vanban.org

Bản án 28/2019/DS-ST — Tranh chấp hợp đồng vay tài sản

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của anh Nguyễn Linh C và chị Nguyễn Thị LN.

Buộc vợ chồng anh Nguyễn Cảnh Đ và chị Nguyễn Thị V, phải có trách nhiệm liên đới trả nợ cho vợ chồng anh Nguyễn Linh C và chị Nguyễn Thị LN, số tiền nợ gốc là: 110.000.000 đồng ( Một trăm, mười triệu đồng ) và tiền lãi suất là: 5.500.000 đồng ( Năm triệu, Năm trăm ngàn đồng ), tiền lãi tính đến ngà… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Tranh chấp hợp đồng vay tài sản — án dân sự — "Tranh chấp kiện đòi nợ"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của anh Nguyễn Linh C và chị Nguyễn Thị LN.
  • Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 26 Bộ luật Tố tụng dân sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN THANH CHƢƠNG
TỈNH NGHỆ AN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 28/2019/DS-ST
Ngày: 12/8/2019
Về việc: " Kiện đòi nợ ".

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THANH CHƢƠNG, TỈNH NGHỆ AN

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có;

- Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà; Ông Nguyễn Trọng Sơn.

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Lê Minh Sơn và ông Trần Đình Thanh

- Thư ký phiên toà: Ông; Nguyễn Xuân Tráng

Thư ký Toà án nhân dân huyện Thanh Chương, tỉnh Nghệ An.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thanh Chương tham gia phiên tòa :Bà; Trịnh Thị Ngọc Soa - Kiểm sát viên.

Ngày 12 tháng 8 năm 2019. Tại: Trụ sở Toà án nhân dân huyện Thanh Chương, tỉnh Nghệ An.

Xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 25/2019/TLST - DS ngày 21/5/2019, về việc kiện đòi nợ.

Theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 23/2019/QĐXXST-DS ngày 30/7/2019, giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: - Anh; Nguyễn Linh C, sinh năm 1979

- Chị; Nguyễn Thị LN, sinh năm 1983

Địa chỉ: Xóm 6, xã PT, huyện Thanh Chương, tỉnh Nghệ An.

Người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn anh Nguyễn Linh C:

Chị; Nguyễn Thị LN, sinh năm 1983 ( vợ )

Địa chỉ: Xóm 6, xã PT, huyện Thanh Chương, tỉnh Nghệ An.

Có mặt tại phiên tòa.

2. Bị đơn: - Anh; Nguyễn Cảnh Đ, sinh năm 1980

- Chị; Nguyễn Thị V, sinh năm 1982

Địa chỉ: Xóm Liên Chung, xã PT, huyện Thanh Chương, tỉnh Nghệ An

Vắng mặt tại phiên tòa

NỘI DUNG VỤ ÁN

Trong đơn khởi kiện và lời trình bày tại phiên tòa nguyên đơn trình bày như sau: Ngày 18 tháng 9 năm 2018, anh Nguyễn Cảnh Đ cùng vợ là chị Nguyễn Thị V, trú tại xóm Liên Chung, xã PT, huyện Thanh Chương, tỉnh Nghệ An đến nhà vợ chồng anh Nguyễn Linh C và chị Nguyễn Thị LN để vay số tiền là: 110.000.000 đồng ( Một trăm mười triệu đồng), thời hạn vay là 01 năm, theo thỏa thuận thì tiền lãi suất vay là 01%/01 tháng( 1.100.000 đồng/tháng ) và tiền lãi sẽ được trả hàng tháng.

Khi cho vay mượn tiền, vợ chồng chị Nguyễn Thị V và anh Nguyễn Cảnh Đ có viết giấy vay tiền, trong đó có thỏa thuận trả tiền lãi mỗi tháng là: 1.100.000 đồng ( Một triệu một trăm nghìn đồng ).

