- Tranh chấp gì? Tranh chấp đất đai về đòi đất cho mượn, cho sử dụng nhờ, lấn chiếm... — án dân sự — "Đòi lại quyền sử dụng đất giữa ông Phạm Văn Ng và ông Nguyễn Văn Th"
- Tòa quyết gì? Điểm đ, khoản 1 Điều 12, khoản 6 Điều 15; điểm a khoản 2 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTV H14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
- Căn cứ chính? Điều 100 Luật Đất đai; Điều 144 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BT TỈNH BẾN TRE | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 28/2019/DS-ST Ngày: 25-6-2019 V/v tranh chấp “Đòi lại quyền sử dụng đất” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BT, TỈNH BẾN TRE
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Diễm Châu.
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Bà Phạm Thu Hồng;
2. Ông Phạm Văn Ninh.
- Thư ký phiên tòa: Ông Mai Chiến Trực -Thư ký Tòa án nhân dân thành phố BT, tỉnh Bến Tre.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố BT tham gia phiên tòa:
Bà Nguyễn Thị Trúc Thanh - Kiểm sát viên.
Vào ngày 25 tháng 6 năm 2019, tại trụ s Tòa án nhân dân thành phố BT tỉnh Bến Tre xét xử s th m c ng khai vụ án thụ lý số: 202/2018/TLST-DS, ngày 04 tháng 12 năm 2018, về việc tranh chấp “Đòi lại quyền sử dụng đất” theo uyết định đưa vụ án ra xét xử số: 36/2019/QĐXXST-DS, ngày 31 tháng 5 năm 2019, gi a các đư ng sự:
- Nguyên đơn: Phạm Văn Ng, sinh năm 1958 (có mặt)
N i cư trú: số 383/2 ấp 2, xã S, thành phố BT, tỉnh Bến Tre
- Bị đơn: Nguyễn Văn Th, sinh năm 1946 (vắng mặt)
N i cư trú: số 382/2 ấp 2, xã S, thành phố BT, tỉnh Bến Tre.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
Phạm Thị T, sinh năm 1950 (có mặt)
Nguyễn Hữu H, sinh năm 1985 (có mặt)
Cùng cư trú: số 382/2 ấp 2, xã S, thành phố BT, tỉnh Bến Tre.
Người đại diện theo ủy quyền của ng Th, bà T: Nguyễn Hữu H, sinh năm 1985 (có mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
* Theo đơn khởi kiện đề ngày 01/10/2018; đơn khởi kiện bổ sung ngày 19/4/2019, bản tự khai ngày 10/12/2018, cùng những lời khai tiếp theo cũng như tại phiên tòa nguyên đơn ông Phạm Văn Ng trình bày:
Phần đất đang tranh chấp thuộc thửa 549 (14) tại xã S, thành phố BT có nguồn gốc là của ng Nguyễn Vũ T1 bán cho ng Th và bà T, khoảng năm 1986 ng mua lại phần đất này của bà T và ng Th, khi mua bán kh ng làm giấy tờ, giá 3 chỉ vàng 24K, khi mua kh ng có đo đạc, ng Th nói khoảng 3 c ng, phần đất này kh ng có cắm trụ ranh, hiện trạng là đất trồng dừa. Trên phần đất này giáp với phần đất của ng Th (thửa 958 (14) có 1 con mư ng, ranh giới 2 thửa đất này là gi a mư ng, hai bên thỏa thuận là sử dụng chung con mư ng này để lấy nguồn nước và đất để đắp bờ dừa, chiều ngang của mư ng vào năm 1986 khoảng 1,5m đến 1,8m nhưng hiện nay khoảng 3m, ng sử dụng chỉ có 1m, ng Th sử dụng 2m. Ông và ng Th mỗi bên móc mư ng 1 năm, đến năm 1991 khi ng di dời nhà đi chỗ khác thì ng kh ng móc mư ng n a cho đến nay.
Năm 1991 ng được cấp GCN SDĐ gồm thửa 1907, 1908 (2) diện tích là 3.000m2, năm 1998 sau khi đo đạc lại thì diện tích đất của ng tăng lên từ 3.000m2 tăng lên 3.273m2, nguyên nhân tăng là do sai số về kỹ thuật đo và do ng kê khai thêm phần kênh giáp thửa 1265 (14) mà năm 1991 ng kh ng kê khai phần kênh này.
Năm 1998 ng được cấp đổi giấy CN SDĐ phần đất này với số thửa mới là 549 tờ bản đố số 14 diện tích 3.273m2, năm 2015 ng Th làm thủ tục sang tên qua cho con là Thụy N thì ng và ng Th kh ng thống nhất ranh với nhau, sau đó ng Th, bà T gửi đ n yêu cầu Ủy ban xã giải quyết, ngày 05/6/2015 Ủy ban xã giải quyết thì ng và ng Th thống nhất cặm ranh, sau đó cán bộ đo đạc của Văn phòng đăng ký đất đai BT đến đo đất để tách đất của ng Th cho con của ng Th, ng thống nhất với hồ s đo mà cán bộ đã đo ngày 27/8/2015 nên ký tên vào biên bản.
