- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Anh V xin ly hôn chị T"
- Tòa quyết gì? Về quan hệ hôn nhân: Xử cho anh Đoàn Anh V được ly hôn chị Nguyễn Thị T.
- Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 277 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TIỀN HẢI TỈNH THÁI BÌNH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 28/2018/HNGĐ -ST Ngày: 08/6/2018 V/v: Tranh chấp hôn nhân và gia đình. |
NHÂN DANH
NƢỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TIỀN HẢI TỈNH THÁI BÌNH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ Toạ phiên toà: Bà Nguyễn Thị Thanh.
Các hội thẩm nhân dân: Ông Phan Hải Chiều và bà Trần Thị Cúc.
- Thƣ ký phiên Toà: Ông Nguyễn Văn Vương - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Tiền Hải, tỉnh Thái Bình.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tiền Hải, tỉnh Thái Bình tham gia phiên tòa: Bà Đoàn Thị Sớm - Kiểm sát viên.
Ngày 08 tháng 6 năm 2018 tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Tiền Hải, tỉnh Thái Bình xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 78/2018/TLST- HNGĐ ngày 02 tháng 4 năm 2018 về tranh chấp hôn nhân và gia đình theo quyết định đưa vụ án ra xét xử sơ thẩm số: 22/2018/QĐST- HNGĐ ngày 08 tháng 5 năm 2018 và quyết định hoãn phiên Tòa số: 21/2018/QĐST- HNGĐ ngày 29/5/2018 giữa các đương sự: - Nguyên đơn: Anh Đoàn Anh V, sinh ngày 16/9/1992.
Nơi cư trú: Thôn Q, xã Đ, huyện Tiền Hải, tỉnh Thái Bình.
- Bị đơn: Chị Nguyễn Thị T, sinh ngày 08/11/1995.
Nơi cư trú: Thôn T1, xã Đ1, huyện Tiền Hải, tỉnh Thái Bình.
(Anh V có đơn xin xét xử vắng mặt, chị T vắng mặt tại phiên Tòa)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện xin ly hôn ngày 05/3/2018 cũng như tại bản tự khai nguyên đơn anh Đoàn Anh V trình bày: Anh và chị Nguyễn Thị T kết hôn với nhau ngày 31/3/2015 trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký tại Ủy ban nhân dân xã Đ, huyện Tiền Hải, tỉnh Thái Bình. Vợ chồng sống hạnh phúc được thời gian ngắn thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn là giữa hai vợ chồng anh tính tình không hợp, bất đồng quan điểm về mọi mặt như trong cuộc sống và sinh hoạt hàng ngày cũng như việc làm ăn kinh tế trong gia đình dẫn đến gia đình kinh tế khó khăn, hơn nữa vợ chồng anh chưa có con, vợ chồng anh đã đi khám và chữa bệnh nhiều nơi nhưng không có kết quả nên dẫn đến việc vợ chồng thường xuyên xúc phạm danh dự nhau nên đến tháng 3/2016 chị T đã bỏ về nhà bố đẻ tại xã Đ ở và vợ chồng sống ly thân từ đó đến nay Trong thời gian sống ly thân, Anh V đã nhiều lần tìm chị T về để đoàn tụ vợ chồng nhưng chị T kiên quyết không về sống chung cùng Anh V hơn nữa gia đình hai bên cũng khuyên bảo chị T và hòa giải cho vợ chồng về đoàn tụ nhưng việc hòa giải không thành. Anh xác định không còn tình cảm với chị T, vợ chồng mâu thuẫn trầm trọng nên anh xin được ly hôn chị Nguyễn Thị T.
Về con chung: Vợ chồng anh không có con chung nên không yêu cầu Tòa án giải quyết. Về tài sản và nợ chung: Anh không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Ông Nguyễn Văn Thuận là bố đẻ đẻ chị Nguyễn Thị T trình bày: Mâu thuẫn vợ chồng chị T và Anh V là do hai vợ chồng tính tình không hợp, bất đồng quan điểm sống với nhau và sống không có tình cảm, vợ chồng chị T và Anh V đã sống ly thân từ tháng 3/2016 đến nay. Anh V có đơn xin ly hôn chị T. Quan điểm ông đồng ý cho Anh V được ly hôn chị Nguyễn Thị T.
Bị đơn là chị Nguyễn Thị T cố tình không đến Tòa án. Tòa án đã tống đạt hợp lệ thông báo cung cấp chứng cứ cho chị Nguyễn Thị T yêu cầu chị T cung cấp chứng cứ về quan hệ hôn nhân, con chung và tài sản chung cho Tòa án, cũng như gửi các văn bản thể hiện quan điểm của chị về cho Tòa án biết về quan hệ hôn nhân, con chung, tài sản, nợ chung. Chị Nguyễn Thị T đã được Tòa án tống đạt hợp lệ thông báo về việc Tòa án thụ lý vụ án, thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận công khai chứng cứ và hòa giải, quyết định đưa vụ án ra xét xử, quyết định hoãn phiên Tòa nhưng chị T cố tình không đến Tòa án, không có văn bản thể hiện ý kiến của chị T có xác nhận của chính quyền địa phương nơi chị T đang sinh sống gửi Tòa án.
Tại phiên Tòa đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tiền Hải phát biểu ý kiến: Việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử và việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng và phát biểu ý kiến về việc giải quyết vụ án.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên Toà và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên Toà.