Khi vay, vợ chồng anh Nguyễn Cảnh Đ và chị Nguyễn Thị V hẹn một năm sau trả một nửa số tiền vay và sẽ trả tiền lãi hàng tháng. Tuy nhiên, sau khi vay được tiền thì vợ chồng anh Nguyễn Cảnh Đ và chị Nguyễn Thị V chỉ trả tiền lãi cho vợ chồng anh Nguyễn Linh C và chị Nguyễn Thị LN được 05 tháng, sau đó vợ chồng anh Nguyễn Cảnh Đ và chị Nguyễn Thị V không trả tiền lãi hàng tháng cho vợ chồng anh Nguyễn Linh C nữa như đã cam kết khi vay. Từ tháng 01 năm 2019 đến nay, vợ chồng anh Nguyễn Cảnh Đ không trả cho vợ chồng anh Nguyễn Linh C và chị Nguyễn Thị LN đồng tiền lãi nào. Vợ chồng anh Nguyễn Linh C đã rất nhiều lần yêu cầu vợ chồng anh Nguyễn Cảnh Đ và chị Nguyễn Thị V trả tiền lãi theo thỏa thuận nhưng vợ chồng anh Nguyễn Cảnh Đ và chị Nguyễn ThịVân không chịu trả.

Vì vậy, vợ chồng anh Nguyễn Linh C và chị Nguyễn Thị LN yêu cầu Tòa án nhân dân huyện Thanh Chương buộc vợ chồng anh Nguyễn Cảnh Đ và chị Nguyễn Thị V trả số tiền nợ gốc cho anh Nguyễn Linh C và chị Nguyễn Thị LN số tiền 110.000.000 đồng ( Một trăm, mười triệu đồng ) và tiền lãi từ ngày 18/02/2019 đến ngày 18/7/2019 là 05 tháng, thành tiền: 5.500.000 đồng và tiền lãi tiếp theo, yêu cầu trả cho vợ chồng, mà không yêu cầu trả cụ thể cho từng người.

Trong quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã nhiều lần triệu tập vợ chồng anh Nguyễn Cảnh Đ và chị Nguyễn Thị V đến Tòa án để làm việc công khai chứng cứ và hòa giải, song vợ chồng anh Nguyễn Cảnh Đ đều vắng mặt không có lý do, cho nên không thể tiến hành công khai chứng cứ và hòa giải.

Tại biên bản lấy lời khai ngày 09/7/2019 chị Nguyễn Thị V trình bày như sau:

Vợ chồng chị Nguyễn Thị V đã nhận được Thông báo thụ lý vụ án và các thông báo phiên hòa giải và công khai chứng cứ của Tòa án. Song vì hai vợ chồng bận công việc, nên không đến Tòa án làm việc được, vợ chồng cũng đã bàn bạc sẽ sắp xếp công việc để xuống Tòa án làm việc. Vợ chồng chị Nguyễn Thị V với vợ chồng anh Nguyễn Cảnh Đ là chỗ bạn bè thân thiết với nhau, cho nên trước đây giữa chị Nguyễn Thị V và chị Nguyễn Thị LN có đi cùng nhau vay một số tiền của người ở xã Thanh Nho, huyện Thanh Chương. Sau đó chị Nguyễn Thị V có vay chị Nguyễn Thị LN, số tiền 110.000.000 đồng ( Một trăm, mười triệu đồng ), khi vay có thỏa thuận lãi suất của ngân hàng là 1%/tháng và hẹn 01 năm sau sẽ trả, khi vay có viết giấy vay tiền; Sau đó chị Nguyễn Thị LN có đến nhà trao đổi với chồng chị là anh Nguyễn Cảnh Đ về việc chị đã vay tiền, chồng chị đã hỏi chị là có đúng đã vay không, chị trả lời có vay và chồng chị là anh Nguyễn Cảnh Đ mới ký nhận vào giấy vay nợ, chị là người trực tiếp đi vay về nhằm mục đích sinh hoạt của gia đình và chồng cũng đã biết đi vay. Sau khi vay vợ chồng vợ chồng chị đã trả được tiền lãi 05 tháng, chưa trả được tiền lãi theo thỏa thuận là trả hàng tháng, cho nên vợ chồng chị Nguyễn Thị LN mới khởi kiện. Nay vợ chồng chị Nguyễn Thị LN khởi kiện, vợ chồng chị sẽ có trách nhiệm trả cho vợ chồng chị Nguyễn Thị LN.