Năm 2018 ng tiến hành làm thủ tục đổi sổ đỏ và đo đạc đất thì phía ng Th kh ng đồng ý ký hiệp thư ng ranh cho ng và gia đình ng Th tranh chấp con mư ng, gia đình ng Th đã nhổ trụ ranh mà Ủy ban xã đã cắm theo sự thỏa thuận của hai bên ngày 05/6/2015 và cho rằng toàn bộ con mư ng là của gia đình ng, hiện nay gia đình ng Th có làm 1 hàng rào bằng lưới B40 phía đầu phần đất đang tranh chấp, ng kh ng có yêu cầu gì đối với phần lưới B40 này vì phía gia đình ng Th đồng ý tự di dời hàng rào này nếu Tòa án xác định đất là của ng.
Nay ng yêu cầu Tòa án giải quyết buộc ng Th, bà T và anh H phải trả cho ng phần đất diện tích 129,8m2 theo kết quả đo đạc của Chi nhánh văn phòng đăng ký đất đai cung cấp ngày 04/5/2019 tại thửa 549a tờ bản đố số 14, đối với phần đất giáp với thửa đất 959 (14) của Thụy N ng kh ng tranh chấp nên kh ng yêu cầu Tòa án giải quyết. Trước đây ng có yêu cầu chị N, anh Phong là con của ng Th trả đất cho ng nhưng hiện nay phần đất đang tranh chấp là do ng Th, bà T, anh H quản lý, sử dụng, chị N, anh Phong kh ng sống chung với ng Th và kh ng sử dụng phần đất này nên ng kh ng yêu cầu chị N, anh Phong trả đất cho ng.
Về chi phí xem xét, th m định tại chỗ và các chi phí tố tụng khác ng đồng ý giải quyết theo quy định của pháp luật.
* Tại các biên bản hòa giải, biên bản phiên họp công khai chứng cứ và hòa giải, quá trình giải quyết vụ án người đại diện theo ủy quyền của bị đơn, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan, anh Nguyễn Hữu H trình bày:
Nguồn gốc phần đất đang tranh chấp là của ng Nguyễn Vũ T1 bán cho cha mẹ anh, năm 1985 cha mẹ anh bán cho ng Ng phần đất này, diện tích khoảng 3 c ng đất, khi bán kh ng có làm giấy tờ, khi bán cha anh có chỉ ranh với ng Ng, ranh đất là từ mí bờ tr qua ng Bạch, toàn bộ con mư ng là của gia đình anh nhưng gia đình anh cho ng Ng sử dụng chung với gia đình anh, ng Ng móc mư ng là phải xin ý kiến của cha mẹ anh.
Năm 2015 cha mẹ anh cho chị gái anh là Thụy N phần đất tại thửa 958 (14), sau này chị N được cấp sổ đỏ là thửa 959 (14), khi làm hồ s sang tên thì ng Ng kh ng ký hiệp thư ng ranh nên cha mẹ anh gửi đ n yêu cầu Ủy ban xã giải quyết, sau đó Ủy ban xã ra tiến hành cặm ranh gi a cha mẹ anh và ng Ng, ng Ng đồng ý con mư ng là của cha mẹ anh nhưng do muốn làm thủ tục sang tên cho chị N được thuận lợi nên cha mẹ anh đồng ý cặm ranh bỏ ra h n 2,5 tất cho ng Ng, ng Th là người cặm ranh phía đầu trên phần của chị N, anh Ph là người cặm ranh phía đầu giáp với đất của ng Ng. Sau đó khoảng 1 tháng cha mẹ anh làm đ n yêu cầu Ủy ban đo đạc đất để sang tên cho chị N, khi cán bộ xuống đo đạc thì vẫn đo đạc theo nh ng trụ ranh mà Ủy ban xã giải quyết trước đó, do ng Th kh ng biết là có lệch ranh nên vẫn tiến hành làm thủ tục sang tên qua cho chị N mà kh ng có yêu cầu xác định lại ranh đất. Hiện nay trên phần đất đang tranh chấp có 1 đoạn gia đình anh đã làm hàng rào lưới B40, nếu h m nay Tòa án xác định phần đất đang tranh chấp là của ng Ng thì gia đình anh đồng ý tự tháo dỡ, kh ng yêu cầu Tòa án định giá và giải quyết hàng rào này.
Phần đất thửa 958 (14) là tài sản của cha mẹ anh do ng bà nội anh cho vào năm 1975, hiện nay thửa đất này là do cha mẹ anh và anh cùng quản lý, sử dụng, việc quyết định đối với thửa đất này là do cha mẹ anh và anh cùng quyết định, chị N, anh Ph đã được cha mẹ anh cho đất và kh ng sống cùng với cha mẹ anh nên chị N, anh Ph kh ng liên quan đến phần đất này.
Theo yêu cầu kh i kiện của ng Ng gia đình anh kh ng đồng ý trả đất vì con mư ng này là của gia đình anh, có sự xác nhận của nh ng người làm chứng giáp ranh và hồ s đo đạc trước đó cũng xác định phần đất này nằm trong sổ đỏ của cha mẹ anh. Phần ranh đất này do đội đo đạc đo là kh ng đúng với hiện trạng sử dụng đất của gia đình anh và ng Ng nên anh kh ng đồng ý với kết quả đo đạc năm 2015.
