- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Chị Nguyễn Thị Ng xin ly hôn anh Trần Quốc V (Trần Văn V)."
- Tòa quyết gì? Điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, nộp quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
- Căn cứ chính? Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình xử; Điều 266 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 271 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN VŨ THƢ TỈNH THÁI BÌNH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 28/2018/HNGĐ-ST Ngày: 10/7/2018 V/v tranh chấp ly hôn |
NHÂN DANH
NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN VŨ THƢ, TỈNH THÁI BÌNH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Tiệp.
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Phạm Đức Hiển.
2. Ông Đặng Duy Niên.
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Liên - Thư ký Tòa án.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Vũ Thư, tỉnh Thái Bình tham gia phiên toà: Bà Phạm Thị Hoài - Kiểm sát viên.
Ngày 10 tháng 7 năm 2018 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Vũ Thư, tỉnh Thái Bình xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 77/2018/TLST-HNGĐ ngày 04 tháng 5 năm 2018 về ly hôn theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 29/2018/QĐXXST-HNGĐ ngày 21 tháng 6 năm 2018 giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị Ng, sinh năm 1974.
Địa chỉ: Thôn H, xã S huyện V, tỉnh Thái Bình. Có mặt.
2. Bị đơn: Anh Trần Quốc V (Trần Văn V), sinh năm 1971.
Địa chỉ: Thôn H, xã S, huyện V, tỉnh Thái Bình. Có mặt.
3. Người làm chứng: Chị Trần Thị Lan A, sinh năm 1996.
Địa chỉ: Thôn H, xã S huyện V, tỉnh Thái Bình. Vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
* Tại đơn khởi kiện đề ngày 24/4/2017 và trong quá trình xét xử, nguyên đơn chị Nguyễn Thị Ng trình bày:
Về quan hệ hôn nhân: Chị và anh Trần Quốc V (Trần Văn V) kết hôn trên cơ sở tự nguyện tìm hiểu, đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã S, huyện V, tỉnh Thái Bình vào ngày 07 tháng 02 năm 1995. Sau khi kết hôn anh chị chung sống tại gia đình anh V ở thôn H, xã S, huyện V, tỉnh Thái Bình. Anh chị chung sống hạnh phúc đến năm 2004 thì nảy sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn do anh V đi xuất khẩu lao động về nghe dư luận bên ngoài, ghen tuông vô cớ chửi mắng chị, không cho chị dùng điện thoại, không cho chị cười nói với người khác và đánh đập chị. Ngày 21 tháng 02 năm 2018 âm lịch, chị về nhà bố mẹ đẻ chị chơi, anh V nhảy tường vào nhà bố mẹ chị đánh chị rất tàn nhẫn. Ngày hôm sau, chị về nhà thì anh V tháo tấm tranh treo trong nhà ra sân đập nát vụn và đánh gãy tay chị, chửi mắng và đuổi chị ra khỏi nhà. Vợ chồng ly thân từ ngày 22/02/2018 âm lịch đến nay. Từ ngày ly thân vợ chồng không quan tâm đến cuộc sống của nhau. Nay chị xác định tình cảm vợ chồng không còn, không thể tiếp tục chung sống nên chị đề nghị Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn với anh V.
Về quan hệ con chung: Chị và anh Trần Quốc V (Trần Văn V) có 02 con chung là Trần Thị Lan A, sinh năm 1996 và Trần Đình Thành Đ, sinh năm 1998. Các con chung đều đã trưởng thành, không bị nhược điểm về tâm thần, thể chất, chị không đề nghị Tòa án giải quyết.
Về quan hệ tài sản: Chị và anh Trần Quốc V (Trần Văn V) tự thỏa thuận về tài sản, chị không đề nghị Tòa án giải quyết.
* Bị đơn anh Trần Quốc V (Trần Văn V) trình bày:
Về quan hệ hôn nhân: Về thời gian, điều kiện kết hôn anh thống nhất như trình bày của chị Ng. Anh chị chung sống hòa thuận đến năm 2004 thì nảy sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn do anh đi nước ngoài về nghe dư luận bên ngoài nói chị Ng đi ngoại tình nên anh đã ghen tuông, không cho chị Ng dùng điện thoại, ăn mặc quần áo đẹp. Nhưng tất cả những việc anh làm đều là vì muốn giữ gìn hạnh phúc gia đình. Nay chị Ng xin ly hôn anh, quan điểm của anh là không đồng ý ly hôn vì anh còn tình cảm với chị Ng, anh xin đoàn tụ để vợ chồng tiếp tục chung sống xây dựng gia đình hạnh phúc.
