vanban.org

Bản án 28/2019/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Áp dụng: Khoản 1 Điều 51, Điều 56, Điều 57, Điều 58, Điều 81, Điều 82, Điều 83, Điều 84 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014;

Về quan hệ hôn nhân: Chị Nguyễn Thị O ly hôn anh Nguyễn Mạnh H Về con chung: Giao cháu Nguyễn Thủy Tiên, sinh ngày 07/12/2015. cho anh H nuôi dưỡng. Chị O được quyền thăm nom, chăm sóc con chung không ai được cản trở.

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Nguyễn Thị O - Nguyễn Mạnh H"
  • Tòa quyết gì? Áp dụng: Khoản 1 Điều 51, Điều 56, Điều 57, Điều 58, Điều 81, Điều 82, Điều 83, Điều 84 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014;
  • Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 271 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN THẠCH THẤT
THÀNH PHỐ HÀ NỘI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 28/2019/HNGĐ-ST
Ngày: 30/8/2019
V/v: Ly hôn, tranh chấp nuôi con

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THẠCH THẤT – TP.HÀ NỘI

- Thành phần Hội đồng xét xử gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thu Thuỷ

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Đỗ Văn Quyết;

Bà Nguyễn Thị Loan.

Thư ký phiên tòa: Nguyễn Thị Hương Quỳnh – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Thạch Thất.

Đại diện Viện Kiểm Sát nhân dân huyện Thạch Thất tham gia phiên tòa: Bà Vi Thị Ngọc Kim - Kiểm sát viên.

Ngày 30 tháng 8 năm 2019, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Thạch Thất, thành phố Hà Nội, xét xử sơ thẩm công khai vụ án Hôn nhân gia đình thụ lý số 138/2019/TLST-HNGĐ ngày 10 tháng 6 năm 2019, về việc ly hôn; tranh chấp nuôi con, theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 28/2019/QĐXX-HNGĐ ngày 29 tháng 7 năm 2019, giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị O, sinh năm 1996;

Địa chỉ: Thôn Ngoại Thôn, xã P, huyện T , TP. H.

Có mặt tại phiên tòa;

Bị đơn: Anh Nguyễn Mạnh H, sinh năm 1989;

Địa chỉ: Thôn Ngoại Thôn, xã P, huyện T , TP. H .

Vắng mặt tại phiên tòa;

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện và quá trình tố tụng, chị Nguyễn Thị O trình bày như sau:

Chị Nguyễn Thị O và anh Nguyễn Mạnh H tự nguyện kết hôn và có đăng ký kết hôn tại UBND xã P, huyện Thạch Thất, thành phố Hà Nội ngày 15/7/2014. Sau kết hôn vợ chồng sống hòa thuận, hạnh phúc được một thời gian thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân là do quan điểm sống của vợ chồng không hợp nhau, giữa vợ chồng không có tiếng nói chung dẫn đến mâu thuẫn. Từ đầu năm 2017 cho đến nay vợ chồng chị đã sống ly thân. Nay chị O xác định tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được và yêu cầu Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn với anh H.

Về con chung: Chị Nguyễn Thị O và anh Nguyễn Mạnh H có một con chung là Nguyễn Thủy Tiên, sinh ngày 07/12/2015, hiện cháu đang do anh H nuôi dưỡng. Nay ly hôn chị O đề nghị Tòa án giao con chung cho anh H nuôi dưỡng.

Về cấp dưỡng nuôi con: Chị O tợ nguyện cấp dưỡng nuôi con mỗi tháng 1.000.000đồng. Kể từ tháng 9/2019 đến khi cháu Thủy Tiên đủ 18 tuổi.

Về tài sản chung, nợ chung: Chị O không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Anh Nguyễn Mạnh H đã được Tòa án thông báo thụ lý vụ án và các văn bản tố tụng khác nhưng không có quan điểm về yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, không tham gia tố tụng để giải quyết vụ án.

Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát:

Về việc thực hiện tố tụng của Toà án: Quá trình tố tụng từ khi thụ lý vụ án đến khi xét xử Thẩm phán đã thực hiện đúng các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Tại phiên toà hôm nay Hội đồng xét xử thực hiện đúng trình tự thủ tục của phiên toà sơ thẩm.

Về việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng: Từ khi thụ lý vụ án đến khi xét xử, nguyên đơn thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ của mình tại quy định Điều 70 Bộ luật tố tụng dân sự. Bị đơn đã được Tòa án thông báo thụ lý vụ án và các văn bản tố tụng nhưng không tham gia trong quá trình giải quyết vụ án là vi phạm quy định Điều 70 Bộ luật tố tụng dân sự, gây khó khăn cho việc giải quyết vụ án của Tòa án. Tại phiên tòa anh H vắng mặt, tuy nhiên, Tòa án đã triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai nhưng anh H vẫn vắng mặt. Do vậy, Hội đồng xét xử vẫn tiến hành xét xử vắng mặt anh H là có căn cứ phù hợp quy định tại khoản 2 Điều 227 của Bộ luật tố tụng dân sự.

Về nội dung vụ án: Chị Nguyễn Thị O và anh Nguyễn Mạnh H kết hôn hợp pháp. Theo chị O thì quá trình chung sống vợ chồng không hạnh phúc, nguyên nhân là do vợ chồng không hợp nhau dẫn đến giữa vợ chồng không có tiếng nói chung, chị O và anh H đã sống ly thân từ năm 2017 cho đến nay. Quá trình giải quyết vụ án Tòa án đã khuyên giải nhiều lần nhưng chị O vẫn kiên quyết xin ly hôn. Theo cung cấp của chính quyền địa phương vàgia đình anh H thì quá trình chung sống giữa anh H và chị O có nhiều mâu thuẫn, vợ chồng đã sống ly thân. Điều đó chứng tỏ quan hệ hôn nhân giữa chị O và anh H đã trầm trọng, đời sống chung không thể hàn gắn được nên đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của chị O, xử cho chị O và anh H ly hôn.

Về con chung: Chị Nguyễn Thị O và anh Nguyễn Mạnh H có một con chung là cháu Nguyễn Thủy Tiên, sinh ngày 07/12/2015. Hiện cháu đang do anh H nuôi dưỡng và chị O cũng đồng ý giao con cho anh H nuôi nên đề nghị Hội đồng xét xử giao H tiếp tục nuôi dưỡng con chung.

Về cấp dưỡng nuôi con: Chị O tự nguyện cấp dưỡng nuôi con 1.000.000đ/tháng là phù hợp quy định nên đề nghị Hội đồng xét xử ghi nhận.

Về tài sản chung: Chị O không yêu cầu Tòa án giải quyết.

NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ đã được xem xét tại phiên toà, kết quả tranh tụng tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:

[1].Về tố tụng: Anh Nguyễn Mạnh H cư trú tại xã P, huyện Thạch Thất, Thành phố Hà Nội nên Toà án nhân dân huyện Thạch Thất thụ lý giải quyết là đúng thẩm quyền theo Điều 28 và Điều 35 của Bộ luật tố tụng dân sự.

Anh Nguyễn Mạnh H đã được triệu tập đến lần thứ hai nhưng vắng mặt không vì lý do bất khả kháng hoặc do trở ngại khách quan nên Hội đồng xét xử vẫn tiến hành xét xử là có căn cứ theo khoản 2 Điều 227 của Bộ luật tố tụng dân sự.