Về chi phí xem xét, th m định tại chỗ và các chi phí tố tụng khác ng đồng ý giải quyết theo quy định của pháp luật.
* Tại các biên bản hòa giải, biên bản phiên họp công khai chứng cứ và hòa giải, quá trình giải quyết vụ án người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan bà Phạm Thị T trình bày:
Vào năm 1985 vợ chồng bà có bán cho ng Ng 1 phần đất có diện tích khoảng 3.000m2, khi mua bán kh ng tiến hành đo đạc đất, kh ng cặm ranh nhưng khi UBND xã S giải quyết tranh chấp gi a vợ chồng bà và ng Ng thì hai bên có tiến hành cặm ranh, vợ chồng bà đồng ý cho ng Ng 2,5 tất đất con mư ng tính từ bờ đất của ng Ng xuống mư ng, sau đó vợ chồng bà có yêu cầu đội đo đạc của BT xuống đo đạc đất thì vẫn tiến hành đo ngay vị trí trụ ranh mà các bên đã thống nhất khi UBND xã hòa giải, sau đó ng Phạm Văn V có yêu cầu đo đạc đất lại ng bà cũng chỉ ranh đúng vị trí này, nay bà xác định toàn bộ con mư ng là của gia đình bà, bà kh ng đồng ý trả đất theo yêu cầu của ng Ng, còn các vấn đề khác bà đồng ý với ý kiến của anh H.
* Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố BT phát ý kiến giải quyết như sau:
- Về mặt hình thức: Việc tuân theo pháp luật của người tham gia tố tụng và Hội đồng xét xử là đúng theo quy định của Tố tụng dân sự năm 2015.
- Về giải quyết vụ án:
Căn cứ Điều 175 Bộ luật dân sự năm 2015; các Điều 105, 106, 166 và Điều 203 Luật đất đai năm 2013.
Chấp nhận toàn bộ yêu cầu kh i kiện của ng Phạm Văn Ng, buộc ng Nguyễn Văn Th và nh ng người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan gồm bà Phạm Thị T, anh Nguyễn H u H phải trả cho ng Ng phần đất thửa 549a diện tích 129,8m2 thuộc 1 phần thửa 549 (14) tại xã S, thành phố BT (theo hồ s đo đạc ngày 04/5/2019), trên đất kh ng có tài sản nên kh ng xem xét.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ s vụ án đã được th m tra tại phiên tòa, căn cứ kết quả tranh luận của tại phiên tòa, ý kiến của Kiểm sát viên. Hội đồng xét xử nhận định:
Về quan hệ tranh chấp và thẩm quyền giải quyết:
- Nguyên đ n ng Phạm Văn Ng kh i kiện yêu cầu ng Nguyễn Văn Th, bà Nguyễn Thị T, anh Phạm H u H trả lại cho ng phần đất thuộc 1 phần thửa 549 (14) tại xã S, thành phố BT, tỉnh Bến Tre do ng Ng đứng tên trong giấy CN SDĐ, trong quá trình giải quyết vụ án Tòa án xác định quan hệ tranh chấp là “Tranh chấp quyền sử dụng đất” nhưng tại phiên tòa h m nay Hội đồng xét xử xác định lại quan hệ tranh chấp trong vụ án này là tranh chấp “ Đòi lại quyền sử dụng đất” .
- Phần đất hai bên đang tranh chấp tọa lạc tại xã S, thành phố BT nên vụ án này thuộc th m quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố BT theo quy định tại khoản 1 Điều 203 Luật đất đai năm 2013; khoản 9 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a, c khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.
Về thủ tục tố tụng:
- Tại đ n kh i kiện ngày 01/10/2018 ng Ng yêu cầu ng Th, bà T, anh Phong, chị N, anh H trả cho ng phần đất có diện tích 129,8m2 thuộc 1 phần thửa 549 (14) tại xã S nhưng tại phiên tòa ng chỉ yêu cầu ng Th, bà T và anh H trả cho ng phần đất này. Hội đồng xét xử xét thấy các đư ng sự đều thống nhất tại phiên tòa, hiện tại phần đất đang tranh chấp do ng Th, bà T và anh H cùng quản lý, sử dụng, chị N, anh Ph kh ng chung sống cùng ng Th, bà T và anh H cũng khẳng định chị N, anh H kh ng liên quan gì đến phần đất này do đó xác định ng Th là bị đ n, bà T, anh H là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trong vụ án này, Hội đồng xét xử kh ng đưa chị N, anh Ph vào tham gia tố tụng là phù hợp với quy định của pháp luật.
- Ông Nguyễn Văn Th là bị đ n, bà Phạm Thị T là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan cùng ủy quyền cho anh Nguyễn H u H tham gia tố tụng nên anh H tham gia tố tụng trong vụ án với tư cách vừa là người đại diện theo ủy quyền của bị đ n và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đồng thời cũng là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trong vụ án.