Về quan hệ con chung: Anh và chị Nguyễn Thị Ng có 02 con chung là Trần Thị Lan A, sinh năm 1996 và Trần Đình Thành Đ, sinh năm 1998. Các con chung đều đã trưởng thành, không bị nhược điểm về tâm thần, thể chất, anh không đề nghị Tòa án giải quyết.
Về quan hệ tài sản: Anh và chị Nguyễn Thị Ng tự thỏa thuận về tài sản, anh không đề nghị Tòa án giải quyết.
* Uỷ ban nhân dân xã S, huyện V, tỉnh Thái Bình cung cấp: Về quan hệ hôn nhân: Chị Ng và anh V tự nguyện tìm hiểu, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã S, huyện V, tỉnh Thái Bình vào năm 1995. Sau khi kết hôn anh chị chung sống hạnh phúc đến khoảng năm 2004 thì nảy sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn do anh chị nghi ngờ lòng chung thủy của nhau, dẫn đến cãi chửi nhau. Chị Ng bỏ về nhà bố mẹ chị sống từ đầu năm 2018. Nay chị Ng xin ly hôn anh V, quan điểm của địa phương đề nghị Tòa án hòa giải để anh chị đoàn tụ, nếu không được đề nghị Tòa án giải quyết theo quy định của pháp luật; Về quan hệ con chung: Chị Ng và anh V có 02 con chung như anh chị trình bày, các con chung đều đã trưởng thành, đề nghị Tòa án giải quyết theo quy định của pháp luật; Về quan hệ tài sản: Chị Ng và anh V có tài sản chung gì địa phương không nắm được, anh chị không vay nợ tổ chức nào tại địa phương.
* Chị Trần Thị Lan A - con đẻ của chị Nguyễn Thị Ng và anh Trần Văn V (Trần Quốc V) trình bày: Chị xác định thời gian qua bố mẹ chị có xảy ra mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn do bố chị đa nghi, không tin tưởng mẹ chị, vì lý do đó mà bố chị đã đánh mẹ chị, cuộc sống hôn nhân của bố mẹ chị rất căng thẳng. Nay mẹ chị xin ly hôn bố chị, quan điểm của chị nếu mẹ chị kiên quyết xin ly hôn thì chị đề nghị Tòa án nhân dân huyện Vũ Thư giải quyết cho mẹ chị được ly hôn với bố chị.
* Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Vũ Thư, tỉnh Thái Bình tham gia phiên tòa phát biểu ý kiến:
Thẩm phán thực hiện đúng quy định pháp luật tố tụng về thụ lý, thẩm quyền, thu thập chứng cứ, tống đạt các văn bản tố tụng, hòa giải, đảm bảo thời hạn chuẩn bị xét xử và thời hạn chuyển giao hồ sơ cho Viện kiểm sát.
Về nội dung vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng các Điều 51, 56, 58, 59 Luật hôn nhân và gia đình; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 31/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội: Về quan hệ hôn nhân: Xử cho chị Nguyễn Thị Ng được ly hôn anh Trần Quốc V (Trần Văn V); Về quan hệ con chung: Chị Ng và anh V có 02 con chung là Trần Thị Lan A, sinh năm 1996 và Trần Đình Thành Đ, sinh năm 1998. Các con chung đều đã trưởng thành, không bị nhược điểm về tâm thần, thể chất, anh chị không đề nghị Tòa án giải quyết. Về quan hệ tài sản: Chị Ng và anh V thống nhất tự thỏa thuận, anh chị không đề nghị Tòa án giải quyết về tài sản. Án phí: Chị Ng phải chịu 300.000 đồng án phí ly hôn sơ thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, ý kiến của đại diện Viện kiểm sát, Tòa án nhận định:
[1] Về quan hệ tranh chấp và Tòa án có thẩm quyền giải quyết: Nguyên đơn chị Nguyễn Thị Ng khởi kiện và có yêu cầu xin ly hôn do đó xác định quan hệ pháp luật tranh chấp là “Ly hôn” theo quy định tại khoản 1 Điều 28 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015. Bị đơn anh Trần Quốc V (Trần Văn V) cư trú tại xã S, huyện V, tỉnh Thái Bình nên Tòa án nhân dân huyện Vũ Thư, tỉnh Thái Bình có thẩm quyền giải quyết vụ án theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.
