- Tranh chấp gì? án hình sự — "Hình sự - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn T phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Nghị quyết số 01/2013/NQ-HĐTP Hướng dẫn áp dụng điều 60 của…; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ỨNG HÒA –TP HÀ NỘI | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 28/2018/HS-ST Ngày: 25-5-2018 |
NHÂN DANH
NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ỨNG HÒA – TP HÀ NỘI
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Bùi Thanh Minh
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Hạ Tuấn và ông Đặng Viết Côi
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Duyên – Thư ký Tòa án nhân dân
huyện Ứng Hoà, thành phố Hà Nội.
-Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Ứng Hòa tham gia phiên toà:
Bà Nguyễn Thị Khuyến -Kiểm sát viên.
Ngày 25 tháng 5 năm 2018 tại Tòa án nhân dân huyện Ứng Hòa, TP. Hà Nội xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 29/2018/TLST-HS ngày 27 tháng 4 năm 2018 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 29/2018/QĐXXST-HS ngày 14 tháng 5 năm 2018 đối với bị cáo:
Nguyễn Văn T - sinh năm 1992; Nơi ĐKHKTT: Thôn D, xã Đ, huyện Ư, TP. Hà Nội; nghề nghiệp: làm ruộng; trình độ văn hoá: 9/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn N và bà Nghiêm Thị H; Vợ, con:chưacó;tiền án,tiềnsự:không.
Nhân thân: Ngày 22/5/2013, bị Chủ tịch UBND huyện Ứng Hoà, thành phố Hà Nội ra Quyết định áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở chữa bệnh bắt buộc, ngày 17/6/2015, trở về địa phương.
Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 12/3/2018 đến ngày 21/3/2018, hiện tại ngoại tại địa phương. (Có mặt tại phiên tòa).
2.2. Người bị hại: Ông Dƣơng Hồng T1 – sinh năm 1965 (vắng mặt)
Nơi ĐKHKTT: Thôn H1, xã Đ1,huyệnP,tỉnh Hưng Yên.
2.3 Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Ông Đào Xuân T2 – sinh năm 1947(vắng mặt); Nơi ĐKHKTT: xã Đ2,huyệnP,tỉnh Hưng Yên.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 19 giờ ngày 12/3/2018, Nguyễn Văn T - sinh năm 1992 ở thôn D, xã Đ, huyện Ư,TP. Hà Nội đi xe buýt từ Giáp Bát về đến cầu Hậu Xá, thị trấn Vân Đình thì xuống xe với mục đích tìm xem có ai để tài sản sơ hở thì trộm cắp. Để thực hiện mục đích trên, T đã mang theo 01 vam phá khoá và 01 cờ lê. T đi lang thang đến dãy nhà trọ của ông Trịnh Xuân T3 ở xóm Bệnh viện thuộc Thanh Ấm, thị trấn Vân Đình thì phát hiện cổng ngõ của dãy nhà trọ mở, trong sân có 01 chiếc xe mô tô Honda Wave biển kiểm soát (BKS): 89G1 - 095.66 của anh Dương Hồng T1 – sinh năm 1965 ở Phù Cừ, Hưng Yên dựng trước cửa phòng số 02, đầu xe quay vào trong. Quan sát không có ai để ý, T tiến lại gần chiếc xe mô tô, dùng vam cho vào ổ khoá điện và dùng cờ lê đặt vào đầu vam làm tay công phá khoá điện của xe. Sau đó, T cất vam và cờ lê vào túi quần đang mặc rồi dắt xe mô tô BKS: 89G1 - 095.66 ra ngõ và nổ máy đi theo hướng cầu Hậu Xá đi Phương Tú rồi rẽ xuống Đống Long, Hoà Lâm. Khi đến gần cầu Đống Long, T dừng xe lại, dùng vam phá khoá mở cốp xe xem có tài sản gì thì phát hiện trong cốp xe có 01 ví da đã cũ. T mở ra xem thấy bên trong có 01 giấy đăng ký xe và một số giấy tờ khác nên T để vào cốp xe và điều khiển xe đi tiếp về hướng thôn Du Đồng, Đại Hùng. Khi về đến đường thôn Du Đồng, Đại Hùng, T bị lực lượng Công an thị trấn Vân Đình phối hợp với Đội Cảnh sát điều tra về trật tự xã hội - Công an huyện Ứng Hoà đang làm nhiệm vụ tuần tra, kiểm tra hành chính và đưa về trụ sở làm việc. Biết không thể che dấu được, Nguyễn Văn T đã đầu thú và khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình. Cùng ngày, anh Dương Hồng T1 sau khi phát hiện bị mất chiếc xe mô tô trên đã trình báo tại Công an thị trấn Vân Đình.