- Vào ngày 19/4/2018 ng Th, bà T, anh H, chị N, anh Ph có đề nghị luật sư ng Trư ng Văn Tr làm người bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp cho các ng bà, tuy nhiên tại phiên tòa h m nay anh H kh ng yêu cầu ng Trọn tiếp tục bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp cho các ng bà tại phiên tòa nên Hội đồng xét xử kh ng đưa ng Trư ng Văn Tr tham gia tố tụng với tư cách là người bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của ng Th, bà T và anh H.
- Trong quá trình giải quyết vụ án cũng như tại phiên tòa h m nay, các đư ng sự đều thống nhất với các biên bản định giá tài sản ngày 24/01/2019, biên bản xem xét th m định tại chỗ ngày 13/3/2019; hồ s đo đạc ngày 04/5/2019 do Chi nhánh văn phòng đăng ký đất đai thành phố BT cung cấp nên Hội đồng xét xử xác định đây cũng là căn cứ để giải quyết vụ án.
Về nội dung tranh chấp:
- Về nguồn gốc đất đang tranh chấp:
Trong quá trình giải quyết vụ án cũng như tại phiên tòa các đư ng sự đều thống nhất phần đất đang tranh chấp thuộc 1 phần thửa 549 (14) được ký hiệu là thửa 549a (14), phần đất thửa 549 (14) là do ng Th, bà T chuyển nhượng cho ng Ng vào khoảng năm 1985-1986, do đó xác định thửa đất 549 (14) có nguồn gốc là của ng Th chuyển nhượng cho ng Ng.
- Về hiện trạng phần đất tranh chấp:
Theo biên bản xem xét th m định tại chỗ ngày 13/3/2019 và hồ s đo đạc 04/5/2019 do Chi nhánh văn phòng đăng ký đất đai thành phố cung cấp, xác định phần đất đang tranh chấp có diện tích 129,8m2 thuộc 1 phần thửa 549 (14) được ký hiệu thửa 549a (14), trên phần đất đang tranh chấp hiện trạng là 1 phần của con mư ng, có 1 đoạn rào lưới B40 do gia đình ng Th xây dựng, ngoài ra kh ng còn tài sản khác.
+ Phần đất đang tranh chấp có vị trí các điểm 11-10-2-14-15-11 có tứ cận như sau:
Đ ng giáp thửa số 549 (14) còn lại.
Tây giáp thửa số 549 (14) còn lại.
Nam giáp thửa số 549 (14) còn lại.
Bắc giáp thửa số 958 (14).
- Về nguyên nhân tranh chấp:
Tại phiên tòa các đư ng sự thống nhất khi chuyển nhượng đất hai bên kh ng tiến hành đo đạc, kh ng cặm trụ ranh và kh ng có giấy tờ xác định ranh đất, sau khi mua bán đất ng Ng và ng Th sử dụng chung con mư ng này và mỗi năm mỗi bên móc mư ng 1 lần, vào năm 2018 ng Ng tiến hành đổi giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thì ng Ng và ng Th kh ng thống nhất được ranh giới nên đã xảy ra tranh chấp.
- Về yêu cầu của nguyên đơn và căn cứ khởi kiện:
Ông Phạm Văn Ng yêu cầu ng Nguyễn Văn Th cùng bà T, anh H trả cho ng phần đất có diện tích 129,8m2 thuộc 1 phần thửa 549 (14) tại xã S, thành phố BT, tỉnh Bến Tre.
Căn cứ nguyên đ n kh i kiện: Vào năm 1986 khi mua bán đất hai bên đã thỏa thuận là mỗi bên sử dụng ½ con mư ng và tại biên bản cặm ranh ngày 05/6/2015 có sự chứng kiến của UBND xã S thì hai bên đã thống nhất cặm trụ ranh sau đó đã có đo đạc hồ s kỹ thuật ngày 27/8/2015, ngày 25/12/2015 và ng Th đã xác định phần đất đang tranh chấp là của ng.
- Về ý kiến của bị đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là không đồng ý với yêu cầu của nguyên đơn vì:
Ông Th cho rằng toàn bộ con mư ng là của gia đình ng, khi bán đất cho ng Ng ng kh ng có thỏa thuận bán con mư ng mà chỉ bán đất bờ cho ng Ng. Chứng cứ là trích lục bản đồ thửa 548, 547, 550 ngày 01/10/2001, giấy xác nhận của nh ng người làm chứng là bà Nguyễn Thị X, ng Hồ H u H1, bà Hồ Thị R, ng Trần Văn M, giấy xác nhận nguồn gốc đất ngày 11/10/2001, theo kết quả đo đạc ngày 27/8/2015, 25/12/2015 gia đình ng kh ng đồng ý vì kết quả đo đạc kh ng đúng với hiện trạng sử dụng đất của gia đình ng.