Đại diện Viện kiểm sát tham gia phiên tòa phát biểu ý kiến: Trong quá trình giải quyết vụ án, Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa đã tuân thủ đúng các quy định của pháp luật về mặt thủ tục tố tụng. Nguyên đơn đã tuân thủ đúng các quy định của pháp luật về tố tụng dân sự; còn bị đơn đã được triệu tập hợp lệ nhiều lần, song đều vắng mặt và đã có ý kiến.Còn về nội dung, đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng Điều 26, 35 và Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự. Điều 164, 166, 185, 288 Bộ luật dân sự. Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội, quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, xử: Buộc vợ chồng anh anh Nguyễn Cảnh Đ và chị Nguyễn Thị V, liên đới có trách nhiệm trả nợ cho vợ chồng chị Nguyễn Thị LN và anh Nguyễn Linh C, số tiền gốc là: 110.000.000 đồng và tiền lãi tính từ ngày 19/02/2019 đến 18/7/2019 là 05 tháng là 5.500.000 đồng và buộc chịu tiếp tiền lãi của tiền gốc theo thỏa thuận giữa hai bên; bị đơn phải chịu án phí theo quy định.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có tại hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên toà và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà. Hội đồng xét xử nhận định:

Trong quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã triệu tập nhiều lần để công khai chứng cứ và hòa giải, cũng như việc xét xử, song bị đơn là anh Nguyễn Cảnh Đ và chị Nguyễn Thị V đều nhiều lần vắng mặt, nên Tòa án không thể công khai chứng cứ và hòa giải, tại phiên tòa hôm nay bị đơn đã được tống đạt quyết định đưa vụ án ra xét hợp lệ, song vẫn vắng mặt tại phiên tòa và có đơn xin xử vắng mặt. Cho nên Tòa án vẫn xét xử bình thường theo quy định tại Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự.

Nội dung vụ án:

Ngày 18 tháng 9 năm 2018, anh Nguyễn Cảnh Đ cùng vợ là chị Nguyễn Thị V, trú tại xóm Liên Chung, xã PT, huyện Thanh Chương, tỉnh Nghệ An đến nhà vợ chồng anh Nguyễn Linh C và chị Nguyễn Thị LN để vay số tiền là: 110.000.000 đồng ( Một trăm mười triệu đồng), thời hạn vay là 01 năm, theo thỏa thuận thì tiền lãi suất vay là 01%/01 tháng ( 1.100.000 đồng/tháng ) và tiền lãi sẽ được trả hàng tháng. Quá trình trả lãi vợ chồng anh Nguyễn Cảnh Đ đã trả được cho vợ chồng anh Nguyễn Linh C đến ngày 22/01/2019 kể từ ngày vay là 05 tháng. Cho nên vợ chồng anh Nguyễn Linh C và chị Nguyễn Thị LN mới khởi kiện ra Tòa án.

Xét yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn:

Việc nguyên đơn khởi kiện yêu cầu vợ chồng bị đơn là anh Nguyễn Cảnh Đ và chị Nguyễn Thị V, trả số tiền nợ gốc và tiền lãi là có cơ sở. Bị đơn cũng thừa nhận ngày 18/9/2019 có vay của nguyên đơn số tiền 110.000.000 đồng và lãi suất thỏa thuận là 1%/tháng và trả tiền lãi hàng tháng, thời hạn vay là 01 năm; khi vay chị Nguyễn Thị V là người trực tiếp đi vay về nhằm mục đích sinh hoạt trong gia đình và anh Nguyễn Cảnh Đ cũng biết và sau đó đã ký vào giấy vay nợ. Song do bị đơn vi phạm trong việc thỏa thuận trả tiền lãi hàng tháng, cho nên nguyên đơn khởi kiện yêu cầu trả nợ trước thời hạn là có căn cứ. Bị đơn đã trả lãi từ ngày 18/9/2018 đến ngày 22/01/2019 là 05 tháng tiền lãi như hai bên thống nhất.

Xét ý kiến của bị đơn:

Bị đơn cũng thừa nhận là có vay của nguyên đơn số tiền 110.000.000 đồng và tiền lãi theo thỏa thuận là 1%/tháng và thời hạn vay là 01 năm; tiền lãi hàng tháng, bị đơn cũng thừa nhận là đã vi phạm trong việc trả lãi theo thỏa thuân và nguyên đơn khởi kiện nên đồng ý trả. Đối với tiền lãi, bị đơn cũng thừa nhận là đã trả được 05 tháng tiền lãi (tính từ ngày 18/9/2018 đến ngày 22/01/2019); như vậy tiền lãi tính từ ngày vay đến nay là 05 tháng, còn tiền lãi đang còn 05 tháng chưa trả (tính đến ngày 19/7/2019 ).

