vanban.org

Bản án 28/2018/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Xuân Lộc, tỉnh Đồng Nai Tuyên án 04/04/2018 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố các bị cáo Hỏa Văn M và Lê Ngọc Th phạm tội “Cướp giật tài sản”

Xử phạt bị cáo Hỏa Văn M 06 (Sáu) năm tù. Tổng hợp với hình phạt 01 (một) năm tù về tội Trộm cắp tài sản theo Bản án số 155/2017/HSST ngày 26/12/2017 của Tòa án nhân dân huyện Xuân Lộc, tỉnh Đồng Nai, buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt chung của hai bản án là 07 (Bảy) năm tù. Thời hạn tù tính từ n… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Hỏa Văn Mạnh cùng đồng phạm - phạm tội cướp giật tài sản (điều 136 Bộ luật hình sự năm 1999)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố các bị cáo Hỏa Văn M và Lê Ngọc Th phạm tội “Cướp giật tài sản”
  • Căn cứ chính? Điều 46 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN XUÂN LỘC
TỈNH ĐỒNG NAI
–––––––––––––––

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 28/2018/HS-ST
Ngày 04-4-2018

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN XUÂN LỘC, TỈNH ĐỒNG NAI

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Lễ

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Trần Văn Xuân.

Bà Huỳnh Thị Mỹ Trang.

- Thư ký phiên tòa: Ông Đinh Văn Tiến - Thẩm tra viên Tòa án nhân dân huyện Xuân Lộc, tỉnh Đồng Nai.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Xuân Lộc, tỉnh Đồng Nai tham gia phiên tòa: Ông Phan Quang Hùng - Kiểm sát viên.

Ngày 04 tháng 4 năm 2018 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Xuân Lộc, tỉnh Đồng Nai xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 21/2018/TLST-HS ngày 12 tháng 02 năm 2018 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 29/2018/QĐXXST-HS ngày 20 tháng 3 năm 2018 đối với các bị cáo:

1. Hỏa Văn M, sinh năm: 1993 tại Đồng Nai;

Nơi cư trú: ấp T, xã X, huyện X, tỉnh Đồng Nai;

Nghề nghiệp: Không; Trình độ văn hoá: 09/12;

Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam;

Con ông Hỏa Văn V - Sn: 1949 và bà Mai Thị T, sinh năm: 1957; Vợ con: Chưa có;

Tiền án: 01- Ngày 25/6/2015, bị Tòa án nhân dân huyện Xuân Lộc xử phạt 01 năm 06 tháng tù về tội “Cướp giật tài sản” tại Bản án số 74/2015/HSST.

Tiền sự: Không;

Nhân thân: Ngày 26/12/2017 bị Tòa án nhân dân huyện Xuân Lộc, tỉnh Đồng Nai xử phạt 01 năm tù về tội Trộm cắp tài sản tại Bản án số 155/2017/HSST.

Bị bắt tạm giam từ ngày 24/9/2017 đến nay (có mặt).

2. Lê Ngọc Th, sinh năm: 1991 tại Đồng Nai;

Nơi cư trú: Ấp T, xã X, huyện X, tỉnh Đồng Nai;

Nghề nghiệp: Không; Trình độ văn hoá: 06/12;

Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Phật; Quốc tịch: Việt Nam;

Con ông Lê S - Sn: 1965 và bà Nguyễn Thị Ng, sinh năm: 1968; Vợ: Nguyễn Thị Bích Th- Sn: 1988; Có 02 người con, Sn: 2016;

Tiền án, Tiền sự: Không;

Nhân thân: Ngày 18/6/2013, bị Chủ tịch UBND huyện Xuân Lộc xử phạt hành chính đưa vào cai nghiện bắt buộc tại Trung tâm chữa bệnh giáo dục - Lao động xã hội tỉnh Đồng Nai theo quyết định 1699/QĐ-UBND (đã được xóa tiền sự)

Bị bắt tạm giam từ ngày 24/9/2017 đến nay (có mặt).

- Bị hại:

1. Chị Lê Thị H, Sn: 1993 (Vắng mặt).

Trú tại: Tổ 4, ấp B, xã S, huyện X, tỉnh Đồng Nai.