- Về quy trình cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của ông Ng, ông Th vào năm 1991:
Tại c ng văn số 544/CNBẾN TRE-TTLT ngày 24/5/2019 của Chi nhánh văn phòng đăng ký đất đai thành phố BT cho biết hồ s quy trình cấp giấy CN SDĐ các thửa đất 1906, 1907, 1908, 1909, 1910 (2) cấp vào năm 1991 của ng Ng và ng Th tại thời điểm này là cấp đồng loạt nên các giấy tờ như hồ s xét duyệt, tờ trình, quyết định cấp GCN SDĐ đã bị thất lạc nên kh ng cung cấp cho Tòa án được, do đó Hội đồng xét xử chỉ xem xét đến quá trình đăng ký, kê khai, sử dụng thửa đất và quy trình cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của ng Ng, ng Th từ sau năm 1991 cho đến khi phát sinh tranh chấp để làm căn cứ giải quyết vụ án.
- Về quá trình đăng ký, kê khai và sử dụng thửa đất và quy trình cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của ông Ng tại thửa 549 (14):
Vào ngày 15/10/1991 ng Ng được Ủy ban nhân dân thị xã BT (nay là thành phố BT) cấp giấy CN SDĐ gồm các thửa 1907, 1908 (2) tại xã S, thành phố BT với tổng diện tích đất là 3.000m2.
Vào năm 1997 sau khi lập lại bản đồ địa chính thì các thửa 1907, 1908, (2) mang số thửa mới là thửa 549 (14), theo sổ mục kê đất xã S lập ngày 30/12/1998 thì thửa mới này do ng Ng kê khai đăng ký sử dụng.
Ngày 06/11/1998 ng Ng được cấp đổi giấy CN SDĐ các thửa 1907, 1908 thành thửa mới là thửa 549 (14) diện tích là 3.273m2.
- Về quá trình đăng ký, kê khai và sử dụng thửa đất và quy trình cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của ông Th tại thửa số 958 (14):
Vào ngày 15/10/1991 ng Th được Ủy ban nhân dân thị xã BT (nay là Thành phố BT) cấp giấy CN SDĐ gồm các thửa 1906, 1090, 1910 (2) tại xã S, thành phố BT với tổng diện tích đất là 10.300m2.
Vào năm 1997 sau khi lập lại bản đồ địa chính thì các thửa 1906, 1090, 1910 (2) mang số thửa mới là thửa 550, 547, 548 (14), theo sổ mục kê đất xã S lập ngày 30/12/1998 thì các thửa mới này do ng Th kê khai đăng ký sử dụng.
Vào ngày 06/6/2005 ng Th được UBND thị xã BT cấp đổi lại giấy CN SDĐ thửa 550, 547, 548 (14).
Tại biên bản v/v đo đạc sửa sai theo hiện trạng sử dụng số 448/VPĐK-ĐĐBến Trere ngày 27/8/2015 của Văn phòng đăng ký quyền sử dụng đất tỉnh Bến Tre theo đó diện tích của các thửa đất 550 (14) diện tích 4.022m2 giảm còn 3.944,2m2; thửa 547 (14) gi y diện tích 200m2, thửa 548 (14) diện tích 7.604m2 tăng 7.706,9m2, các thửa 550, 547, 548 (14) được nhập lại có tổng diện tích là 11.851,1m2 sau đó bị hủy đồng thời tách thành 3 thửa đất mới là 958, 959, 960 (14).
Tại biên bản số 80/BBĐĐ- CTTNHH ĐĐÔNP ngày 25/12/2015 thì phần đất thửa 548 (14) số liệu mới thuộc thửa 958 (14) của ng Th điều chỉnh sửa sai diện tích từ 5.850,4m2 tăng lên diện tích là 5.854,6m2.
Ngày 12/5/2016 S Tài nguyên và M i trường tỉnh Bến Tre cấp giấy CN SDĐ, quyền s h u nhà và tài sản khác gắn liền với đất cho ng Th thửa 958 (14) diện tích 5.854,6m2, Nguyễn Thị Thụy N thửa 959 (14) diện tích 3.000,5m2, Nguyễn Thanh Ph thửa 960 (14) diện tích 3.000,2m2, nguồn gốc đất của chị N, anh Ph là nhận tặng cho từ ng Th.
Như vậy, phần đất của ng Ng từ năm 1991 đến năm 1998 là tăng 273m2 (từ 3.000m2 lên 3.273m2), phần đất của ng Th từ năm 1991 đến năm 2016 tăng 1.555m2 (từ 10.300m2 lên 11.855,3m2). Nguyên nhân diện tích đất của ng Ng và ng Th tăng là do vào năm 1991 khi tiến hành đo đạc các bên kh ng đo đạc, kê khai phần diện tích kênh giáp với các thửa đất 964, 965, 966, 497, 1265 để yêu cầu được cấp GCN SDĐ, đến năm 1998 thì cả ng Ng và ng Th đều kê khai phần diện tích kênh này vào đất của hai ng nên diện tích đất của cả hai đều tăng, điều này đã được các đư ng sự thống nhất tại phiên tòa.
Xét yêu cầu khởi kiện của ông Ng:
Tại biên bản xem xét, th m định tại chỗ ngày 13/3/2019 thì phía ng Th kh ng đồng ý để đội đo đạc tiến hành đo đạc thửa 958 (14) nên đội đo đạc tiến hành đo đạc thửa đất 549 (14) của ng Ng.