[2].Về quan hệ hôn nhân: Chị Nguyễn Thị O và anh Nguyễn Mạnh H kết hôn hợp pháp. Theo chị O thì vợ chồng sống không hạnh phúc, do quan điểm sống giữa vợ chồng không hợp nhau nên trong cuộc sống vợ chồng không có tiếng nói chung dẫn đến mâu thuẫn và vợ chồng sống ly thân từ năm 2017 đến nay. Theo cung cấp của chính quyền địa phương và gia đình thì giữa chị O và anh H có nhiều mâu thuẫn, mặc dù đã được hai bên nội ngoại hòa giải nhưng tình trạng mâu thuẫn vợ chồng không cải thiện mà ngày càng căng thẳng hơn. Nay chị O xác định tình cảm vợ chồng không còn nên chị vẫn giữ yêu cầu được ly hôn anh H. Điều đó chứng tỏ quan hệ hôn nhân giữa chị O và anh H đã trầm trọng, đời sống chung không còn tồn tại, mục đích của hôn nhân không đạt được nên cần chấp nhận yêu cầu của chị O, cho chị O được ly hôn anh H phù hợp với Điều 51, Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014.

[3].Về con chung: Vợ chồng có có một con chung là cháu Nguyễn Thủy Tiên, sinh ngày 07/12/2015. Hiện cháu đang do anh H nuôi dưỡng và chị O cũng đồng ý giao con cho anh H nuôi nên giao anh H trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng con chung là có căn cứ, phù hợp với nguyện vọng của cháu và quy định tại khoản 3 Điều 81 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014.

[4].Về cấp dưỡng nuôi con chung: Chị O tự nguyện cấp dưỡng nuôi con chung mỗi tháng 1.000.000đồng (Một triệu đồng) là phù hợp với quy định của pháp luật nên ghi nhận.

[5].Về tài sản, công sức, nợ chung: Chị O không yêu cầu Toà án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét. Nếu anh H có yêu cầu thì được xem xét giải quyết ở một vụ kiện khác.

[6].Về án phí: Chị Nguyễn Thị O pH chịu 300.000đ án phí Hôn nhân gia đình sơ thẩm và 300.000đ (ba trăm nghìn đồng) án phí cấp dưỡng nuôi con theo quy định tại khoản 4 Điều 147 của Bộ luật tố tụng dân sự; khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ quốc hội.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Áp dụng: Khoản 1 Điều 51, Điều 56, Điều 57, Điều 58, Điều 81, Điều 82, Điều 83, Điều 84 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014;

Căn cứ khoản 4 Điều 147; khoản 2 Điều 227; Điều 271 và Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự; khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án. Xử:

1. Về quan hệ hôn nhân: Chị Nguyễn Thị O ly hôn anh Nguyễn Mạnh H

2. Về con chung: Giao cháu Nguyễn Thủy Tiên, sinh ngày 07/12/2015. cho anh H nuôi dưỡng. Chị O được quyền thăm nom, chăm sóc con chung không ai được cản trở.

Về cấp dưỡng nuôi con chung: Ghi nhận sự tự nguyện của chị Nguyễn Thị O cấp dưỡng nuôi con chung số tiền 1.000.000đ (một triệu đồng)/tháng kể từ tháng 9/2019 cho đến khi cháu Thủy Tiên đủ 18 tuổi hoặc có quyết định thay đổi khác.

3. Về tài sản chung: Chị O không yêu cầu Toà án giải quyết.

4. Về án phí: Chị Nguyễn Thị O pH chịu 300.000đ án phí Hôn nhân gia đình sơ thẩm và 300.000đ (ba trăm nghìn đồng) án phí cấp dưỡng nuôi con; được trừ vào 300.000đ đã nộp theo biên lai số AB/2014/06695 ngày 05/6/2019 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Thạch Thất, thành phố Hà Nội. Nay chị O còn pH nộp 300.000đồng (Ba trăm nghìn đồng).

5. Về quyền kháng cáo: Căn cứ Điều 271, 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự:

Chị Nguyễn Thị O được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể ngày tuyên án. Anh Nguyễn Mạnh H có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản sao bản án hoặc ngày bản án được niêm yết hợp lệ tại nơi cư trú.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Cỡ chữ