vanban.org

Bản án 28/2019/DS-ST — Tranh chấp hợp đồng vay tài sản

TAND TX. Dĩ An, tỉnh Bình Dương Tuyên án 08/08/2019 Dân sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Nguyễn Thái L đối với bị đơn ông Bùi Văn T về tranh chấp hợp đồng vay tài sản.

Buộc ông Bùi Văn T có trách nhiệm thanh toán cho ông Nguyễn Thái L số tiền 380.000.000 đồng (Ba trăm tám mƣơi triệu đồng). Kể từ ngày 09/8/2019 cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Khoản 2 Điều… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Tranh chấp hợp đồng vay tài sản — án dân sự — "tranh chấp HĐ vay TS Nguyễn Thái L và Bùi Văn T"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Nguyễn Thái L đối với bị đơn ông Bùi Văn T về tranh chấp hợp đồng vay tài sản.
  • Căn cứ chính? Điều 144 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THỊ XÃ DĨ AN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

TỈNH BÌNH DƢƠNG
Bản án số: 28/2019/DS-ST
Ngày: 08-8-2019
V/v tranh chấp hợp đồng vay
tài sản

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ DĨ AN, TỈNH BÌNH DƢƠNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Phan Thị Mỹ Dung

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Bà Bùi Thị Thúy Lan

2. Ông Nguyễn Văn Minh

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Nhung, Thƣ ký Tòa án nhân dân thị xã Dĩ An, tỉnh Bình Dƣơng.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Dĩ An tham gia phiên tòa: Bà Đặng Thị Huyền - Kiểm sát viên.

Ngày 08 tháng 8 năm 2019, tại Tòa án nhân dân thị xã Dĩ An, tỉnh Bình Dƣơng, xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 133/2019/TLST-DS ngày 17/4/2019 về tranh chấp hợp đồng vay tài sản theo Quyết định đƣa vụ án ra xét xử số 49/2019/QĐXXST-DS ngày 03/7/2019, giữa các đƣơng sự:

1. Nguyên đơn: Ông Nguyễn Thái L, sinh năm 1989; Thƣờng trú: Tổ 3, ấp P, xã A, huyện H, tỉnh Bình Phƣớc; địa chỉ: Lô 45, đƣờng N2, khu phố T, phƣờng D, thị xã D, tỉnh Bình Dƣơng. Có đơn yêu cầu giải quyết vắng mặt.

2. Bị đơn: Ông Bùi Văn T, sinh năm 1990; Thƣờng trú: Số 1181/6A, khu phố Đ, phƣờng T, thị xã D, tỉnh Bình Dƣơng. Vắng mặt.

3. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Ông Bùi Văn Ph, sinh năm 1985; Thƣờng trú: Số 1181/6A, khu phố Đ, phƣờng T, thị xã D, tỉnh Bình Dƣơng. Vắng mặt.

4. Người làm chứng: Ông Nguyễn Thái V, sinh năm 1992; thƣờng trú: Tổ 3, ấp P, xã A, huyện H, tỉnh Bình Phƣớc. Có đơn yêu cầu giải quyết vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

- Theo đơn khởi kiện ngày 18/3/2019, lời khai trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn ông Nguyễn Thái L trình bày:

Ngày 16/8/2018 ông Nguyễn Thái L cho ông Bùi Văn T vay số tiền 2.000.000.000 (hai tỷ) đồng, không có lãi suất, trong thời hạn 05 ngày kể từ ngày 16/8/2018 đến ngày 20/8/2018 ông T phải trả số tiền trên cho ông L. Ông T có giao cho ông L 01 giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đứng tên ông Bùi Văn Ch (bố của ông T), địa chỉ 1181/6A khu phố Đ, phƣờng T, thị xã D, tỉnh Bình Dƣơng, hẹn nếu không trả đƣợc sẽ phát mãi tài sản để trả tiền cho ông L. Toàn bộ nội dung đƣợc thể hiện tại giấy vay tiền ngày 16/8/2018 do ông T viết, có ông Nguyễn Thái V chứng kiến và ký tên làm chứng, hai bên cùng ký tên lăn tay. Ông L giữ giấy vay tiền. Ngay khi ký giấy vay tiền ông L đã giao đủ 2.000.000.000 đồng tiền mặt cho ông T trƣớc sự chứng kiến của ông Nguyễn Thái V và ông T đã giao giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho ông L. Số tiền cho ông T vay là tiền của cá nhân ông L.

