vanban.org

Bản án 28/2019/DS-ST — Tranh chấp về cấp dưỡng

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận yêu cầu thay đổi mức cấp dưỡng nuôi con của chị Đoàn Thị N.

Buộc anh Trần Văn C phải cấp dưỡng nuôi con Trần Đăng K, sinh ngày 09/8/2012 mỗi tháng 1.000.000đ (một triệu đồng) kể từ tháng 11 năm 2019 cho đến khi con đủ 18 tuổi. 2 Về án phí: Chị Đoàn Thị N phải chịu 300.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm. Chị N đã nộp tiền tạm ứng án phí 300.000đ (ba trăm nghìn đồ… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Tranh chấp về cấp dưỡng — án hôn nhân và gia đình — "yêu cầu thay đổi mức cấp dưỡng"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu thay đổi mức cấp dưỡng nuôi con của chị Đoàn Thị N.
  • Căn cứ chính? Điều 107 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 110 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 116 Luật Hôn nhân và gia đình
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN TUYÊN HOÁ
TỈNH QUẢNG BÌNH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 28/2019/DS-ST
Ngày: 24/10/2019
V/v tranh chấp về cấp dưỡng nuôi con

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TUYÊN HOÁ, TỈNH QUẢNG BÌNH

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Minh Toàn

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Mai Xuân Minh

2. Ông Thái Thiên Lương

Thư ký phiên toà: Ông Đinh Quang Vịnh - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Tuyên Hóa, tỉnh Quảng Bình

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tuyên Hoá, tỉnh Quảng Bình: Không tham gia phiên tòa

Trong ngày 24 tháng 10 năm 2019, tại Trụ sở Toà án nhân dân huyện Tuyên Hoá, tỉnh Quảng Bình xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 79/2019/TLST

- HNGĐ ngày 15 tháng 8 năm 2019 về việc “tranh chấp về cấp dưỡng”. Theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 31/2019/QĐXXST-DS ngày 08 tháng 10 năm 2019 giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Chị Đoàn Thị N, sinh năm 1982

Địa chỉ: Tiểu khu Đ, thị trấn Đ, huyện T, tỉnh Quảng Bình “có mặt”.

Bị đơn: Anh Trần Văn C, sinh năm 1980

Địa chỉ: Thôn Đ, xã Đ, huyện T, tỉnh Quảng Bình “có mặt”.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Trong đơn khởi kiện ngày 05/8/2019, tại bản tự khai ngày 04/9/2019 và tại phiên tòa chị Đoàn Thị N trình bày: Chị và anh Trần Văn C được Tòa án giải quyết ly hôn theo Quyết định công nhận thuận tình ly hôn và sự thỏa thuận của các đương sự số 20/2016/QĐST-HNGĐ ngày 19/5/2016 của Tòa án nhân dân huyện Tuyên Hóa. Vợ chồng thỏa thuận sau khi ly hôn chị nuôi con Trần Đăng K, sinh ngày 09/8/2012, anh Trần Văn C cấp dưỡng nuôi con mỗi tháng 500.000 đồng kể từ tháng 6 năm 2016. Trong quá trình nuôi con, chị thấy con thường xuyên đau ốm và nhu cầu ăn uống, điều kiện học hành của con ngày càng tăng cao. Hiện nay chị thấy mức cấp dưỡng nuôi con 500.000 đồng mà anh C đóng góp hàng tháng là quá thấp và không còn phù hợp, không đủ để chăm sóc, nuôi dưỡng con. Mặt khác anh C có nghề nghiệp và thu nhập ổn định, vì vậy chị đề nghị Toà án giải quyết nâng mức cấp dưỡng buộc anh C phải đóng góp nuôi con mỗi tháng 1.500.000 đồng (một triệu năm trăm nghìn đồng).

Tại bản tự khai ngày 26/9/2019 anh Trần Văn C trình bày: Anh và chị Đoàn Thị N đã ly hôn vào năm 2016 theo Quyết định công nhận thuận tình ly hôn và sự thỏa thuận của các đương sự của Tòa án nhân dân huyện Tuyên Hóa. Theo đó sau khi ly hôn chị N nuôi con Trần Đăng K, sinh ngày 09/8/2012, còn anh cấp dưỡng nuôi con mỗi tháng 500.000 đồng kể từ tháng 6 năm 2016 cho đến khi con đủ 18 tuổi. Sau khi ly hôn anh đã cấp dưỡng đúng mức theo sự thoả thuận của hai người. Đến nay chị N yêu cầu thay đổi mức cấp dưỡng nuôi con lên 1.500.000 đồng mỗi tháng anh không nhất trí với yêu cầu trên. Nếu chị N không đồng ý với thoả thuận cũ thì anh đề nghị Toà án giải quyết để anh được quyền nuôi con và anh không yêu cầu chị N phải cấp dưỡng nuôi con hàng tháng. Tại phiên tòa anh C trình bày hiện nay anh là giáo viên, thu nhập mỗi tháng trên 7.000.000 đồng.