2. Chị Nguyễn Thị Tú U, Sn: 2000 (Vắng mặt).

Trú tại: Tổ 1, ấp 6, xã Xuân T, huyện X, tỉnh Đồng Nai

3. Chị Lại Thị L, Sn: 1978 (Có mặt).

Trú tại: Tổ 1, ấp 2, xã X, huyện C, tỉnh Đồng Nai

- Người đại diện hợp pháp cho chị Lê Thị Tú U:

Bà Châu Thị H, Sn: 1977, là mẹ ruột (Vắng mặt).

Trú tại: Tổ 1, ấp 6, xã Xuân T, huyện X, tỉnh Đồng Nai

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án:

1. Anh Nguyễn Thanh T, Sn: 1989 (Vắng mặt).

Trú tại: Khu phố 6, thị trấn Gi, huyện X, tỉnh Đồng Nai.

2. Chị Bùi Thị Hoàng N, Sn: 1975 (Vắng mặt).

Trú tại: Thôn 2B, xã Đông H, huyện Đ, tỉnh Bình Thuận

3. Ông Hỏa Văn V, Sn: 1949 (Có mặt).

Trú tại: Ấp T, xã Xuân T, huyện X, tỉnh Đồng Nai.

4. Chị Nguyễn Thị Bích Th, Sn: 1988 (Có mặt).

Trú tại: Ấp T, xã X, huyện X, tỉnh Đồng Nai.

- Người làm chứng:

1. Anh Lê Thanh S, Sn: 1995 (Vắng mặt).

Trú tại: Tổ 9, ấp B, huyện X, tỉnh Đồng Nai.

2. Chị Lê Thái Huyền Tr, Sn: 1978 (Vắng mặt).

Trú tại: Ấp B, xã X, huyện C, tỉnh Đồng Nai.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Từ ngày 03/09/2017 đến ngày 23/09/2017 các bị cáo Hỏa Văn M và Lê Ngọc Th đã thực hiện 03 vụ cướp giật tài sản trên địa bàn huyện Xuân Lộc, cụ thể như sau:

Vụ thứ nhất: Sáng ngày 03/9/2017, Hỏa Văn M điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave S, biển số 60B5-070.62 chở Lê Ngọc Th đi chơi tại khu vực xã Xuân Tâm, huyện Xuân Lộc, tỉnh Đồng Nai. Trên đường đi về, Th bàn bạc với M cùng nhau thực hiện cướp giật tài sản để bán lấy tiền tiêu xài thì M đồng ý. Khoảng 11 giờ 30 phút cùng ngày, khi đi đến đoạn đường trước quán ăn Vườn Xoài thuộc khu phố 7, thị trấn Gia Ray thì thấy chị Lê Thái Huyền Tr điều khiển xe mô tô chở chị Lại Thị Lngồi phía sau, M điều khiển xe mô tô vượt song song phía bên trái ép sát xe chị Tr, Th ngồi sau dùng tay phải giật giỏ xách của chị L, rồi M nhanh chóng tăng ga bỏ chạy về hướng xã Xuân Trường, huyện Xuân Lộc để tẩu thoát. Khi đi đến khu vực ấp Bàu Sen, xã Xuân Trường, huyện Xuân Lộc kiểm tra giỏ xách thì thấy có 01 bóp da màu nâu, bên trong có để số tiền 4.600.000 đồng cùng một số giấy tờ tùy thân của chị L. Th và M chia nhau mỗi người được số tiền 2.300.000 đồng và vứt lại giỏ xách, bóp da cùng toàn bộ giấy tờ của chị L trên đường.

Vụ thứ hai: Sáng ngày 21/9/2017, Hỏa Văn M điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave S, biển số 60B5-070.62 chở Lê Ngọc Th cùng đi uống thuốc điều trị cai nghiện ma túy (Methadone) tại thị xã Long Khánh. Trên đường đi về xã Xuân Trường, Th bàn bạc với M cùng nhau thực hiện cướp giật tài sản để bán lấy tiền tiêu xài, thì M đồng ý. Khoảng 11 giờ 45 phút cùng ngày, khi đi đến ngã ba Gia Tỵ, thuộc ấp Gia Tỵ, xã Suối Cao thì nhìn thấy chị Lê Thị H đang ngồi trên xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave RSX, màu đỏ, trên tay chị H đang cầm 01 điện thoại di động nên M điều khiển xe vượt song song phía bên trái ép sát xe chị H, Th ngồi sau dùng tay phải giật điện thoại di động hiệu Apple Iphone 6, màu vàng mà chị H, rồi M nhanh chóng tăng ga bỏ chạy về hướng UBND xã Suối Cao để tẩu thoát. Sau đó, M và Th đi đến cửa hàng mua bán điện thoại di động “Tùng Quân” tại khu phố 6, thị trấn Gi do anh Ngô Thanh T làm chủ bán được với số tiền 600.000 đồng. M và Th chia nhau mỗi người được 300.000 đồng.