Ngày 20/8/2018 ông T không trả đƣợc tiền nên đến ngày 24/8/2018, ông T lập cho ông L 01 giấy cam kết trong đó thừa nhận: có nợ ông L 2.000.000.000 đồng hẹn 20/8/2018 trả nhƣng không thực hiện đƣợc nên cam đoan đến ngày 29/8/2018 ông T sẽ cùng gia đình khắc phục đủ 2.000.000.000 đồng trả cho ông L. Khi lập giấy không có ai làm chứng. Ông L và ông T cùng ký tên vào giấy cam kết. Ông L giữ giấy cam kết này.

Ngày 27/8/2018, ông L có viết 01 giấy nhận sổ đỏ với nội dung: trả lại giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của ông Bùi Văn Ch cho ông Bùi Văn Tr là anh họ của ông T, ông Tr nhận giấy và hiện nay đã giao lại ông Ch.

Ngày 29/8/2018, ông L có liên lạc với ông T nhƣng không đƣợc. Ngày 24/11/2018, ông Bùi Văn Ph là anh ruột của ông T đã giao trực tiếp cho ông L số tiền 1.620.000.000 đồng và lập biên bản giao nhận tiền, trong giấy ghi mục đích giao nhận tiền là trả tiền vay nợ cho em Bùi Văn T. Số tiền ông Ph giao cho ông T là tiền của ai ông T không biết. Hai bên ký tên lăn tay vào biên bản trên. Giấy này đƣợc lập thành hai bản, ông T và ông Ph mỗi ngƣời giữ 01 bản. Sau khi nhận tiền, ông L có ghi vào phía sau giấy vay tiền ngày 16/8/2018 nội dung: ngày 24/11/2018, ông L đã nhận lại 1.620.000.000 đồng của ông T trả, số tiền còn nợ lại 380.000.000 đồng. Từ đó đến nay, ông T không trả thêm đƣợc khoản tiền nào.

Nay ông Nguyễn Thái L yêu cầu ông Bùi Văn T trả số tiền còn nợ là 380.000.000 đồng. Không yêu cầu tính tiền lãi.

Chứng cứ do nguyên đơn cung cấp: Bản phô tô đối chiếu bản chính giấy vay tiền ngày 16/8/2018; Bản phô tô đối chiếu bản chính giấy cam kết ngày 24/8/2018; Bản phô tô đối chiếu bản chính giấy nhận sổ đỏ ngày 27/8/2018; Bản phô tô đối chiếu bản chính biên bản giao, nhận tiền ngày 24/11/2018.

- Đối với bị đơn ông Bùi Văn T: đã đƣợc Toà án thông báo tham gia tố tụng, tống đạt các văn bản tố tụng nhƣng ông Bùi Văn T không đến Toà án làm việc, không cung cấp lời khai, không có yêu cầu phản tố nào, không cung cấp chứng cứ để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình.

- Tại biên bản lấy lời khai ngày 23/5/2019, ngƣời có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Bùi Văn Ph trình bày: Ông Bùi Văn Ph là anh trai của ông Bùi Văn T, ông T hiện nay chƣa có vợ con. Ông Ph không biết việc vay tiền giữa ông L và ông T, tuy nhiên, ông T có dùng số tiền của mình là 1.620.000.000 đồng nhờ ông Ph trực tiếp trả cho ông L, hai bên có lập biên bản giao nhận tiền ngày 24/11/2018. Vì vậy ông Ph xác định không liên quan gì đến số tiền vay giữa hai bên. Ngoài ra ông Ph không có yêu cầu độc lập nào, không cung cấp chứng cứ gì thêm.

