- Tranh chấp gì? Tranh chấp về hụi, họ, biêu, phường — án dân sự — "Tranh chấp tiền hụi giữa bà Mai Thị P với ông Trương Văn T và bà Đồng Thị Th"
- Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu của bà Mai Thị P. Buộc ông Trương Văn T và bà Đồng Ngọc Th có nghĩa vụ liên đới trả cho bà Mai Thị P số tiền 35.
- Căn cứ chính? Nghị định số 19/2019/NĐ-CP Về họ, hụi, biêu, phường; Điều 26 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 471 Bộ luật Dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÚ TÂN TỈNH CÀ MAU | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 28/2019/DS-ST Ngày: 16-8-2019 V/v “tranh chấp tiền hụi”. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÚ TÂN, TỈNH CÀ MAU
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Việt Triều.
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Nguyễn Minh Trọn.
Bà Nguyễn Kim Huệ.
- Thư ký phiên tòa: Ông Châu Sơn Ca là Thư ký Tòa án nhân dân huyện Phú Tân, tỉnh Cà Mau.
Ngày 16 tháng 8 năm 2019 tại Tòa án nhân dân huyện Phú Tân xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 32/2019/TLST-DS ngày 28 tháng 02 năm 2019 về việc “Tranh chấp tiền hụi” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 119/2019/QĐXXST-DS ngày 15 tháng 7 năm 2019, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Bà Mai Thị P, sinh năm 1957.
Cư trú tại: Ấp H, xã T, huyện P, tỉnh Cà Mau.
Người đại diện hợp pháp của nguyên đơn: Bà Trần Thị L, sinh năm 1980 cư trú tại Ấp Hưng Hiệp, xã Tân Hưng Tây, huyện Phú Tân, tỉnh Cà Mau là người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn (văn bản ủy quyền ngày 22 tháng 02 năm 2019) (có mặt).
- Bị đơn: Ông Trương Văn T (vắng mặt).
Bà Đồng Ngọc Th, sinh năm 1987 (vắng mặt).
Cùng cư trú tại: Ấp H, xã T, huyện P, tỉnh Cà Mau.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
- Theo đơn khởi kiện ngày 25 tháng 02 năm 2019 của bà Mai Thị P và tại phiên tòa người đại diện hợp pháp của nguyên đơn bà Trần Thị L trình bày: Vào ngày 10 tháng 4 năm 2017 ông Trương Văn T và bà Đồng Thị Th có mở một dây hụi, loại hụi 300.000 đồng, hụi mỗi tháng khui hai lần, dây hụi có 50 phần, bà P
-1-
tham gia một phần hụi, dây hụi khui được 33 lần thì ông T, bà Th tuyên bố đình hụi và có thỏa thuận sẽ trả cho bà P số tiền 9.900.000 đồng nhưng không trả. Vào ngày 20 tháng 6 năm 2017 ông T, bà Th tiếp tục mở dây hụi 1.000.000 đồng, dây hụi có 45 phần, mỗi tháng khui một lần, bà P tham gia một phần hụi, bà P đóng hụi được 14 lần thì ông T, bà Th đình hụi, ông T bà Th thỏa thuận trả cho bà P 14.000.000 đồng nhưng không trả. Ngày 10 tháng 9 năm 2017 ông T, bà Th tiếp tục mở dây hụi 500.000 đồng, hụi có 37 phần, mỗi tháng khui hai lần, bà P tham gia một phần hụi, bà P đóng hụi được 20 lần thì ông T, bà Th đình hụi, ông T bà Th thỏa thuận trả cho bà P 10.000.000 đồng nhưng không trả. Đồng thời bà P có mua một phần hụi, bà P đã đưa cho ông T, bà Th 5.100.000 đồng, sau khi bà P đưa tiền cho ông T, bà Th thì ông T bà Th tuyên bố đình hụi. Tổng cộng 03 phần hụi và 01 phần hụi mua, ông T, bà Th nợ bà P 39.000.000đ. Ngày 10 tháng 8 năm 2018 ông T, bà Th có làm giấy nợ thể hiện ông T, bà Th nợ bà P 39.000.000 đồng và ông T, bà Th hứa mỗi tháng trả cho bà P 2.000.000 đồng nhưng ông T, bà Th chỉ thực hiện được hai lần với số tiền 4.000.000 đồng. Bà P yêu cầu ông T, bà Th trả số tiền hụi còn nợ với số tiền 35.000.000 đồng.