Vụ thứ ba: Sáng ngày 23/9/2017, Hỏa Văn M điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave S, biển số 60B5-070.62 chở Lê Ngọc Th cùng đi uống thuốc điều trị cai nghiện ma túy (methadone) tại thị xã Long Khánh. Trên đường đi về, Th bàn bạc với M cùng nhau thực cướp giật tài sản để bán lấy tiền tiêu xài, thì M đồng ý. Khoảng 10 giờ 30 phút cùng ngày, M và Th đi đến khu vực thuộc ấp 6, xã Xuân Tâm thì cùng nhìn thấy chị Nguyễn Thị Tú Uđang điều khiển xe đạp điện đi từ hướng thị trấn Gia Ray về xã Xuân Tâm, trên cổ chị U có đeo 01 sợi dây chuyền bằng vàng nên M điều khiển xe vượt song song phía bên trái ép sát xe chị U, lúc này Th ngồi sau dùng tay phải giật, sợi dây chuyền vàng, dạng dây mắt xích, mặt dây chuyền hình thánh giá, loại vàng 18k, trọng lượng 01 chỉ 02 phân 03 ly, rồi M nhanh chóng tăng ga bỏ chạy về hướng xã Xuân Hưng để tẩu thoát. Sau đó, M và Th đi đến tiệm vàng Tuấn Diễm thuộc thôn 2B, xã Đ, huyện Đ, Bình Thuận do chị Bùi Thị Hoàng N làm chủ, bán sợi dây chuyền được số tiền 2.337.000 đồng. Số tiền bán dây chuyền vàng cướp giật được, M và Th chia nhau tiêu xài.

Vật chứng vụ án:

- 01 nón bảo hiểm màu đen, phía sau nón có in dòng chữ Yamaha, thu giữ trên người Hỏa Văn M.

- 01 điện thoại di động nhãn hiệu Apple Iphone 5S, màu trắng, thu giữ trên người Hỏa Văn M.

- 01 điện thoại di động nhãn hiệu Apple Iphone 6, màu vàng (Gold).

- 01 sợi dây chuyền vàng 18K, hình dạng mắt xích và 01 mặt dây chuyền bằng vàng 18K

- 01 (một) xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave S, màu đỏ - đen - xám, biển số 60B5-070.62.

- Số tiền 4.600.000 đồng; 01 bóp da màu nâu và 01 túi xách màu hồng, (không thu giữ được)

Trách nhiệm dân sự:

- Bị hại chị Lại Thị L yêu cầu Hỏa Văn M và Lê Ngọc Th liên đới bồi thường số tiền 4.640.000 đồng

- Bị hại chị Lê Thị H và chị Nguyễn Thị Tú U đã nhận lại tài sản, không yêu cầu gì về dân sự.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án anh Ngô Thanh T yêu cầu Hỏa Văn M và Lê Ngọc Th liên đới bồi thường số tiền 600.000 đồng; chị Bùi Thị Hoàng N yêu cầu Hỏa Văn M và Lê Ngọc Th liên đới bồi thường số tiền 2.337.000 đồng.

Tại bản kết luận định giá tài sản ngày 03/10/2017 của Hội đồng định giá trong tố tụng hình sự thuộc UBND huyện Xuân Lộc, kết luận: Giá trị 01 bóp da màu nâu là 20.000 đồng; 01 túi xách màu hồng là 20.000 đồng; 01 điện thoại di động Apple Iphone 6 là 5.000.000 đồng; 01 sợi dây chuyền vàng 18k (1,09 chỉ) là 2.725.000 đồng và 01 mặt dây chuyền vàng 18k (0,138 chỉ) hình thánh giá là 345.000 đồng.

