xát nhau dưới ruộng, cả hai tự bỏ đi về nhà. Sự việc được trình báo cơ quan Công an và ông Tr được đưa đi cấp cứu tại Trung tâm Y tế huyện P, sau đó chuyển đến bệnh viện Nguyễn Đình Chiểu điều trị.
Vật chứng của vụ án được thu giữ gồm:
- 01 (một) viên gạch (loại gạch thẻ), dài 12,3cm, rộng 09cm; bị vỡ một đầu không rõ hình dạng và 01 mảnh vỡ của viên gạch, dài 6,8cm, rộng 04cm, không rõ hình dạng.
Ngoài ra, sau khi sự việc xảy ra, Nguyễn Văn T và ông Ngô Thành Tr đã giao nộp hai bộ quần áo mà cả hai đã mặc khi xảy ra xô xát để cơ quan thu giữ, cụ thể:
- 01 (một) áo sơ mi trắng, tay dài, dính nhiều bùn đất và 01 quần tây màu đen, dính nhiều bùn đất (do Nguyễn Văn T giao nộp).
- 01 (một) áo sơ mi xanh, sọc trắng nhỏ, tay dài, dính nhiều bùn đất và 01 quần tây màu xám, dính nhiều bùn đất (do Ngô Thành Tr giao nộp).
Tại Giấy chứng nhận thương tích số 24/CN ngày 30 tháng 01 năm 2018 của Bệnh viện Nguyễn Đình Chiểu ghi nhận tình trạng thương tích của Ngô Thành Tr lúc vào viện như sau:
- Mắt phải: Sưng bầm hai mí, xuất huyết kết mạc, rách kết mạc góc trong. Thị lực 2m: 10/10, vận nhãn bình thường.
- Chấn thương mũi xoang, không tổn thương xương mũi.
* Tại Bản kết luận giám định pháp y về thương tích số 47-0218/TgT ngày 09 tháng 02 năm 2018 của Trung tâm pháp y tỉnh Bến Tre kết luận tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể do thương tích gây ra đối với Ngô Thành Tr là 11% (mười một phần trăm).
Ngày 07 tháng 3 năm 2018, Nguyễn Văn T yêu cầu giám định lại tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể đối với bị hại Ngô Thành Tr.
* Tại Bản kết luận giám định pháp y về thương tích số 35/18/TgT ngày 18 tháng 4 năm 2018 của Phân viện Pháp y quốc gia tại Thành phố Hồ Chí Minh kết luận tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể do thương tích gây ra đối với Ngô Thành Tr là 26% (hai mươi sáu phần trăm).
Ngày 14 tháng 6 năm 2018, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện P ra Quyết định trưng cầu giám định lại lần II.
* Tại Bản kết luận giám định pháp y về thương tích lần II số 169/18/TgT ngày 28 tháng 8 năm 2018 của Hội đồng giám định lại lần II được thành lập theo Quyết định số 4577/QĐ-BYT ngày 20 tháng 7 năm 2018 của Bộ trưởng Bộ Y tế kết luận tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể do thương tích gây ra đối với Ngô Thành Tr là 30% (ba mươi phần trăm).
Sau khi sự việc xảy ra, Nguyễn Văn T đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội, đồng thời đã tự nguyện nộp số tiền 35.000.000 đồng (ba mươi lăm triệu đồng) để bồi thường thiệt hại do sức K bị xâm phạm cho bị hại.
* Tại Bản án hình sự sơ thẩm số 39/2018/HS-ST ngày 30-11-2018 của Tòa án nhân dân huyện P, đã quyết định: Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn T phạm “Tội cố ý gây thương tích”; Căn cứ điểm đ khoản 2 (thuộc trường hợp điểm a, i khoản 1) Điều 134; điểm b, s khoản 1 khoản 2 Điều 51, Điều 38, Điều 54 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi bổ sung năm 2017). Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn T 01 (một) năm tù, thời hạn tù tính từ ngày bắt bị cáo chấp hành án. Ngoài ra, Bản án sơ thẩm còn tuyên về trách nhiệm dân sự, xử lý vật chứng, án phí và quyền kháng cáo theo luật định.