- Đối với ông Trương Văn T và bà Đồng Ngọc Th, Tòa án đã tống đạt hợp lệ thông báo thụ lý và các văn bản tố tụng nhưng ông T, bà Th vắng mặt và không cung cấp lời khai cho Tòa án.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1] Về thủ tục tố tụng: Bà Mai Thị P khởi kiện yêu cầu Tòa án buộc ông Trương Văn T và bà Đồng Ngọc Th trả tiền hụi. Do đó, đây là tranh chấp dân sự về việc “Tranh chấp tiền hụi” nên theo quy định tại khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự nên thuộc thẩm quyền của Tòa án nhân dân huyện Phú Tân, tỉnh Cà Mau. Tòa án nhân dân huyện Phú Tân, tỉnh Cà Mau thụ lý giải quyết theo thủ tục sơ thẩm là đúng thủ tục tố tụng.
[2] Về sự vắng mặt của đương sự: Ông Trương Văn T và bà Đồng Ngọc Th là bị đơn được Tòa án triệu tập hợp lệ để tham gia phiên tòa lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt không vì sự kiện bất khả kháng hoặc trở ngại khách quan. Theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 227 của Bộ luật tố tụng dân sự, Tòa án xét xử vắng mặt ông Trương Văn T và bà Đồng Ngọc Th.
[3] Tại phiên tòa bà Trần Thị L đại diện cho bà P yêu cầu ông T, bà Th trả cho bà P số tiền 39.000.000 đồng. Tòa án đã tống đạt thông báo thụ lý vụ án và các văn bản tố tụng cho ông T, bà Th không có ý kiến phản đối với yêu cầu của bà P. Tại khoản 2 Điều 92 Bộ luật tố tụng dân sự quy định: “Một bên đương sự thừa nhận hoặc không phản đối những tình tiết, sự kiện, tài liệu văn bản, kết luận của cơ quan chuyên môn mà bên đương sự kia đưa ra thì đương sự đó không phải chứng minh”. Bà P có cung cấp cho Tòa án cho Tòa án giấy nhận nợ ngày 10 tháng 10 năm 2018 có chữ ký của ông T, bà Th nhưng ông T, bà Th không phản đối đối với giấy nợ do bà P cung cấp, theo giấy nợ thể hiện ông T, bà Th có nợ bà P số tiền 39.000.000 đồng. Tại phiên
-2-
tòa bà L cho rằng ông T, bà Th đã trả cho bà P 4.000.000 đồng. Do đó ông T, bà Th có nghĩa vụ trả cho bà P số tiền 35.000.000.
[4] Về án phí: Do yêu cầu của bà P được chấp nhận nên bà P không phải chịu án phí, bà P đã nộp tạm ứng án phí 975.000 đồng được nhận lại. Ông T, bà Th phải liên đới chịu án phí dân sự sơ thẩm có giá ngạch với số tiền 1.750.000 đồng.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
Áp dụng khoản 3 Điều 26; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; Điều 92; Điều 147; Điều 227; Điều 271 và Điề u 273 của Bộ luật tố tụng dân sự;
- Áp dụng Điều 471 của Bộ luật dân sự và Nghị định số 19/2019/NĐ-CP ngày 19 tháng 02 năm 2019 của Chính phủ quy định về hụi, họ, biêu phường.
Tuyên xử:
1. Chấp nhận yêu cầu của bà Mai Thị P. Buộc ông Trương Văn T và bà Đồng Ngọc Th có nghĩa vụ liên đới trả cho bà Mai Thị P số tiền 35.000.000 đồng (ba mươi lăm triệu đồng).
Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật (đối với các trường hợp cơ quan thi hành án có quyền chủ động ra quyết định thi hành án) hoặc kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành xong, tất cả các khoản tiền hàng tháng bên thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật dân sự năm 2015
2. Áp dụng khoản 2 Điều 26 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.
Bà Mai Thị P không phải chịu án phí, bà P đã nộp tiền tạm ứng án phí 975.000 đồng (chín trăm bảy mươi lăm ngàn đồng) theo biên lai thu tiền số 0019031 ngày 28 tháng 02 năm 2019 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Phú Tân; bà P được nhận lại khi án có hiệu lực pháp luật.
Buộc ông Trương Văn T và bà Đồng Ngọc Th có nghĩa vụ liên đới nộp án phí dân sự sơ thẩm có giá ngạch là 1.750.000 đồng (một triệu bảy trăm năm mươi ngàn đồng), nộp tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Phú Tân khi bản án có hiệu lực pháp luật.
Án xử sơ thẩm, các đương sự có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn mười lăm ngày kể từ ngày tuyên án. Riêng ông Trương Văn T và bà Đồng Ngọc Th có quyền kháng cáo trong thời hạn mười lăm ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.
Trong trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án
-3-
hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Cà Mau; - VKSND huyện Phú Tân, tỉnh Cà Mau; - Chi cục Thi hành án dân sự huyện Phú Tân, tỉnh Cà Mau; - Các đương sự; - Lưu hồ sơ, văn thư. -4- | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa Nguyễn Việt Triều |