Tại bản cáo trạng số: 34/CT-VKS-HS, ngày 12/02/2018 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Xuân Lộc, tỉnh Đồng Nai đã truy tố các bị cáo Hỏa Văn M và Lê Ngọc Th về tội “Cướp giật tài sản” theo điểm d khoản 2 Điều 136 của Bộ luật hình sự năm 1999.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố các bị cáo Hỏa Văn M và Lê Ngọc Th về tội Cướp giật tài sản và đề nghị áp dụng điểm d khoản 2 Điều 136 Bộ luật hình sự năm 1999 sửa đổi, bổ sung năm 2009; điểm b, p khoản 1 Điều 46, điểm g khoản 1 Điều 48, Điều 51, Điều 53 Bộ luật hình sự năm 1999, sửa đổi bổ sung năm 2009, xử phạt bị cáo Hỏa Văn M từ 05 năm đến 06 năm tù. Tổng hợp với hình phạt 01 (một) năm tù về tội Trộm cắp tài sản theo Bản án số 155/2017/HSST ngày 26/12/2017 của Tòa án nhân dân huyện Xuân Lộc, tỉnh Đồng Nai, buộc bị cáo chấp hành hình phạt chung của hai bản án; Xử phạt bị cáo Lê Ngọc Th từ 04 năm đến 05 năm tù; Buộc các bị cáo phải liên đới bồi thường cho các bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đến vụ án và xử lý vật chứng vụ án theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Tại phiên tòa các bị cáo Hỏa Văn M và Lê Ngọc Th khai nhận đã thực hiện hành vi như nội dung bản cáo trạng mô tả, thể hiện: Từ ngày 03/9/2017 đến ngày 23/09/2017 các bị cáo Hỏa Văn M và Lê Ngọc Th đã cùng nhau thực hiện 03 vụ cướp giật tài sản trên địa bàn huyện Xuân Lộc, cụ thể như sau:

Vụ thứ nhất: . Khoảng 11 giờ 30 phút ngày 03/9/2017, tại đoạn đường trước quán ăn Vườn Xoài thuộc khu phố 7, thị trấn Gia Ray, bị cáo Hỏa Văn M và Lê Ngọc Th cướp giật được 01 giỏ xách của chị Lại Thị L, bên trong có số tiền 4.600.000 đồng. Trị giá tài sản chiếm đoạt là 4.640.000 đồng.

Vụ thứ hai: Khoảng 11 giờ 45 phút ngày 21/9/2017, tại đoạn đường ngã ba Gia Tỵ, thuộc ấp Gia Tỵ, xã Suối Cao, bị cáo Hỏa Văn M và Lê Ngọc Th cướp giật giật được 01 điện thoại di động hiệu Apple Iphone 6, màu vàng của chị Lê Thị H. Trị giá tài sản chiếm đoạt là 5.000.000 đồng

Vụ thứ ba: Khoảng 10 giờ 30 phút ngày 23/9/2017, tại khu vực thuộc ấp 6, xã Xuân Tâm, bị cáo Hỏa Văn M và Lê Ngọc Th cướp giật được sợi dây chuyền vàng, dạng dây mắt xích, mặt dây chuyền hình thánh giá, loại vàng 18k, trọng lượng 01 chỉ 02 phân 03 ly của chị Nguyễn Thị Tú U. Trị giá tài sản chiếm đoạt là 3.070.000 đồng;

Các bị cáo sử môtô nhãn hiệu Honda Wave S, biển số 60B5-070.62 làm phương tiện phạm tội. Như vậy, hành vi của các bị cáo Hỏa Văn M và Lê Ngọc Th đã đủ yếu tố cấu thành tội “Cướp giật tài sản” theo quy định tại điểm d khoản 2 Điều 136 của Bộ luật hình sự năm 1999 được sửa đổi, bổ sung năm 2009.

Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Các bị cáo M và Th phạm tội nhiều lần. Bị cáo M phạm tội thuộc trường hợp tái phạm đây là tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm g khoản 1 Điều 48 Bộ luật hình sự.

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Các bị cáo thành khẩn khai báo, ăn ăn hối cải; gia đình bị cáo Th tự nguyện nộp tiền để bồi thường thiệt hại, tại phiên tòa bị hại chị Lại Thị L đề nghị giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo vì tuổi đời các bị cáo còn trẻ, bị cáo Th có 02 con còn nhỏ, đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm b, p khoản 1, khoản 2 Điều 46 Bộ luật hình sự.

