vanban.org

Bản án 28/2018/DS-ST — Tranh chấp hợp đồng vay tài sản

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị Bích V.

Buộc ông Trần Văn H, bà Nguyễn Kim H có trách nhiệm trả cho bà Nguyễn Thị Bích V số tiền 150.000.000 đồng (Một trăm năm mươi triệu đồng). Bà Nguyễn Thị Bích V, ông Cao Hữu T có trách nhiệm trả lại cho ông Trần Văn H, bà Nguyễn Kim H 01(một) giấy chứng nhận quyền sử dụng đất diện tích 248,8m2 mang tê… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Tranh chấp hợp đồng vay tài sản — án dân sự — "Vay tài sản"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị Bích V.
  • Căn cứ chính? Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 177 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 26 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
HUYỆN THOẠI SƠN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

TỈNH AN GIANG
Bản án số: 28/2018/DS-ST.
Ngày: 05/4/2018
V/v tranh chấp “Hợp đồng vay tài sản”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THOẠI SƠN - AN GIANG

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Văn Triều

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Ngô Thanh Ngọc Cảnh

2. Bà Dương Triết Minh

- Thư ký phiên toà: Bà Trần Thị Cẩm Xuyên – Thư ký Toà án.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thoại Sơn: Không tham gia phiên toà.

Trong ngày 05 tháng 4 năm 2018, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Thoại Sơn, tỉnh An Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 183/2017/TLST- DS ngày 11/10/2017 về "Tranh chấp dân sự - Hợp đồng vay tài sản" theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 84/2018/QĐXXST-DS ngày 22/02/2018, giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị Bích V, sinh năm 1973 (có mặt)

Địa chỉ: Ấp Phú Hiệp, xã An Bình, huyện Thoại Sơn, tỉnh An Giang

2. Bị đơn: Ông Trần Văn H, sinh năm 1976 (vắng mặt)

Bà Nguyễn Kim H, sinh năm 1978 (vắng mặt)

Địa chỉ: Ấp Phú Hiệp, xã An Bình, huyện Thoại Sơn, tỉnh An Giang

3. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Ông Cao Hữu T, sinh 1967.

Địa chỉ: Ấp Phú Hiệp, xã An Bình, huyện Thoại Sơn, tỉnh An Giang

Người đại diện theo ủy quyền của ông T: Bà Nguyễn Thị Bích V, sinh năm 1973.

Địa chỉ: Ấp Phú Hiệp, xã An Bình, huyện Thoại Sơn, tỉnh An Giang

(Giấy ủy quyền ngày 13/3/2018)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện và các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án cũng như tại phiên tòa, nguyên đơn bà Nguyễn Thị Bích V trình bày: Vào ngày 20/8/2016, vợ chồng ông Trần Văn H, bà Nguyễn Kim H có thế chấp cho vợ chồng tôi một giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số H00621rH, diện tích 248,8 m2 được UBND huyện Thoại Sơn cấp ngày 26/12/2007 để vay số tiền 150.000.000 đồng (Một trăm năm mươi triệu đồng), khi vay hai bên thỏa thuận lãi suất 2%/tháng, thời hạn vay 15 tháng sẽ trả. Sau khi vay, ông H, bà Kim H không trả vốn cũng như đóng lãi theo thỏa thuận. Mặc dù nhiều lần tôi đến nhà để yêu cầu trả nợ nhưng ông H, bà Kim H không chịu trả.

Nay tôi yêu cầu ông Trần Văn H, bà Nguyễn Kim H có trách nhiệm trả cho tôi số tiền vốn 150.000.000 đồng, không yêu cầu tính lãi

Về phía bị đơn ông Trần Văn H, bà Nguyễn Kim H: Sau khi thụ lý vụ án, Tòa án đã tống đạt các văn bản tố tụng theo quy định của pháp luật nhưng đương sự vắng mặt và cũng không có văn bản nào thể hiện ý kiến đối với yêu cầu của bà Nguyễn Thị Bích V.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Cao Hữu T ủy quyền cho vợ là bà Nguyễn Thị Bích V tham gia tố tụng và toàn quyền quyết định vụ án.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:

Về tố tụng: Bà V khởi kiện yêu cầu ông H, bà Kim H phải trả số tiền vay 150.000.000 đồng. Căn cứ quy định khoản 3 Điều 26, Điều 35, Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự, Tòa án nhân dân huyện Thoại Sơn thụ lý giải quyết là đúng thẩm quyền. Ông T ủy quyền cho bà V tham gia tố tụng, văn bản ủy quyền của đương sự phù hợp quy định pháp luật nên được chấp nhận. Tại phiên tòa, ông Trần Văn H, bà Nguyễn Kim H vắng mặt, Tòa án đã triệu tập hợp lệ hai lần. Do vậy, căn cứ vào khoản 2 điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự, Tòa án vẫn tiến hành xét xử vắng mặt ông H, bà Kim H.