Về nội dung vụ án:
Về quan hôn nhân: Quan hệ hôn nhân giữa chị Nguyễn Thị Ng và anh Trần QuốcV (Trần Văn V) được xác lập trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn, là hôn nhân hợp pháp. Sau khi kết hôn anh chị chung sống hạnh phúc đến năm 2004 thì nảy sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn do anh V nghi ngờ chị Ng có quan hệ với người đàn ông khác, nên đã ghen tuông, chửi bới và có đánh chị Ng. Anh chị hiện đang sống ly thân. Trong quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã tiến hành hòa giải giữa anh chị nhiều lần nhưng mâu thuẫn của anh chị cũng không được cải thiện, anh V xin đoàn tụ gia đình nhưng anh không đưa ra được giải pháp nào và cũng không có hành động cụ thể nào để giải quyết mâu thuẫn, hàn gắn hạnh phúc gia đình. Điều đó chứng tỏ hôn nhân của anh chị đã lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung đã chấm dứt, mục đích hôn nhân không đạt được, nếu có tiếp tục chung sống cũng không thể có hạnh phúc, vì vậy cần căn cứ vào Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình xử cho chị Nguyễn Thị Ng được ly hôn anh Trần Quốc V (Trần Văn V).
Về quan hệ con chung: Chị Nguyễn Thị Ng và anh Trần Quốc V (Trần Văn V) có 02 con chung là Trần Thị Lan A, sinh năm 1996 và Trần Đình Thành Đ, sinh năm 1998. Các con chung đều đã trưởng thành, anh chị không đề nghị Tòa án giải quyết.
Về quan hệ tài sản: Chị Nguyễn Thị Ng và anh Trần Quốc V (Trần Văn V) thống nhất tự thỏa thuận, anh chị không đề nghị Tòa án giải quyết về tài sản.
Về án phí sơ thẩm: Chị Nguyễn Thị Ng phải chịu án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm là 300.000 đồng.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào:
Điều 266, Điều 271, Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;
Điều 51, Điều 56, Điều 57, Điều 59 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014;
Điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, nộp quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
1. Về quan hệ hôn nhân: Xử cho chị Nguyễn Thị Ng được ly hôn anh Trần Quốc V (Trần Văn V).
2. Về quan hệ con chung: Chị Nguyễn Thị Ng và anh Trần Quốc V (Trần Văn V) có 02 con chung là Trần Thị Lan A, sinh năm 1996 và Trần Đình Thành Đ, sinh năm 1998. Các con chung đều đã trưởng thành, anh chị không đề nghị Tòa án giải quyết.
3. Về quan hệ tài sản: Chị Nguyễn Thị Ng và anh Trần Quốc V (Trần Văn V) thống nhất tự thỏa thuận, anh chị không đề nghị Tòa án giải quyết.
4. Về án phí: Chị Nguyễn Thị Ng phải chịu 300.000 đồng án phí ly hôn sơ thẩm, nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm đã nộp là 300.000 đồng theo biên lai số 0002936 ngày 04 tháng 5 năm 2018 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Vũ Thư, tỉnh Thái Bình; chị Ng đã nộp đủ án phí dân sự sơ thẩm.
5. Về quyền kháng cáo: Các đương sự có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo qui định tại các Điều 6, 7, 9 Luật thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo qui định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
| Nơi nhận: - Tòa án nhân dân tỉnh Thái Bình; - Viện kiểm sát nhân dân huyện Vũ Thư, tỉnh Thái Bình; - Chi cục Thi hành án dân sự Vũ Thư, tỉnh Thái Bình; - UBND xã S, huyện V, tỉnh Thái Bình; - Các đương sự. - Lưu hồ sơ vụ án. THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Văn Tiệp THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Văn Tiệp |