Theo biên bản số 80/BBĐĐ-CTTNHH ĐĐĐÔNP ngày 25/12/2015 thì thửa đất 958 (14) của ng Th đã được đo đạc, biên bản ngày 25/12/2015 và hồ s kỹ thuật thửa 958 (14) đã được lập đúng quy định của pháp luật có sự chứng kiến của ng Th, ng Th đồng ý ký tên vào biên bản điều chỉnh sửa sai theo hiện trạng thửa đất. Theo biên bản số 80/BBĐĐ-CTTNHH ĐĐĐÔNP thì thửa 958 (14) có diện tích từ 5.850,4m2 tăng lên là 5.854,6m2, do đó Hội đồng xét xử căn cứ vào kết quả đo đạc ngày 25/12/2015 để làm căn cứ xác định ranh giới gi a thửa 549 (14) và thửa 958 (14).
Theo hồ s đo đạc theo yêu cầu của Tòa án ngày 04/5/2019 thì phần đất đang tranh chấp được ký hiệu là thửa 549a (14) có diện tích là 129,8m2, phần đất này giáp với thửa đất 958 (14), hiện trạng là 1 phần của con mư ng.
Hội đồng xét xử xét thấy:
Vào ngày 05/6/2015 ng Th, bà T có tranh chấp ranh đất với ng Ng, sự việc đã được UBND xã S tiến hành hòa giải, sau khi hòa giải hai bên tiến hành xác định ranh có sự chứng kiến của cán bộ UBND xã S. Vào ngày 27/8/2015 ng Th yêu cầu đội đo đạc BẾN TRE tiến hành đo đạc sửa sai theo hiện trạng sử dụng để đo đạc lại thửa 550, 547, 548 (14), các đư ng sự đều thống nhất vị trí ranh theo vị trí ranh mà UBND xã và các bên đã cặm ngày 05/6/2015, diện tích 3 thửa sau khi đo là 11.851.1m2, biên bản đo đạc này ng Th, ng Ng và các chủ đất giáp ranh đều đồng ý ký tên.
Tiếp đó, ngày 22/12/2015 ng Phạm Văn Vẹn là chủ sử dụng thửa đất 492 (14) giáp ranh với thửa 548 (14) của ng Th có yêu cầu C ng ty TNHH ĐĐĐÔNP Nhuận Phát tiến hành đo đạc sửa sai theo hiện trạng thửa đất, tại biên bản số 80/BBĐĐ-CTTNHH ĐĐĐÔNP ngày 25/12/2015 thì thửa 958 (14) của ng Th có diện tích từ 5.850,4m2 tăng lên là 5.854,6m2, ng Th đồng ý ký tên vào biên bản đo đạc sửa sai này, bà T thừa nhận vợ chồng bà có tiến hành cặm ranh, khi cặm ranh vẫn đúng theo vị trí ranh đã xác định ngày 05/6/2015 và ngày 27/8/2015.
Như vậy, qua 2 lần đo đạc sửa sai ngày 27/8/2015 và ngày 25/12/2015 ng Th đều đồng ý và ký tên vào các biên bản này và vị trí ranh vẫn đúng theo vị trí ranh mà các bên đã cặm ngày 05/6/2015, diện tích thửa đất 548 (14) theo số liệu mới thuộc thửa 958 (14) là 5.854,6m2.
Như vậy, phần đất thuộc thửa 549 (14) của ng Ng có diện tích theo giấy CN SDĐ năm 1998 là 3.273m2 nhưng theo kết quả đo đạc ngày 04/5/2019 thì phần đất của ng Ng chỉ có diện tích là 3.059m2, nếu tính lu n phần tranh chấp là diện tích 129,8m2 tại thửa 549a, 7,8m2 tại thửa 549b, 2,9m2 tại thửa 549c, 52,5m2 tại thửa 549d thì tổng diện tích đất của ng Ng chỉ có 3.252m2 là vẫn còn thiếu 21m2.
ua đối chiếu ranh giới thửa đất 958 (14) tại biên bản các ngày 27/8/2015 (thửa cũ là 548 (14)), ngày 25/12/2015 và ranh giới thửa đất 958 (14) theo hồ s đo đạc ngày 04/5/2019 do Chi nhánh văn phòng cung cấp cho Tòa án, xác định phần đất đang tranh chấp có diện tích 129,8m2 hiện trạng là 1 phần của con mư ng thuộc về phần đất thửa 549 (14) do ng Ng đứng tên trong giấy CN SDĐ, phần đất đang tranh chấp kh ng nằm trên thửa đất 958 (14) của ng Th, do đó xác định phần đất đang tranh chấp có diện tích 129,8m2 là của ng Ng, vì vậy yêu cầu kh i kiện của ng Ng là có căn cứ nên Hội đồng xét xử chấp nhận.
Anh H cho rằng phần đất đang tranh chấp là của ng Th đã được cấp GCN SDĐ năm 1991 nhưng năm 2015 do muốn làm thủ tục sang tên cho con là N và Phong vì sợ tranh chấp với ng Ng kh ng sang tên được nên ng Th đã đồng ý cắm ranh để đo bỏ 1 phần con mư ng sang cho ng Ng để ng Ng ký hiệp thư ng ranh với ng Th.