Xét ý kiến của Kiểm sát viên: Các ý kiến của Kiểm sát viên tại phiên tòa là có căn cứ, phù hợp với các chứng cứ có tại hồ sơ vụ án và đã được thẩm tra, tranh tụng tại phiên tòa.

Vì vậy cần buộc vợ chồng anh Nguyễn Cảnh Đ và chị Nguyễn Thị V, có trách nhiệm liên đới trả cho vợ chồng anh Nguyễn Linh C và chị Nguyễn Thị LN, số tiền nợ gốc là: 110.000.000 đồng ( Một trăm, mười triệu đồng ) và tiền lãi tính từ ngày 19/02/2019 đến ngày 18/7/2019 là 05 tháng theo lãi suất như đã thỏa thuận 1% là: 5.500.000 đồng ( năm triệu, năm trăm ngàn đồng ). Là hoàn toàn phù hợp với Điều 164, 166, 185, 288 Bộ luật dân sự. Vợ chồng anh Nguyễn Cảnh Đ và chị Nguyễn Thị V, tiếp tục chịu lãi theo lãi suất đã thỏa thuận

Về án phí: Vợ chồng anh Nguyễn Cảnh Đ và chị Nguyễn Thị LN, phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.

Yêu cầu của nguyên đơn được chấp nhận, cho nên trả lại tiền tạm ứng án phí cho nguyên đơn.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ vào: Khoản 3 Điều 26; Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự. Điều 164; 166, 185; 288 Bộ luật dân sự. Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội, quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Xử:

1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của anh Nguyễn Linh C và chị Nguyễn Thị LN.

2. Buộc vợ chồng anh Nguyễn Cảnh Đ và chị Nguyễn Thị V, phải có trách nhiệm liên đới trả nợ cho vợ chồng anh Nguyễn Linh C và chị Nguyễn Thị LN, số tiền nợ gốc là: 110.000.000 đồng ( Một trăm, mười triệu đồng ) và tiền lãi suất là: 5.500.000 đồng ( Năm triệu, Năm trăm ngàn đồng ), tiền lãi tính đến ngày 18/7/2019. Cụ thể như sau:

Anh Nguyễn Cảnh Đ có trách nhiệm trả số tiền nợ gốc cho vợ chồng anh Nguyễn Linh C và chị Nguyễn Thị LN, là: 55.000.000 đồng ( Năm mươi lăm triệu đồng ) và: 2.750.000 đồng ( Hai triệu, bảy trăm, năm mươi ngàn ) tiền lãi.

Chị Nguyễn Thị V có trách nhiệm trả số tiền nợ gốc cho vợ chồng anh Nguyễn Linh C và chị Nguyễn Thị LN, là: 55.000.000 đồng ( Năm mươi lăm triệu đồng ) và: 2.750.000 đồng ( Hai triệu, bảy trăm, năm mươi ngàn ) tiền lãi.

3. Về án phí:

3.1. Anh Nguyễn Cảnh Đ và chị Nguyễn Thị V, phải chịu: 5.775.000 đồng ( Năm triệu, bảy trăm, bảy mươi lăm ngàn đồng ) tiền án phí dân sự. Cụ thể: Chị Nguyễn Thị V, phải chịu: 2.887.500 đồng; anh Nguyễn Cảnh Đ, phải chịu: 2.887.500 đồng.

3.2. Trả lại cho chị Nguyễn Thị LN, số tiền tạm ứng án phí là: 2.860.000 đồng ( Hai triệu, tám t

21/5/2019 Chương, tỉnh Nghệ An.

Kể từ ngày 19/7/2019 anh Nguyễn Cảnh Đ và chị Nguyễn Thị V, còn phải tiếp tục chịu khoản tiền lãi của số tiền nợ gốc chưa thanh toán, theo mức lãi suất mà các bên thỏa thuận là 01%/tháng cho đến khi thanh toán xong khoản nợ gốc này.

Trường hợp bản án, được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Nguyên đơn có quyền kháng cáo lên Toà án cấp trên trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.

Bị đơn vắng mặt, có quyền kháng cáo lên Tòa án cấp trên trong hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản sao bản án hoặc niêm yết công khai.

Cỡ chữ