Đây là vụ án đồng phạm giản đơn, trong đó bị cáo Th là người khởi xướng và cùng bị cáo M thực hiện hành vi phạm tội. Tuy nhiên, ngày 25/6/2015 bị cáo M đã bị Tòa án nhân dân dân huyện Xuân Lộc xử phạt 01 năm 06 tháng tù về tội “Cướp giật tài sản” chưa được xóa án tích, mà bị cáo lại tiếp tục phạm tội “Trộm cắp tài sản” và “Cướp giật tài sản” nên khi quyết định hình phạt mức hình phạt đối với bị cáo M phải cao hơn bị cáo Th.

Hành vi của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, trực tiếp xâm phạm đến quyền sở hữu về tài sản của người khác được pháp luật bảo vệ và xâm phạm an ninh trật tự tại địa phương. Do đó, cần phải áp dụng hình phạt tù, cách ly các bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian để răn đe, giáo dục và phòng ngừa chung.

Bị cáo Hỏa Văn M đang chấp hành hình phạt 01 (một) năm tù về tội Trộm cắp tài sản theo Bản án số 155/2017/HSST ngày 26/12/2017 của Tòa án nhân dân huyện Xuân Lộc, tỉnh Đồng Nai nên cần tổng hợp với hình phạt của bản án mới để buộc bị cáo chấp hành hình phạt chung cho cả hai bản án theo quy định tại Điều 51 của Bộ luật hình sự.

Đối với anh Ngô Thanh T Và chị Bùi Thị Hoàng N đã mua tài sản của bị cáo M và Th nhưng anh T, chị N không biết tài sản đó là do phạm tội mà có nên không xem xét xử lý anh T, chị N là phù hợp

Đối với ông Hỏa Văn V là chủ sở hữu xe mô tô biển số 60B5-070.62 việc M sử dụng xe mô tô làm phương tiện phạm tội nhưng ông V không biết M sử dụng xe mô tô làm phương tiện phạm tội nên Cơ quan CSĐT Công an huyện Xuân Lộc đã trao trả xe mô tô 60B5-070.62 cho ông và không đưa ra hình thức xử lý là phù hợp.

Về trách nhiệm dân sự:

- Bị hại chị Lê Thị H và chị Nguyễn Thị Tú U đã nhận lại tài sản, không yêu cầu gì về dân sự nên không xét.

- Bị hại chị Lại Thị L yêu cầu Hỏa Văn M và Lê Ngọc Th liên đới bồi thường số tiền 4.640.000 đồng; Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án anh Ngô Thanh T yêu cầu Hỏa Văn M và Lê Ngọc Th liên đới bồi thường số tiền 600.000 đồng; chị Bùi Thị Hoàng N yêu cầu Hỏa Văn M và Lê Ngọc Th liên đới bồi thường số tiền 2.337.000 đồng.Tổng số tiền các bị cáo phải liên đới bồi thường là 7.577.000 đồng. Xét thấy các yêu cầu này là phù hợp quy định của pháp luật nên chấp nhận.

Trước khi mở phiên tòa vợ của bị cáo Lê Ngọc Th là chị Nguyễn Thị Bích Th tự nguyện giao nộp số tiền 3.788.500 đồng để bồi thường thiệt hại nên tiếp tục tạm giữ số tiền này để đảm bảo thi hành án. Như vậy, phần bồi thường thiệt của bị cáo Th cho L, anh T, chị N đã thực hiện xong.

Về vật chứng vụ án: 01 nón bảo hiểm màu đen, phía sau nón có in dòng chữ Yamaha, 01 điện thoại Apple Iphone 5S thu giữ trên người Hỏa Văn M không liên quan đến hành vi phạm tội nên trả lại cho bị cáo M. Đối với các vật chứng khác cơ quan cảnh sát công an huyện Xuân Lộc đã trả lại cho các chủ sở hữu là phù hợp

Đề nghị của Kiểm sát viên tại phiên tòa phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên chấp nhận.

Về hành vi, Quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự.