Về thủ tục tố tụng:
Anh Đoàn Anh V có đơn xin xét xử vắng mặt, vì vậy, Hội đồng xét xử căn cứ vào khoản 1 điều 277 Bộ luật tố tụng dân sự tiến hành xét xử theo trình tự vắng mặt của nguyên đơn.
Chị Nguyễn Thị T là bị đơn đã được Tòa án triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai mà vẫn vắng mặt nên căn cứ vào khoản 3 điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 tiến hành xét xử vắng mặt chị Nguyễn Thị T.
Về nội dung vụ án:
. Về quan hệ hôn nhân: Anh Đoàn Anh V và chị Nguyễn Thị T kết hôn với nhau có đăng ký ngày 31/3/2015 tại Ủy ban nhân dân xã Đ, huyện Tiền Hải, tỉnh Thái Bình đây là hôn nhân tự nguyện, hợp pháp. Quá trình chung sống vợ chồng phát sinh mâu thuẫn do bất đồng quan điểm sống giữa anh Đoàn Anh V và chị Nguyễn Thị T không tôn trọng, quan tâm, giúp đỡ nhau cùng nhau chia sẻ thực hiện công việc trong gia đình. Giữa Anh V và chị T đều bất đồng về suy nghĩ cũng như lối sống, hành động đều trái ngược nhau, do đó hai bên không quan tâm, không có trách nhiệm và nghĩa vụ với nhau. Vợ chồng đã sống ly thân từ 3/2016 đến nay. Chị Nguyễn Thị T không đến Tòa án tham gia phiên họp tiếp cận công khai chứng cứ và hòa giải, không có mặt tại phiên Tòa chứng tỏ chị T bỏ mặc, không quan tâm đến Anh V thể hiện không thiện chí trong việc cải thiện tình trạng hôn nhân đang mâu thuẫn trong khi Anh V xác định không còn tình cảm vợ chồng với chị T, kiên quyết xin ly hôn chị T. Như vậy, tình trạng hôn nhân giữa Anh V và chị T đã đến mức trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Căn cứ vào khoản 1 điều 56 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014, cần chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của anh Đoàn Anh V, xử cho Anh V được ly hôn chị T.
. Về quan hệ con chung: Anh V và chị T không có con chung nên Tòa án không giải quyết.
. Về quan hệ tài sản và nợ chung Anh V khai: Anh V không yêu cầu Tòa án giải quyết. Chị T không có văn bản nào gửi Tòa thể hiện quan điểm của mình về phần tài sản và không có lời khai về phần tài sản, không có mặt tại phiên tiếp cận chứng cứ công khai và hòa giải, tại phiên Tòa. Do đó phần tài sản Tòa án không giải quyết. Khi nào các đương sự có yêu cầu chia tài sản phải thực hiện thủ tục khởi kiện theo quy định chung của pháp luật tố tụng dân sự. Tòa án sẽ thụ lý giải quyết bằng một vụ án khác.
. Về án phí: Anh Đoàn Anh V phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.
. Về quyền kháng cáo: Anh Đoàn Anh V và chị Nguyễn Thị T có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tiền Hải tỉnh Thái Bình phát biểu ý kiến về việc giải quyết vụ án: Về quan hệ hôn nhân: Xử cho anh Đoàn Anh V được ly hôn chị Nguyễn Thị T. Về quan hệ con chung: Anh V và chị T không có con chung nên không phải giải quyết. Về quan hệ tài sản và nợ chung: Không phải giải quyết. Về án phí: Anh Đoàn Anh V phải nộp tiền án phí ly hôn sơ thẩm.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 1 điều 56 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014, khoản 1 điều 277, khoản 3 điều 228, điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015. Khoản 5 điều 27 nghị quyết 326/2016 án phí, lệ phí Tòa án.
1. Về quan hệ hôn nhân: Xử cho anh Đoàn Anh V được ly hôn chị Nguyễn Thị T.
2. Về quan hệ con chung: Anh Đoàn Anh V và chị Nguyễn Thị T không có con chung nên Tòa án không giải quyết.
3. Về quan hệ tài sản và nợ chung: Tòa án không giải quyết về phần tài sản. Khi nào Anh V và chị T có yêu cầu chia tài sản phải thực hiện thủ tục khởi kiện theo quy định chung của pháp luật tố tụng dân sự, Tòa án sẽ thụ lý và giải quyết bằng vụ án khác.
4. Về án phí: Anh Đoàn Anh V phải nộp 300.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm. Anh V đã nộp 300.000 đồng tạm ứng án phí theo biên lai số 0008639 ngày 02 tháng 4 năm 2018 của chi cục Thi hành án dân sự huyện Tiền Hải, tỉnh Thái Bình. Chuyển số tiền Anh V đã nộp tạm ứng 300.000 đồng sang tiền án phí.
5. Về quyền kháng cáo: Anh Đoàn Anh V và chị Nguyễn Thị T có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hợp lệ hoặc bản án được niêm yết.
| Nơi nhận: - VKSND huyện Tiền Hải. - Các đương sự. - UBND xã Đ. - PKT Giám đốc. - Lưu: VT, hồ sơ vụ án. HỘI THẨM NHÂN DÂN | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Đã ký Nguyễn Thị Thanh HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN- CHỦ TỌA PHIÊN TÒA |