Hội đồng xét xử xét thấy:
Lời trình bày này kh ng có c s để chấp nhận vì vào ngày 26/3/2016 ng Th mới tiến hành thủ tục tặng cho SDĐ cho chị N và anh Ph, nếu ng Ng có tranh chấp với ng thì ng có quyền làm đ n yêu cầu UBND xã S giải quyết như ng đã từng làm vào ngày 08/5/2015 và nếu Ủy ban xã giải quyết kh ng được thì gia đình ng cũng có quyền kh i kiện tại Tòa án để yêu cầu giải quyết tranh chấp. Gia đình ng Th đã kh ng tiến hành tranh chấp mà đồng ý thỏa thuận cặm ranh nên xác định ranh giới theo sự thống nhất ranh tại 2 biên bản số: 448/VPĐK-ĐĐ Bến Tre ngày 27/8/2015 và biên bản số: 80/BBĐĐ-CTTNHH ĐĐĐÔNP ngày 25/12/2015 là căn cứ để xác định ranh giới của thửa 549 (14) và 958 (14). Theo kết quả đo đạc này nếu tính lu n phần đang tranh chấp có diện tích 129,8m2 tại thửa 549a (14) thì thửa đất 958 (14) của ng Th có diện tích là 5.984,4m2 trong khi đó giấy CN SDĐ của ng Th có diện tích 5.854,6m2 là kh ng có căn cứ để chấp nhận.
Tại phiên tòa, anh H cho rằng phần đất này theo kết quả đo đạc ngày 27/8/2015 và ngày 25/12/2015 là sai so với hiện trạng sử dụng đất và trích lục bản đồ năm 2001 nhưng bà T trình bày tại các buổi đo đạc ngày 27/8/2015 và ngày 25/12/2015 vợ chồng bà đều có mặt và xác định ranh là tại vị trí ranh các bên thống nhất ngày 05/6/2015 do đó kh ng có căn cứ chấp nhận ý kiến của anh H, bên cạnh đó nếu cán bộ đo đạc đo kh ng đúng hiện trạng sử dụng đất của các bên thì phần đất của ng Th phải thiếu nhưng qua 2 lần đo đạc thì diện tích đất của ng Th đều tăng.
Ông Th có cung cấp cho Tòa án các biên bản xác nhận bà Nguyễn Thị X, ng Hồ H u H, bà Hồ Thị R, ng Trần Văn M xác định phần đất ng Ng mua của ng Th là 3.000m2 và xác định con mư ng là của ng Th. Hội đồng xét xử xét thấy lời xác nhận của bà Nguyễn Thị X, ng Hồ H u H, bà Hồ Thị R, ng Trần Văn M kh ng phù hợp với các tài liệu, chứng cứ có trong hồ s vụ án nên kh ng thể chấp nhận lời xác nhận của nh ng người làm chứng này.
Đối với thửa 549b diện tích 7,8m2 ng Ng kh ng yêu cầu ng Th trả, thửa 549c, 549d giáp với đất của chị N ng Ng kh ng yêu cầu Tòa án giải quyết nên kh ng xét đến.
Từ nh ng phân tích trên cho thấy ng Ng kh i kiện yêu cầu ng Th trả đất có diện tích 129,8m2 thuộc thửa 549 (14) là có căn cứ nên được Hội đồng xét xử xem xét chấp nhận, do đó cần buộc ng Th, bà T, anh H cùng trả cho ng Ng phần đất có diện tích 129,8m2 thuộc thửa 549 (14) theo vị trí các điểm 11, 10, 2, 14, 15, 11 theo hồ s đo đạc do Chi nhánh văn phòng đăng ký đất đai cung cấp ngày 04/5/2019.
Trên phần đất đang tranh chấp có 1 đoạn ng Th rào lưới B40, tại Tòa anh H đồng ý tự tháo dỡ, các đư ng sự kh ng yêu cầu Tòa án giải quyết vấn đề bồi thường chi phí hỗ trợ di dời nên Hội đồng xét xử kh ng xét đến là phù hợp.
Về chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ và các chi phí tố tụng khác:
Tại phiên tòa các đư ng sự đều thống nhất giải quyết theo quy định của pháp luật, ng Ng đã nộp tạm ứng chi phí là: 1.796.000đ (Một triệu bảy trăm chín mư i sáu ngàn đồng) do yêu cầu kh i kiện của ng Ng được xem xét chấp nhận nên ng Th, bà T, anh H mỗi người phải hoàn trả lại cho ng Ng số tiền 598.600đ là phù hợp quy định tại Điều 157, 165 Bộ luật tố tụng dân sự.
Đối với ý kiến của Kiểm sát viên:
Đề nghị chấp nhận yêu cầu kh i kiện của ng Ng về việc buộc ng Th, bà T, anh H trả lại cho ng Ng phần đất có diện tích 129,8m2 thuộc thửa 549a (14) là phù hợp với các tài liệu, chứng cứ có trong hồ s vụ án nên được chấp nhận.