Sau khi xét xử sơ thẩm, ngày 12/12/2018 bị cáo Nguyễn Văn T kháng cáo yêu cầu được hưởng án treo.
Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo không thay đổi yêu cầu kháng cáo; bị hại không đồng ý cho bị cáo hưởng án treo.
Quan điểm giải quyết vụ án của Kiểm sát viên thể hiện như sau: Về thủ tục tố tụng: Đơn kháng cáo của bị cáo gửi đến Tòa án trong thời hạn kháng cáo theo quy định tại Điều 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự nên được Tòa án cấp phúc thẩm thụ lý, giải quyết là phù hợp. Về nội dung: Tòa án cấp sơ thẩm xét xử và tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn T phạm “Tội cố ý gây thương tích” là có căn cứ, đúng người, đúng tội. Về hình phạt tù Tòa án cấp sơ thẩm áp dụng hình phạt tù dưới mức thấp nhất của khung hình phạt là đã xem xét cho bị cáo, bị cáo phạm tội có tính chất côn đồ nên không đủ điều kiện hưởng án treo. Đề nghị áp dụng điểm a khoản 1 Điều 355 Bộ luật tố tụng hình sự, không chấp nhận kháng cáo của bị cáo, giữ nguyên bản án sơ thẩm, cụ thể: Áp dụng điểm đ khoản 2 (thuộc trường hợp điểm a, i khoản 1) Điều 134; điểm b, s khoản 1 khoản 2 Điều 51, Điều 38, Điều 54 Bộ luật Hình sự năm 2015. Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn T 01 (một) năm tù về “Tội cố ý gây thương tích”, thời hạn tù tính từ ngày bị cáo chấp hành án. Các phần quyết định khác của Bản án sơ thẩm không có kháng cáo kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo kháng nghị.
Người bào chữa cho bị cáo cho rằng việc giải quyết của chính quyền địa phương chưa làm cho bị cáo thỏa mãn nên vào ngày 04/01/2018 bị cáo nghĩ lại việc mâu thuẫn trước đó nên dùng gạch đánh anh Tr, lời khai ban đầu của bị cáo khai anh Tr đi về hướng của bị cáo, nhưng sau đó khai anh Tr ở trong sân nhà anh Tr, đối với lời khai của anh Tr chưa đáng tin cậy, theo cáo trạng nêu anh Tr đi về hướng bị cáo nhưng anh Tr không có khiếu nại như vậy anh Tr có đi về hướng của bị cáo. Bị cáo phạm tội không mang tính chất côn đồ đề nghị loại trừ cho bị cáo và cho bị cáo được hưởng án treo theo như kháng cáo của bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, có cơ sở xác định. Vào khoảng 23 giờ 30 phút ngày 04-01-2018, tại khu vực lộ đan thuộc ấp G, xã T, huyện P, tỉnh Bến Tre, Nguyễn Văn T đã dùng viên gạch (loại gạch thẻ) đánh vào vùng mặt của Ngô Thành Tr gây thương tích ở mắt phải và mũi với tổng tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể là 30%. Bị cáo cho rằng nguyên nhân gây thương tích bị hại là do mâu thuẫn từ trước, tuy nhiên việc mâu thuẫn giữa bị cáo và ông Tr vào 06/10/2017 đã được Công an xã T đã giải quyết xong. Bị cáo và người bào chữa cho bị cáo cho rằng do anh Tr có câu nói đòi đánh bị cáo và anh Tr đi về hướng của bị cáo nên bị cáo dùng gạch đánh anh Tr, nhưng anh Tr không thừa nhận các tình tiết này. Bị cáo thừa nhận anh Tr chưa tác động gì vào người bị cáo do bị cáo suy nghĩ mà thực hiện hành vi đánh anh Tr và khi thực hiện hành vi bị cáo dùng hung khí nguy hiểm đánh bất ngờ vào vùng mặt người bị hại thể hiện tính cách xem thường sức khỏe của người khác.
