- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Chị H yêu cầu ly hôn với anh P"
- Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu ly hôn của chị Nguyễn Thị Kim H đối với anh Trần Hữu Phúc.
- Căn cứ chính? Điều 27 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 81 Luật Hôn nhân và gia đình
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HÒA THÀNH TỈNH TÂY NINH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Số: 28/2018/HNGĐ-ST Ngày: 10/5/2018 Về tranh chấp: “Ly hôn”Về tranh chấp: “Ly hôn, nuôi con chung” |
NHÂN DANH
NINH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HÒA THÀNH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Hảo Phát.
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Nguyễn Hoàng Đức;
2. Ông Võ Xuân Phong.
- Thư ký phiên tòa: Bà Phạm Thị Ngọc Lan – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Hòa Thành, tỉnh Tây Ninh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Hòa Thành tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Huỳnh Như - Kiểm sát viên.
Ngày 10 tháng 5 năm 2018, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Hòa Thành, tỉnh Tây Ninh xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 31/2018/ST-HNGĐ ngày 10 tháng 01 năm 2018 về tranh chấp “Ly hôn, nuôi con chung” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 31/2018/QĐXXST-HNGĐ ngày 09 tháng 4 năm 2018 và Quyết định hoãn phiên tòa số 22/2018/QĐST- HNGĐ ngày 26 tháng 4 năm 2018 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị Kim H, sinh năm 1993; Địa chỉ hộ khẩu thường trú: Tổ XX, ấp T, xã G, huyện cò Dầu, tỉnh Tây Ninh – Có mặt.
- Bị đơn: Anh Trần Hữu P, sinh năm 1990; Địa chỉ: Số X/XX, ấp K, xã T, huyện Hòa Thành, tỉnh Tây Ninh – Vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện ngày 08 tháng 01 năm 2018, lời trình bày trong hồ sơ vụ án và tại phiên tòa, nguyên đơn chị Nguyễn Thị Kim H trình bày:
Chị và anh P tự nguyện chung sống với nhau vào năm 2012, có đăng ký kết hôn vào năm 2012 tại UBND xã T, huyện Hòa Thành. Hôn nhân là do tự nguyện, có tổ chức lễ cưới. Vợ chồng sống hạnh phúc đến tháng 10/2017 thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân do anh P không quan tâm chăm sóc vợ con, anh P quan hệ với người phụi nữ khác, vợ chồng thường xuyên xảy ra mâu thuẫn, cuộc sống chung không còn hạnh phúc. Vợ chồng đã sống ly thân từ tháng 10/2017 cho đến nay. Hiện tình cảm không còn nên chị yêu cầu được ly hôn với anh P.
Vợ chồng chung sống có 01 con chung Trần Nguyễn G.H, sinh ngày 22/9/2014. Khi ly hôn, chị yêu cầu được nuôi cháu Huy và không yêu cầu anh P cấp dưỡng nuôi con.
Về tài sản chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Về nợ chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Không có ai nợ lại vợ chồng.
Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Hòa Thành, tỉnh Tây Ninh phát biểu: Về việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán; Hội đồng xét xử; Thư ký Tòa án đúng theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng dân sự, kể từ khi thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án đúng theo quy định của bộ luật tố tụng dân sự.
Anh P đã được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai nhưng vắng mặt nên Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt anh Phúc là đúng theo quy định tại Điều 227, Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự.
Ý kiến về việc giải quyết vụ án: Qua các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và tại phiên tòa cho thấy, chị H và anh P tự nguyện chung sống từ năm 2012, có đăng ký kết hôn và tổ chức lễ cưới. Thời gian đầu chung sống hạnh phúc đến tháng 10/2017 phát sinh mâu thuẫn, do vợ chồng không hợp tính tình, anh P không quan tâm chăm sóc vợ con. Nay nhận thấy tình cảm vợ chồng không còn nên chị H yêu cầu ly hôn với anh P. Căn cứ theo quy định tại Điều 51, 56 của Luật Hôn nhân và gia đình, cần chấp nhận yêu cầu ly hôn của chị H.