Về án phí: Các bị cáo thực hiện hành vi phạm tội và bị kết án nên phải nộp án phí hình sự sơ sơ thẩm và án phí dân sự sơ thẩm theo quy định pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Tuyên bố các bị cáo Hỏa Văn M và Lê Ngọc Th phạm tội “Cướp giật tài sản”

Căn cứ vào điểm d khoản 2 Điều 136; điểm p khoản 1, khoản 2 Điều 46; điểm g khoản 1 Điều 48; Điều 51; Điều 53 Bộ luật hình sự năm 1999, được sửa đổi bổ sung năm 2009.

Xử phạt bị cáo Hỏa Văn M 06 (Sáu) năm tù.

Tổng hợp với hình phạt 01 (một) năm tù về tội Trộm cắp tài sản theo Bản án số 155/2017/HSST ngày 26/12/2017 của Tòa án nhân dân huyện Xuân Lộc, tỉnh Đồng Nai, buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt chung của hai bản án là 07 (Bảy) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày 24/9/2017.

Căn cứ vào điểm d khoản 2 Điều 136; điểm b, p khoản 1, khoản 2 Điều 46; điểm g khoản 1 Điều 48; Điều 53 Bộ luật hình sự năm 1999, được sửa đổi bổ sung năm 2009.

Xử phạt bị cáo Lê Ngọc Th 04 (Bốn) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày 24/9/2017.

Về vật chứng vụ án: Căn cứ Điều 41 Bộ luật hình sự, Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự: Trả lại cho bị cáo Hỏa Văn M 01 nón bảo hiểm màu đen, phía sau nón có in dòng chữ Yamaha; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Apple Iphone 5S (Theo biên bản bàn giao tang vật ngày 12/02/2018)

Về trách nhiệm dân sự: Căn cứ Điều 42 của Bộ luật hình sự năm 1999 được sửa đổi, bổ sung năm 2009; các Điều 357, 584, 585, 586, 587, 589 Bộ luật dân sự;

Buộc các bị cáo Hỏa Văn M và Lê Ngọc Th liên đới bồi thường cho bị hại chị Lại Thị L số tiền 4.640.000 đồng, chia phần mỗi bị cáo phải bồi thường cho chị L số tiền 2.320.000 (Hai triệu ba trăm hai mươi ngàn) đồng.

Buộc các bị cáo Hỏa Văn M và Lê Ngọc Th liên đới bồi thường cho anh Ngô Thanh T số tiền 600.000 (Sáu trăm ngàn) đồng, chia phần mỗi bị cáo phải bồi thường cho anh Tsố tiền 300.000 (Ba trăm ngàn) đồng.

Buộc các bị cáo Hỏa Văn M và Lê Ngọc Th liên đới bồi thường cho chị Bùi Thị Hoàng N số tiền 2.337.000 đồng, chia phần mỗi bị cáo phải bồi thường chị Bùi Thị Hoàng N số tiền 1.168.500 (Một triệu một trăm sáu mươi tám ngàn năm trăm) đồng.

Tiếp tục tạm giữ số tiền 3.788.500 (Ba triệu bảy trăm tám mươi tám ngàn năm trăm) đồng do vợ bị cáo Lê Ngọc Th là chị Nguyễn Thị Bích Th nộp theo biên lai thu số 004817 ngày 04/4/2018 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Xuân Lộc để đảm bảo thi hành án đối với phần bồi thường thiệt hại của bị cáo Lê Ngọc Th cho chị Lại Thị L, anh Nguyễn Thanh T và chị Bùi Thị Hoàng N.

Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến khi thi hành án xong, tất cả các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật dân sự.

Trường hợp quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Về án phí: Căn cứ Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị Quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về Án phí, lệ phí Tòa án.

Buộc bị cáo Hỏa Văn M phải nộp 200.000 (Hai trăm ngàn) đồng tiền án phí hình sự sơ thẩm và 378.000 (Ba trăm bảy mươi tám) đồng tiền án phí dân sự sơ thẩm. Buộc bị cáo Lê Ngọc Th phải nộp 200.000 (Hai trăm ngàn) đồng tiền án phí hình sự sơ thẩm

Các bị cáo, chị Lại Thị L, chị Nguyễn Thị Bích Th, ông Hỏa Văn V được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Đương sự vắng mặt được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc niêm yết bản án.

Cỡ chữ