vanban.org

Bản án 28/2018/HS-ST — Hình sự

TAND Quận 10, TP. Hồ Chí Minh Tuyên án 11/04/2018 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố: Bị cáo Trần Quốc H phạm tội: “Cướp giật tài sản”.

Xử phạt bị cáo Trần Quốc H 03 (ba) năm 06 (sáu) tháng tù, thời hạn phạt tù tính từ ngày 26/10/2017. Phạt bổ sung bị cáo 10.000.000 (mười triệu) đồng. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Trần Quốc H - phạm tội cướp giật tài sản (điều 136 Bộ luật hình sự năm 1999)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Trần Quốc H phạm tội: “Cướp giật tài sản”.
  • Căn cứ chính? Điều 136 Bộ luật Hình sự; Điều 46 Bộ luật Hình sự; Điều 136 Bộ luật Hình sự phạt bổ sung
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 28/2018/HS-ST
Ngày 11 – 4 – 2018

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 10, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Cao Thanh Hùng

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Nguyễn Đức

2. Ông Nguyễn Tuấn Minh

Thư ký phiên tòa: Ông Đặng Văn Quyết

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 10, Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Ông Hoàng Nam Bắc, Kiểm sát viên

Ngày 11 tháng 04 năm 2018, tại trụ sở Tòa án nhân Quận 10, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số 12/2018/TLST-HS ngày 26 tháng 02 năm 2018, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 12/2018/QĐXXST-HS ngày 28 tháng 03 năm 2018 đối với bị cáo:

Trần Quốc H, sinh ngày 20/7/1994 tại Thành phố Hồ Chí Minh; nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: 521/98/18 đường Cách Mạng Tháng Tám, Phường A, Quận B; Thành phố C; Nơi cư trú: 521/98/18 đường Cách Mạng Tháng Tám, Phường A, Quận B, Thành phố C; nghề nghiệp: không, trình độ văn hóa (học vấn): 08/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Trần Quốc V (chết) và bà Nguyễn Thị Đ; tiền sự: không; tiền án: 01, ngày 03/3/2014 bị Công an Quận 10 bắt về hành vi “Trộm cắp tài sản”, bị Tòa án nhân dân Quận 10 xử phạt 01 năm 06 tháng tù giam (Theo Bản án hình sự sơ thẩm số 75/2014/HSST ngày 12/6/2014); bị bắt giữ ngày 26/10/2017. Bị cáo có mặt tại phiên tòa.

- Bị hại: Bà Nguyễn Thị D, sinh năm 1988 (vắng mặt)

Địa chỉ: 60/11 đường Lê Văn Phan, Phường A, quận B, Thành phố H.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ và diễn biễn tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 11 giờ 25 phút ngày 26/10/2017, bị cáo Trần Quốc H điều khiển xe môtô biển số 59L1-324.96 lưu thông trên đường Sư Vạn Hạnh thì thấy bà Nguyễn Thị D đang điều khiển xe môtô chạy ngược chiều lại, trong túi áo bên trái có để 01 điện thoại di động hiệu Oppo nên bị cáo H có ý định chiếm đoạt tài sản của bà D. Khi bà D đi đến trước nhà số 812 Sư Vạn Hạnh, Phường A, Quận B thì bị cáo H áp sát phía bên trái bà D rồi dùng tay phải giật chiếc điện thoại và tăng ga chạy thoát. Ngay khi đó, bà D cùng quần chúng truy đuổi, bắt giữ được bị cáo H với phương tiện, vật chứng giải giao cho Công an Phường 12, Quận 10. Công an Phường 12, Quận 10 lập hồ sơ chuyển đến Cơ quan điều tra Công an Quận 10 xử lý. Tại Cơ quan cảnh sát điều tra Công an Quận 10, bị cáo Trần Quốc H khai nhận hành vi phạm tội như trên. Vật chứng của vụ án:

- 01 điện thoại di động hiệu Oppo, Công an Phường 12, Quận 10 đã trả lại tài sản cho bị hại là bà Nguyễn Thị D. Nhận lại tài sản, bà D không có yêu cầu gì khác.