Về con chung có 01 con chung tên Trần Nguyễn G.H, sinh ngày 22/9/2014, hiện đang sống với chị H nên giao cháu Huy cho chị H nuôi dưỡng là hợp lý. Ghi nhận chị H không yêu cầu cấp dưỡng nuôi con.
Về tài sản chung và nợ chung không yêu cầu giải quyết.
Tính án phí theo quy định pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Về thủ tục tố tụng: Bị đơn anh Trần Hữu Phúc đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhưng không đến tham dự phiên tòa nên Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt anh P là có căn cứ theo quy định tại Điều 227, Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự.
Về quan hệ hôn nhân: Chị Nguyễn Thị Kim H và anh Trần Hữu Phúc chung sống vợ chồng với nhau từ năm 2012, hôn nhân là do tự nguyện, có đăng ký kết hôn. Quan hệ hôn nhân của anh chị là hợp pháp được pháp luật bảo vệ.
Trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa, chị H cho rằng do vợ chồng không hòa hợp, thường xuyên xảy ra mâu thuẫn do anh P không quan tâm chăm sóc vợ con, cuộc sống chung không còn hạnh phúc, vợ chồng không còn sống chung từ tháng 10/2017 cho đến nay, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được nên chị H yêu cầu ly hôn với anh P. Qua xác minh mâu thuẫn giữa vợ chồng anh chị là trầm trọng, anh P đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhưng không đến tham dự phiên tòa cho thấy anh P không có thiện chí hàn gắn nên căn cứ Điều 56 Luật Hôn nhân và Gia đình chấp nhận yêu cầu ly hôn của chị H.
Về con chung: Có 01 người tên Trần Nguyễn G.H, sinh ngày 22/9/2014, hiện đang sống với chị H nên giao cháu Huy cho chị H nuôi dưỡng là hợp lý. Ghi nhận chị H không yêu cầu cấp dưỡng nuôi con.
Anh P có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung không ai được cản trở.
Về tài sản chung và nợ chung: Chị H không yêu cầu Tòa án giải quyết nên ghi nhận.
Chị H phải chịu án phí theo quy định tại Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 là 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng).
Xét đề nghị của Viện kiểm sát là phù hợp nên cần chấp nhận.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Áp dụng Điều 56, 81, 82 của Luật hôn nhân và gia đình, Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016, tuyên xử:
1. Chấp nhận yêu cầu ly hôn của chị Nguyễn Thị Kim H đối với anh Trần Hữu Phúc. Giữa chị H và anh P không còn quyền và nghĩa vụ vợ chồng.
Về con chung: Giao cho chị H tiếp tục trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục cháu Trần Nguyễn G.H, sinh ngày 22/9/2014. Ghi nhận chị H không yêu cầu cấp dưỡng nuôi con.
Anh P có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung mà không ai được cản trở.
Về tài sản chung và nợ chung: Chị H không yêu cầu Tòa án giải quyết.
2. Về án phí dân sự sơ thẩm: Chị H phải chịu 300.000 (Ba trăm nghìn) đồng. Khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí chị H đã nộp 300.000 (Ba trăm nghìn) đồng theo biên lai thu số 0019277 ngày 08 tháng 01 năm 2018 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Hòa Thành, tỉnh Tây Ninh. Ghi nhận chị H đã nộp xong tiền án phí.
Án sơ thẩm xử công khai, báo cho chị H biết có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Riêng anh P vắng mặt có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Tây Ninh. - VKSND tỉnh Tây Ninh - VKSND huyện Hoà Thành. - THADS huyện Hoà Thành. - Các đương sự. - Lưu hoà sơ. - Lưu tập án. | (đã ký) Nguyễn Hảo Phát |