* Vật chứng thu giữ:
- 01 xe m« t« Honda Wave BKS: 89G1 - 095.66; số khung: 387257, số máy: 5386271, xe đã qua sử dụng.
- 01 đầu vam mũi dẹt 02 cạnh đầu hình lục giác dài 07 cm.
- 01 cờ lê 10 bằng kim loại màu trắng.
- 01 ví da đã qua sử dụng không có nhãn hiệu, bên trong có 01 đăng ký xe mô tô, 01 bảo hiểm xe mô tô mang tên Đào Xuân Thuỷ và 01 thẻ bảo hiểm y tế mang tên Dương Hồng T1 cùng ở Phù Cừ, Hưng Yên, Hà Nội.
Ngày 13/3/2018, Cơ quan CSĐT - Công an huyện Ứng Hoà đã ra Yêu cầu định giá tài sản số 24 đối với chiếc xe m« t« Honda Wave BKS: 89G1 - 095.66; số khung: 387257, số máy: 5386271; 01 ổ khoá điện xe và 01 chiếc ví da.
Tại kết luận định giá tài sản số 18 ngày 14/3/2018 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng huyện Ứng Hoà kết luận: chiếc xe m« t« Honda Wave BKS: 89G1 - 095.66; số khung: 387257, số máy: 5386271, có giá trị là 10.500.000 (mười triệu năm trăm nghìn đồng; Thay 01 ổ khoá điện của xe mô tô có giá trị 150.000đ; 01 chiếc ví da đã qua sử dụng: không đồng.
Với hành vi nêu trên, tại bản Cáo trạng số: 27/CT-VKS ngày 27 tháng 4 năm 2018 Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân huyện Ứng Hòa đã truy tố bị cáo Nguyễn Văn T về tội: “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 của BLHS.
Tại phiên toà: Bị cáo đã thừa nhận hành vi như bản Cáo trạng đã nêu.
Đại diện Viện kiểm sát đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 173 BLHS; điểm i, s khoản 1 Điều 51; Điều 65 BLHS xử phạt bị cáo T từ 09 đến 12 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 18 đến 24 tháng. Áp dụng Điều 47 BLHS, Điều 106 BLTTHS tịch thu 01 vam phá khóa bằng kim loại có 01 đầu dẹt hai cạnh, 01 đầu lục giác và 01 cờ lê bằng kim loại màu trắng trên có dòng chữ CHOME-VANADIUM 10. Bị cáo phải nộp án phí theo quy định.
Căn cứ vào những chứng cứ và tài liệu đã được thẩm tra tại phiên toà; kết quả tranh luận tại phiên toà, trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện các chứng cứ và tài liệu, ý kiến của Kiểm sát viên, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác .
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Tại phiên toà bị cáo nhận tội như nội dung bản Cáo trạng đã nêu. Xét lời nhận tội của bị cáo phù hợp với lời trình bày của bị hại; vật chứng đã thu giữ được cùng các tài liệu khác đã được thu thập hợp pháp có trong hồ sơ vụ án.
Như vậy, Hội đồng xét xử có đủ căn cứ khẳng định: Ngày 12/3/2018, Nguyễn Văn T lợi dụng sự sơ hở trong việc quản lý tài sản của chủ sở hữu đã lén lút lẻn vào khu nhà trọ ở Thanh Ấm, thị trấn Vân Đình trộm cắp chiếc xe mô tô Honda Wave BKS: 89G1 - 095.66 của anh Dương Hồng T1 có giá trị là 10.650.000đ mục đích bán lấy tiền tiêu sài cho bản thân.
Hành vi nêu trên của bị cáo đã phạm vào tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự . Cáo trạng của Viện kiểm sát truy tố bị cáo với tội danh và điều luật nêu trên là có căn cứ, đúng quy định của pháp luật.
Xét, hành vi phạm tội của bị cáo Nguyễn Văn T đã thực hiện là nguy hiểm, không chỉ xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản, đến trật tự công cộng mà còn ảnh hưởng xấu đến trật tự, an toàn xã hội ở nhiều địa phương. Do vậy, cần phải áp dụng hình phạt T1ơng xứng với tính chất phạm tội của bị cáo.
Tuy nhiên, tại cơ quan điều tra cũng như tại phiên toà hôm nay bị cáo đã thành khẩn khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình, ăn năn hối cải; phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; bị cáo tự nguyện giao nộp tài sản để trả lại cho bị hại; đồng thời người bị hại có đơn xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo là những tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 BLHS.
Bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ, có nơi cư trú rõ ràng, chưa có tiền án tiền sự nên cho bị cáo được hưởng án treo theo quy định tại Điều 65 Bộ luật hình sự và Nghị quyết số 01/2013/NQ-HĐTP ngày 06/11/2013 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân Tối cao về việc hướng dẫn áp dụng án treo cũng đủ tác dụng đấu tranh và phòng ngừa tội phạm nói chung.
VÒ h×nh ph¹t bæ sung: BÞ c¸o kh«ng cã viÖc lµm æn ®Þnh, gia ®×nh khã kh¨n nªn kh«ng ¸p dông h×nh ph¹t bæ sung ®èi víi bÞ c¸o T.
Về trách nhiệm dân sự và xử lý vật chứng: Đối với chiếc xe mô tô BKS 89G1- 095.66, Cơ quan CSĐT - Công an huyện Ứng Hoà đã làm rõ chiếc xe mô tô trên có chủ sở hữu là ông Đào Xuân T5 - SN: 1947 ở Đ3, P, Hưng Yên. Cuối năm 2017, ông T5 cho anh Nguyễn Hồng T1 mượn để làm phương tiện đi lại. Ngày 12/3/2018, Nguyễn Văn T đã dùng vam phá khoá và lấy trộm chiếc xe mô tô trên. Tuy nhiên, anh T1 không yêu cầu T phải bồi thường tiền thay ổ khoá điện của xe mà sẽ tự khắc phục. Cơ quan CSĐT - Công an huyện Ứng Hoà đã tra cứu, kết quả: chiếc xe mô tô trên không phải là vật chứng của vụ án nào. Đối với 01 đăng ký xe mô tô, 01 bảo hiểm xe mô tô mang tên Đào Xuân Thuỷ; 01 chiếc ví da; 01 thẻ bảo hiểm y tế mang tên Dương Hồng T1. Ngày 30/3/2018, Cơ quan CSĐT - Công an huyện Ứng Hoà đã ra Quyết định xử lý vật chứng số 28 bằng hình thức trả lại tài sản cho anh T1. Anh T1 đã nhận lại toàn bộ tài sản trên và không có yêu cầu đề nghị gì, nên vấn đề dân sự không đặt ra xem xét giải quyết trong vụ án này.
Đối với 01 vam phá khóa bằng kim loại có 01 đầu dẹt hai cạnh, 01 đầulục giác và 01 cờ lê bằng kim loại màu trắng trên có dòng chữ CHOME-VANADIUM 10 cần tịch thu tịch hủy là phù hợp với quy định tại Điều 47 BLHS và Điều 106 BLTTHS.
Về án phí, quyền kháng cáo: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo Điều 135; khoản 2 Điều 136 BLTTHS,Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án; bị cáo và bị hại được quyền kháng cáo theo quy định tại Điều 331, Điều 333BLTTHS năm 2015.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 1 Điều 173; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 65; Điều 47 BLHS; Điều 106; Điều 135; khoản 2 Điều 136 BLTTHS, Nghị quyết số 01/2013/NQ-HĐTP ngày 06/11/2013 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân Tối cao; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án; Điều 331, Điều 333 BLTTHS.
1. Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn T phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
2. Xử phạt Nguyễn Văn T 09 tháng tù nhưng cho hưởng án treo thời gian thử thách 18 tháng kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.
Giao bị cáo cho UBND xã Đ, huyện Ứng Hòa, TP. Hà Nội và gia đình quản lý, giáo dục trong thời gian thử thách.
Trong thời gian thử thách nếu bị cáo Nguyễn Văn T thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định của khoản 1 Điều 69 vủa Luật thi hành án hình sự.
Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.
3. Về vật chứng: Tịch thu tiêu hủy 01 vam phá khóa bằng kim loại có 01 đầu dẹt hai cạnh, 01 đầulục giác và 01 cờ lê bằng kim loại màu trắng trên có dòng chữ CHOME-VANADIUM 10. (Tình trạng như biên bản bàn giao vật chứng giữa Công an huyện Ứng Hòa và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Ứng Hòa ngày 16/5/2018)
4. Về án phí: Bị cáo Nguyễn Văn T phải chịu 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
5. Về quyền kháng cáo: Bị cáo và bị hại được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Người vắng mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản sao bản án hoặc ngày bản án được niêm yết tại nơi cư trú.
| Nơi nhận: - TAND TP Hà Nội; - VKSND huyện Ứng Hoà; - Công an huyện Ứng Hòa; - Chi cục THADS Ứng Hoà; - UBND xã nơi bị cáo ĐKTT; - Bị cáo; - Các đương sự; - Lưu hs; V/P./. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ (đã ký) Bùi Thanh Minh |