Về nội dung: Hợp đồng vay tài sản giữa nguyên đơn bà Nguyễn Thị Bích V với bị đơn ông Trần Văn H, bà Nguyễn Kim H thực tế có xảy ra nó được chứng minh bằng Hợp đồng vay thế chấp. Tại hợp đồng vay thế chấp ngày 20/8/2016 có nội dung: Hôm nay ngày 20/8/2016 chúng tôi gồm có Trần Văn H, sinh năm 1976, Nguyễn Kim H, sinh năm 1978. Hiện cùng ngụ ấp Phú Hiệp, xã An Bình, huyện Thoại Sơn, An Giang. Nay đồng đứng tờ vay có thế chấp cho chị Nguyễn Thị Bích V, sinh năm 1973 và anh Cao Hữu T, sinh năm 1967, ngụ ấp Phú Hiệp, xã An Bình, huyện Thoại Sơn, An Giang. Tài sản được thế chấp là giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AK 197252 được UBND huyện Thoại Sơn cấp ngày 26/12/2007. Đất tọa lạc tại xã An Bình, huyện Thoại Sơn, An Giang với số tiền là 150.000.000 đồng với lãi suất 2%/tháng. Được trả dần và đóng lãi hàng tháng. Thời hạn là 15 tháng kể từ ngày ký hợp đồng. Trong thời gian hợp đồng có hiệu lực chúng tôi không được quyền cho thuê, cầm cố thế chấp diện tích đất này. Nếu sai trái vợ chồng tôi sẽ chịu trách nhiệm.

Nhận thấy trong quá trình giải quyết vụ án, Toà án nhiều lần triệu tập ông Trần Văn H, bà Nguyễn Kim H đến Tòa để đối chiếu nợ và hướng giải quyết vụ án nhưng ông H, bà Kim H đều vắng mặt. Do vậy Hội đồng xét xử căn cứ vào Hợp đồng vay thế chấp ngày 20/8/2016 do ông H, bà Kim H cùng ký buộc ông H, bà Kim H có trách nhiệm trả cho bà V số tiền 150.000.000 đồng (Một trăm năm mươi triệu đồng).

Về lãi suất: Do bà V không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không đề cập xem xét.

Trong vụ án này ông Cao Hữu T có liên quan đến số tiền 150.000.000 đồng là tài sản chung giữa ông với bà V, Tòa án nhân dân huyện Thoại Sơn có ra thông báo số 178/2017/TB-TA ngày 18/12/2017 đưa ông T vào tham gia tố tụng với tư cách người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan. Tuy nhiên, ông T ủy quyền cho vợ là bà V tham gia tố tụng và toàn quyền quyết định đối với vụ án, không tranh chấp gì đối với số tiền vay 150.000.000 đồng, do vậy Hội đồng xét xử thấy cần buộc ông H, bà Kim H có trách nhiệm trả cho bà V là phù hợp.

Ngoài ra, khi vay ông H, bà Kim H có thế chấp cho bà V, ông T 01 giấy chứng nhận quyền sử dụng đất diện tích 248,8m2 mang tên Trần Văn H và Nguyễn Kim H, do UBND huyện Thoại Sơn cấp ngày 26/12/2007. Việc thế chấp này không có giá trị pháp lý nên cần buộc bà V, ông T có trách nhiệm trả lại cho ông H, bà Kim Kim H giấy chứng nhận quyền sử dụng đất nêu trên.

Về án phí dân sự sơ thẩm: Do ông H, bà Kim H bị buộc trả nợ, nên phải chịu án phí 5% trên số tiền vay phải trả.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 3 Điều 26, Điều 35, Điều 39, Điều 177, Điều 227, Điều 266, Điều 271, Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015; Điều 463, Điều 466 Bộ luật dân sự năm 2015; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH.14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị Bích V.

- Buộc ông Trần Văn H, bà Nguyễn Kim H có trách nhiệm trả cho bà Nguyễn Thị Bích V số tiền 150.000.000 đồng (Một trăm năm mươi triệu đồng).

- Bà Nguyễn Thị Bích V, ông Cao Hữu T có trách nhiệm trả lại cho ông Trần Văn H, bà Nguyễn Kim H 01(một) giấy chứng nhận quyền sử dụng đất diện tích 248,8m2 mang tên Trần Văn H, Nguyễn Kim H do UBND huyện Thoại Sơn cấp ngày 26/12/2007 (bản gốc)

Về án phí dân sự sơ thẩm:

- Ông Trần Văn H, bà Nguyễn Kim H phải chịu án phí dân sự sơ thẩm là 7.500.000 đồng (Bảy triệu năm trăm ngàn đồng).

- Bà Nguyễn Thị Bích V không phải chịu án phí nên được hoàn lại số tiền 3.750.000 đồng (Ba triệu bảy trăm năm mươi ngàn đồng) theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số: 0000587, ngày 11 tháng 10 năm 2017 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Thoại Sơn, tỉnh An Giang.

Kể từ ngày bên được thi hành án có đơn yêu cầu thi hành án, nếu bên phải thi hành án không thi hành khoản tiền nêu trên, thì hàng tháng còn phải trả lãi theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật dân sự năm 2015, tương ứng với số tiền và thời gian chưa thi hành án.

Trường hợp bản án, được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại Điều 6, Điều 7 và Điều 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Các đương sự biết có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Riêng đương sự vắng mặt được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày niêm yết bản án tại trụ sở UBND xã, thị trấn nơi đương sự cư trú để yêu cầu xét xử phúc thẩm.

Cỡ chữ