- Tại biên bản lấy lời khai ngày 03/6/2019, ngƣời làm chứng ông Nguyễn Thái V trình bày: Ông V là em trai của ông Nguyễn Thái L. Ông L có cho ông Bùi Văn T vay số tiền 2.000.000.000 đồng, không yêu cầu tính lãi suất, hẹn 05 ngày ông T sẽ trả tiền cho ông L, hai bên có lập giấy vay tiền, cùng ký tên lăn tay và ông V ký tên làm chứng, ngoài ra không còn ai làm chứng. Ngay sau khi lập giấy vay, ông L đƣa trực tiếp 2.000.000.000 đồng cho ông T và ông T giao cho ông L 01 giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của gia đình để đảm bảo cho việc vay tiền. Hiện nay, ông T đã trả đƣợc cho ông L số tiền 1.620.000.000 đồng, còn nợ 380.000.000 đồng. Ông L đã trả giấy chứng nhận quyền sử dụng đất lại cho gia đình ông T.

- Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Dĩ An:

Quá trình giải quyết vụ án từ khi thụ lý cho đến tại phiên tòa, Tòa án và nguyên đơn chấp hành đúng pháp luật về tố tụng dân sự, bị đơn, ngƣời có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đã đƣợc triệu tập hợp lệ nhƣng vẫn vắng mặt không có lý do. Căn cứ Điều 227, 228, 238 Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt nguyên đơn, bị đơn, ngƣời có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là đúng quy định.

Về nội dung: Xét thấy yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là có căn cứ, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giải quyết.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đƣợc thẩm tra tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

Về tố tụng: Căn cứ biên bản lấy lời khai ngày 30/5/2019, ông Bùi Văn Ch xác nhận là cha của ông Bùi Văn Ph, ông Bùi Văn T, ông đã nhận lại 01 giấy chứng nhận quyền sử dụng đất mang tên ông từ ông Nguyễn Thái L vào ngày 27/8/2018, ông không liên quan đến việc vay nợ giữa ông L và ông T. Căn cứ giấy xác nhận ngày 14/6/2019, bà Nguyễn Thị Mỹ Tr là vợ của ông Nguyễn Thái L. Số tiền ông L cho ông T mƣợn là tiền của cá nhân ông L, không phải là tài sản chung của vợ chồng. Do đó, Tòa án không đƣa ông Bùi Văn Ch và bà Nguyễn Thị Mỹ Tr vào tham gia tố tụng trong vụ án với tƣ cách ngƣời có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan.

Về sự có mặt của các đƣơng sự: Nguyên đơn ông Nguyễn Thái L, ngƣời làm chứng ông Nguyễn Thái V có đơn xin giải quyết vắng mặt, bị đơn ông Bùi Văn T, ngƣời có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Bùi Văn Ph đã đƣợc Tòa án triệu tập hợp lệ để tham gia phiên tòa vào các ngày 19/7/2019, ngày 08/8/2019 nhƣng ông Bùi Văn T, ông Bùi Văn Ph không đến. Căn cứ vào Điều 227, Điều 228, Điều 229, Điều 238 Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án xét xử vắng mặt ông Nguyễn Thái L, ông Nguyễn Thái V, ông Bùi Văn T, ông Bùi Văn Ph. Việc giải quyết yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn đƣợc xem xét trên cơ sở chứng cứ do nguyên đơn cung cấp và lời trình bày của ngƣời có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, ngƣời làm chứng.

Về nội dung: Nguyên đơn ông Nguyễn Thái L khởi kiện yêu cầu ông Bùi Văn T trả số tiền 380.000.000 (Ba trăm tám mƣơi triệu) đồng, không yêu cầu tính lãi suất.

Chứng cứ do nguyên đơn xuất trình là bản phô tô đƣợc tòa án đối chiếu bản chính giấy vay tiền ngày 16/8/2018 và bản phô tô đã đƣợc tòa án đối chiếu bản chính giấy cam kết ngày 24/8/2018 do ông Bùi Văn T viết, có chữ ký của ông Bùi Văn T, trong đó ông T thừa nhận có nhận của ông L số tiền 2.000.000.000 đồng, điều này phù hợp với lời trình bày của ngƣời làm chứng ông Nguyễn Thái V. Ông T cam kết đến ngày 20/8/2018 sẽ trả hết cho ông L số tiền trên, tuy nhiên đến ngày 20/8/2018 ông T không trả đƣợc.