- 01 xe môtô biển số 59L1-324.96, qua xác minh người đứng tên chủ sở hữu hợp pháp là bà Phạm Thị V. Năm 2015, bà V bán cho bà Nguyễn Thị Đ. Ngày 26/10/2017, bà Đ cho bị cáo H mượn xe để đi mua đồ ăn, sau đó bị cáo H sử dụng xe vào việc phạm tội, bà Đ không biết nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Quận 10 trả lại chiếc xe trên cho bà Đ là có cơ sở. Tại bản Cáo trạng số 15/CT-VKS ngày 23 tháng 02 năm 2018 của Viện kiểm sát nhân dân Quận 10 đã truy tố bị cáo Trần Quốc H về tội: “Cướp giật tài sản” theo điểm d khoản 2 Điều 171 Bộ luật Hình sự. Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 10 đề nghị Hội đồng xét xử xử phạt bị cáo Trần Quốc H từ 03 năm 06 tháng đến 04 năm tù giam và phạt bị cáo từ 10.000.0000 (mười triệu) đồng đến 15.000.000 (mười lăm triệu) đồng.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định: [1] Bị cáo có hành vi dùng thủ đoạn nguy hiểm là sử dụng xe môtô có phân khối lớn, lợi dụng sự sơ hở của người khác nhanh chóng công khai cướp giật tài sản của họ ngay trên đường phố; do đó cáo trạng truy tố bị cáo về tội “Cướp giật tài sản”, theo điểm d khoản 2 là có cơ sở. Tuy nhiên hành vi phạm tội của bị cáo được thực hiện vào khoảng 11 giờ 25 phút ngày 26/10/2017. Do đó căn cứ vào khoản 1 Điều 7 của Bộ luật Hình sự năm 1999 (đã được sửa đổi, bổ sung năm 2009) thì Viện kiểm sát nhân dân Quận 10 phải truy tố bị cáo Huy về tội: “Cướp giật tài sản” theo điểm d khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Hình sự năm 1999 (đã được sửa đổi, bổ sung năm 2009) chứ không phải truy tố bị cáo H theo d khoản 2 Điều 171 của Bộ luật Hình sự năm 2015. [2] Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội không chỉ xâm phạm đến quyền sở hữu hợp pháp về tài sản của công dân mà còn xâm hại đến trật tự công cộng, an toàn giao thông. Ngoài ra, bị cáo đã bị kết án, chưa được xóa án tích nay lại tiếp tục phạm tội do cố ý. Đây là trường hợp tái phạm là tình tiết tăng nặng được quy định tại điểm g khoản 1 Điều 48 của Bộ luật Hình sự năm 1999 (đã được sửa đổi, bổ sung năm 2009). Do vậy cần phải bị xử phạt nghiêm minh bằng luật hình với hình phạt tương xứng tính chất, mức độ do hành vi phạm tội và nhân thân của bị cáo gây ra. Hội đồng xét xử xét thấy cần thiết phải cách ly bị cáo ra ngoài xã hội một thời gian nhất định để cải tạo giáo dục bị cáo thành người tốt cho xã hội, đồng thời cũng để răn đe, giáo dục và phòng ngừa chung, ngoài ra áp dụng khoản 5 Điều 136 Bộ luật Hình sự phạt bổ sung bị cáo một số tiền để sung quỹ Nhà nước.

Tuy nhiên khi quyết định hình phạt, Hội đồng xét xử có xem xét trong quá trình điều tra và tại phiên tòa hôm nay bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải và tài sản bị chiếm đoạt đã được thu hồi giao trả cho người bị hại nên khi quyết định hình phạt có xem xét, chiếu cố giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo.

Về trách nhiệm dân sự: Bị hại bà Nguyễn Thị D đã nhận lại tài sản và không yêu cầu giải quyết về trách nhiệm dân sự nên Hội đồng xét xử không xét.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 1 Điều 7 của Bộ luật Hình sự năm 1999 (đã được sửa đổi, bổ sung năm 2009);

Căn cứ vào điểm d khoản 2 và khoản 5 Điều 136, điểm g và p khoản 1 Điều 46 và điểm g khoản 1 Điều 48 của Bộ luật Hình sự năm 1999 (đã được sửa đổi, bổ sung năm 2009);

Căn cứ vào khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự và Điều 23 Nghị quyết số 326 ngày 30/12/2016 quy định về án phí, lệ phí của Tòa án;

- Tuyên bố: Bị cáo Trần Quốc H phạm tội: “Cướp giật tài sản”.

- Xử phạt bị cáo Trần Quốc H 03 (ba) năm 06 (sáu) tháng tù, thời hạn phạt tù tính từ ngày 26/10/2017.

- Phạt bổ sung bị cáo 10.000.000 (mười triệu) đồng.

- Về trách nhiệm dân sự: Không có gì phải giải quyết.

- Bị cáo chịu án phí hình sự sơ thẩm 200.000 (hai trăm nghìn) đồng.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người phải thi hành án dân sự có quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Bị cáo, bị hại có quyền kháng cáo bản án. Thời hạn kháng cáo là 15 ngày; đối với bị cáo thì tính từ ngày tuyên án; đối với bị hại vắng mặt tại phiên tòa thì tính từ ngày được giao hoặc ngày niêm yết bản án./.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Cỡ chữ