Ngày 26/9/2019 Tòa án tiến hành hòa giải nhưng không đạt kết quả, chị Đoàn Thị N vẫn giữ nguyên yêu cầu thay đổi mức cấp dưỡng nuôi con lên 1.500.000 đồng mỗi tháng. Anh Trần Văn C không đồng ý yêu cầu của chị N và đề nghị giữ nguyên mức cấp dưỡng nuôi con như cũ.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên toà, căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

Chị Đoàn Thị N và anh Trần Văn C thuận tình ly hôn và thỏa thuận việc nuôi con, mức cấp dưỡng nuôi con hoàn toàn tự nguyện, theo đó chị N nuôi con Trần Đăng K, sinh ngày 09/8/2012, anh C cấp dưỡng nuôi con mỗi tháng 500.000 đồng. Nhưng trong quá trình chăm sóc nuôi dưỡng con của hai bên được ba năm, nay chị Đoàn Thị N yêu cầu thay đổi mức cấp dưỡng nuôi con từ 500.000 đồng mỗi tháng lên 1.500.000 đồng. Anh Trần Văn C không chấp nhận yêu cầu thay đổi mức cấp dưỡng nuôi con của chị N và đề nghị giữ nguyên mức cấp dưỡng nuôi con mỗi tháng 500.000 đồng.

Hội đồng xét xử xét thấy: Hiện nay cháu Trần Đăng K ngày càng lớn, nhu cầu cho sinh hoạt và học tập của cháu ngày càng tăng cao, chi phí hàng tháng cho cháu K ngày một nhiều lên. Về phía chị Đoàn Thị N hiện là cán bộ văn hóa xã hội tại xã S, thu nhập mỗi tháng chỉ khoảng 5.800.000 đồng. Đối với anh Trần Văn C hiện là giáo viên tại trường Trung học cơ sở T, có thu nhập ổn định, có điều kiện để cấp dưỡng nuôi con.

Vì vậy yêu cầu thay đổi mức cấp dưỡng nuôi con hàng tháng của chị Đoàn Thị N là chính đáng vì hiện nay mức cấp dưỡng 500.000 đồng mỗi tháng là quá thấp và không còn phù hợp, không đảm bảo các nhu cầu về sinh hoạt và học tập cho cháu K nên cần chấp nhận yêu cầu khởi kiện thay đổi mức cấp dưỡng nuôi con của chị Đoàn Thị N. Tuy nhiên anh C cũng đã có gia đình riêng, nên cần chấp nhận mức cấp dưỡng nuôi con 1.000.000 đồng mỗi tháng là phù hợp cho cả hai bên và cũng đảm bảo nhu cầu sinh hoạt và học tập cho cháu Trần Đăng K.

Vì vậy cần áp dụng khoản 2 Điều 82, Điều 83, Điều 107, Điều 110, Điều 116 và Điều 117 Luật hôn nhân và gia đình chấp nhận yêu cầu thay đổi mức cấp dưỡng nuôi con của chị Đoàn Thị N, buộc anh Trần Văn C phải cấp dưỡng nuôi con Trần Đăng K, sinh ngày 09/8/2012 mỗi tháng 1.000.000 đồng kể từ tháng 11 năm 2019 cho đến khi con trưởng thành

Về án phí: Chị Đoàn Thị N phải chịu án phí dân sự sơ thẩm.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Chấp nhận yêu cầu thay đổi mức cấp dưỡng nuôi con của chị Đoàn Thị N.

Áp dụng khoản 2 Điều 82, Điều 83, Điều 107, Điều 110, Điều 116 và Điều 117 Luật hôn nhân và gia đình.

Buộc anh Trần Văn C phải cấp dưỡng nuôi con Trần Đăng K, sinh ngày 09/8/2012 mỗi tháng 1.000.000đ (một triệu đồng) kể từ tháng 11 năm 2019 cho đến khi con đủ 18 tuổi.

2 Về án phí: Chị Đoàn Thị N phải chịu 300.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm. Chị N đã nộp tiền tạm ứng án phí 300.000đ (ba trăm nghìn đồng) theo biên lai số 0003811 ngày 15/8/2019 tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Tuyên Hoá nay được khấu trừ.

Án xử công khai sơ thẩm có mặt nguyên đơn, bị đơn. Tuyên bố các bên có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án 24/10/2019.

Cỡ chữ