Với ý thức, hành vi và hậu quả mà bị cáo đã gây ra, Tòa án cấp sơ thẩm đã xét xử và tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn T phạm “Tội cố ý gây thương tích” theo điểm đ khoản 2 (thuộc trường hợp được quy định tại điểm a, i khoản 1 là “Dùng hung khí nguy hiểm” và “Có tính chất côn đồ”) Điều 134 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 là có căn cứ đúng quy định pháp luật.
Xét kháng cáo của bị cáo, thấy rằng, khi áp dụng hình phạt tù Tòa án cấp sơ thẩm đã xem xét tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo như: bị cáo không có tình tiết tăng nặng; về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, bị cáo có nhân thân tốt, không có tiền án tiền sự, bị cáo đã bồi thường cho bị hại số tiền 35.000.000 đồng và đồng ý tiếp tục bồi thường cho bị hại số tiền 43.250.000 đồng, quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, bị cáo có ba người cậu tên Trương Văn P, Trương Văn H, Trương Văn Ph tham gia cách mạng, trong đó ông H, ông Ph là liệt sĩ, ông Phđược tặng Huân chương kháng chiến hạng Ba, bà ngoại là bà Nguyễn Thị N được truy tặng danh hiệu Bà mẹ Việt Nam anh hùng, bị hại có yêu cầu giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo. Do bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự nên Tòa án cấp sơ thẩm áp dụng Điều 54 của Bộ luật Hình sự năm 2015 xử phạt bị cáo mức hình phạt tù dưới mức thấp nhất của khung hình phạt mà điều luật quy định và cũng đã xem xét tính chất hành vi phạm tội của bị cáo là có tính chất côn đồ nên không đủ điều kiện để được hưởng án treo theo quy định tại Nghị quyết số 02/2018/NQ-HĐTP ngày 15/05/2018 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao. Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, Hội đồng xét xử phúc thẩm xét thấy không có căn cứ để thay đổi biện pháp chấp hành hình phạt tù cho bị cáo nên không chấp nhận kháng cáo yêu cầu được hưởng án treo của bị cáo, giữ nguyên Bản án sơ thẩm như Kiểm sát viên đề nghị là phù hợp.
Về án phí, bị cáo phải chịu án phí hình sự phúc thẩm do kháng cáo không được chấp nhận.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
[1] Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 355 và Điều 356 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015. Không chấp nhận kháng cáo của bị cáo; giữ nguyên Bản án sơ thẩm số 39/2018/HS-ST ngày 30/11/2018 của Tòa án nhân dân huyện P, tỉnh Bến Tre;
Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn T phạm “Tội cố ý gây thương tích”;
Căn cứ điểm đ khoản 2 (thuộc trường hợp điểm a, i khoản 1) Điều 134; điểm b, s khoản 1 khoản 2 Điều 51; Điều 54; Điều 38 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi bổ sung năm 2017).
Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn T 01 (một) năm tù, thời hạn tù tính từ ngày bị cáo chấp hành hình phạt tù.
[2] Về án phí: Căn cứ vào Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội. Bị cáo Nguyễn Văn T phải nộp 200.000 (Hai trăm ngàn) đồng án phí hình sự phúc thẩm.
[3] Các quyết định khác của Bản án sơ thẩm về phần trách nhiệm dân sự, xử lý vật chứng và án phí không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị phúc thẩm.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
Nơi nhận:
| - VKSND tỉnh Bến Tre (1b); - Vụ GĐKT I - Tòa án nhân dân tối cao (1b); - Phòng hồ sơ Công an tỉnh Bến Tre (1b); - Tòa án nhân dân huyện P (3b); - Công an và VKSND huyện P (2b) - Chi cục THADS huyện P (1b); - Sở Tư pháp tỉnh Bến Tre (1b); - UBND xã T, huyện P (1b); - Bị cáo, bị hại (2b); - Phòng KTNV & THA, Tòa Hình sự, Văn phòng TAND tỉnh Bến Tre (5b); - Lưu hồ sơ vụ án (1b). | TM.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Phạm Văn Tỉnh |