Căn cứ vào bản phô tô đƣợc tòa án đối chiếu bản chính biên bản giao, nhận tiền ngày 24/11/2018 do nguyên đơn xuất trình có nội dung ông Bùi Văn Ph giao cho ông L số tiền 1.620.000.000 đồng mà theo ông Ph trình bày là tiền ông T đƣa cho mình với mục đích để trả tiền vay ông T nợ ông L, từ đó đến nay, ông T không trả thêm đƣợc khoản tiền nào. Nhƣ vậy, giữa ông T và ông L có quan hệ vay mƣợn tiền và ông T đã vi phạm điều kiện thỏa thuận thanh toán giữa hai bên, sau đó đã trả đƣợc 1.620.000.000 đồng nên còn nợ lại ông L số tiền 380.000.000 đồng.

Xét thấy quá trình tố tụng bị đơn vắng mặt và không xuất trình đƣợc chứng cứ gì về số tiền nợ cũng nhƣ không có bất kỳ ý kiến nào về việc không thừa nhận chữ ký và chữ viết trong các giấy tờ là của bị đơn. Do đó, ông L khởi kiện yêu cầu ông T hoàn trả số tiền 380.000.000 đồng là có cơ sở để chấp nhận và phù hợp quy định tại Điều 466 Bộ luật Dân sự năm 2015.

Trong giấy vay tiền ngày 16/8/2018, ông T có giao cho ông L 01 bản chính giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đứng tên Vũ Thị Th cập nhật tên ông Bùi Văn Ch, số tờ 03, số thửa 199C. Ngày 27/8/2018, ông L đã trả giấy chứng nhận trên cho ông Bùi Văn Ch theo tờ giấy nhận sổ đỏ do ông Bùi Văn Tr ký tên nhận thay ông Ch. Điều này đƣợc ông Ch thừa nhận tại biên bản lấy lời khai ngày 30/5/2019. Do đó, Tòa án không xem xét đối với Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất này.

Trong giấy vay tiền và giấy cam kết giữa hai bên không thỏa thuận về tiền lãi. Tại đơn khởi kiện và trong quá trình tố tụng, nguyên đơn cũng không yêu cầu tính tiền lãi, vì vậy Tòa án không đặt ra xem xét.

Từ những phân tích trên, có căn cứ chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn và chấp nhận đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Dĩ An, tỉnh Bình Dƣơng.

Về án phí dân sự sơ thẩm: Ông Bùi Văn T phải chịu theo quy định tại Điều 147 Bộ luật Tố tụng Dân sự và Khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thƣờng vụ Quốc Hội khóa 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào các Điều 26, 35, 144, 147, 227, 228, 229, 238, 271, 273 Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015; Điều 466 của Bộ luật Dân sự năm 2015; Khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thƣờng vụ Quốc Hội khóa 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Nguyễn Thái L đối với bị đơn ông Bùi Văn T về tranh chấp hợp đồng vay tài sản.

Buộc ông Bùi Văn T có trách nhiệm thanh toán cho ông Nguyễn Thái L số tiền 380.000.000 đồng (Ba trăm tám mƣơi triệu đồng).

Kể từ ngày 09/8/2019 cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Khoản 2 Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015.

2. Về án phí dân sự sơ thẩm: Ông Bùi Văn T phải chịu 19.000.000 đồng (Mƣời chín triệu đồng).

Trả lại cho ông Nguyễn Thái L toàn bộ số tiền tạm ứng án phí 9.500.000 đồng (Chín triệu năm trăm nghìn đồng) theo biên lai thu tiền số 0028419 ngày 17 tháng 4 năm 2019 của Chi cục thi hành án Dân sự thị xã Dĩ An, tỉnh Bình Dƣơng.

3. Các đƣơng sự vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 (mƣời lăm) ngày, kể từ ngày nhận đƣợc bản án hoặc bản án đƣợc niêm yết.

Trƣờng hợp bản án đƣợc thi hành án theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì ngƣời đƣợc thi hành án dân sự, ngƣời phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cƣỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và Điều 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án đƣợc thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự./.

Cỡ chữ