Về án phí dân sự sơ thẩm không có giá ngạch:
Căn cứ vào các Điều 144, 147 Bộ luật tố tụng dân sự; điểm đ khoản 1 Điều 12, Điều 15, điểm b khoản 2 Điều 27 Nghị quyết số: 326/2016/UBẾN TREV H14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ uốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án.
Yêu cầu kh i kiện của ng Ng được xem xét chấp nhận nên ng Ng được hoàn lại tiền tạm ứng án phí là đã nộp.
Do yêu cầu kh i kiện của ng Ng được xem xét chấp nhận nên ng Th, bà T, anh H phải chịu án phí, do ng Th, bà T là người cao tuổi nên được miễn án phí, anh H phải đóng án phí là 300.000đ (Ba trăm ngàn đồng).
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 3 Điều 100, Điều 166, các Điều 170, 203 Luật đất đai năm 2013.
Điều 175; khoản 2 Điều 468 Bộ luật dân sự năm 2015.
Khoản 9 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, khoản 1 Điều 36, điểm a, c khoản 1 Điều 39, 144, 147, 157, 158, 163, 164, 165, 273 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.
Điểm đ, khoản 1 Điều 12, khoản 6 Điều 15; điểm a khoản 2 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTV H14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Xử:
1. Chấp nhận yêu cầu kh i kiện tranh chấp “Đòi lại quyền sử dụng đất” của ng Phạm Văn Ng đối với ng Nguyễn Văn Th, bà Phạm Thị T, anh Nguyễn H u H về việc đòi lại phần đất có diện tích 129,8m2 thuộc 1 phần thửa 549 (14) được ký hiệu là thửa 549a (14) tại xã S, thành phố BT, tỉnh Bến Tre.
2. Buộc ng Nguyễn Văn Th, bà Phạm Thị T, anh Nguyễn H u H phải trả cho ng Phạm Văn Ng phần đất có diện tích 129,8m2 thuộc 1 phần thửa 549 (14) được ký hiệu là thửa 549a (14) tại xã S, thành phố BT, tỉnh Bến Tre. Ghi nhận ng Nguyễn Văn Th, bà Phạm Thị T, anh Nguyễn H u H đồng ý di dời hàng rào lưới B40 trên thửa đất 549a (14), kh ng yêu cầu Tòa án giải quyết chi phí di dời.
Phần đất có vị trí tại các điểm 11, 10, 2, 14, 15, 11 theo hồ s đo đạc ngày 04/5/2019. Phần đất có tứ cận:
Đ ng giáp thửa số 549 (14) còn lại.
Tây giáp thửa số 549 (14) còn lại.
Nam giáp thửa số 549 (14) còn lại.
Bắc giáp thửa số 958 (14).
(Có hồ s đo đạc ngày 04/5/2019 kèm theo)
Ông Phạm Văn Ng, ng Nguyễn Văn Th có nghĩa vụ liên hệ với c quan Nhà nước có th m quyền để làm thủ tục điều chỉnh lại giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.
3. Ông Nguyễn Văn Th, bà Phạm Thị T, anh Nguyễn H u H mỗi người phải hoàn trả cho ng Ng chi phí tố tụng là 598.600đ (Năm trăm chín mư i tám ngàn sáu trăm đồng).
Keå töø ngaøy baûn aùn coù hieäu löïc phaùp luaät (đối với các trường hợp c quan thi hành án có quyền chủ động ra quyết định thi hành án) hoặc kể từ ngày coù ñôn yeâu caàu thi haønh aùn của người được thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong, tất cả các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật dân sự năm 2015.
4. Về án phí dân sự s th m kh ng có giá nghạch:
Ông Ng được hoàn lại số tiền tạm ứng án phí là đã nộp là 750.000đ (Bảy trăm năm mư i ngàn đồng) theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí số 0021735 ngày 30/11/2018 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Bến Tre.
Anh Nguyễn H u H phải đóng 300.000đ (Ba trăm ngàn đồng) tiền án phí.
Ông Th, bà T là người cao tuổi nên được miễn toàn bộ án phí.
5. Các đư ng sự có mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày tuyên án.
Tröôøng hôïp baûn aùn ñöôïc thi haønh theo quy ñònh taïi Ñieàu 2 luaät Thi haønh aùn daân söï thì ngöôøi ñöôïc thi haønh aùn daân söï, ngöôøi phaûi thi haønh aùn coù quyeàn thoûa thuaän thi haønh aùn, quyeàn yeâu caàu thi haønh aùn, töï nguyeän thi haønh aùn hoaëc bò cöôõng cheá thi haønh aùn theo quy ñònh taïi caùc Ñieàu 6, 7 vaø Ñieàu 9 luaät Thi haønh aùn daân söï, thôøi hieäu thi haønh aùn ñöôïc thöïc hieän theo quy ñònh taïi Ñieàu 30 luaät thi haønh aùn daân söï. Nôi nhaän:
| - TAND tænh Beán Tre; - VKSND thành phố BT; - Chi cuïc THADS thành phố BT; - Caùc ñöông söï; - Löu hoà sô vuï aùn. | TM. HOÄI ÑOÀNG XEÙT XÖÛ SÔ THAÅM Thaåm phaùn – Chuû toïa phieân toøa Nguyễn Thị Diễm Châu |