vanban.org

Bản án 28/2018/DS-ST — Đòi bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng về sức khỏe, tính mạng

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên xử: Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn

Buộc chị Hoàng Thị L phải có trách nhiệm bồi thường cho chị Nguyễn Thị H các khoản chi phí điều trị và tổn thất tinh thần số tiền 22.218.902 đồng (trong đó: Tiền viện phí, thuốc men có hóa đơn, chứng từ là 3.268.902 đồng; tiền công người chăm sóc trong thời gian điều trị là 2.000.000 đồng; tiền mua … Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Đòi bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng về sức khỏe, tính mạng — án dân sự — "Tranh chấp bồi thường thiệt hại do sức khỏe bị xâm phạm"
  • Tòa quyết gì? Tuyên xử: Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn
  • Căn cứ chính? Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 233 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THỊ XÃ BUÔN HỒ
TỈNH ĐẮK LẮK

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 28/2018/DS-ST
Ngày: 30-11-2018
V/v tranh chấp bồi thường thiệt hại
do sức khỏe bị xâm phạm

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ BUÔN HỒ, TỈNH ĐẮK LẮK

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Trần Duy Đức

Các Hội thẩm nhân dân: 1. Bà Nguyễn Thị Quỳnh Hải

2. Ông Hồ Văn Hạnh

- Thư ký phiên tòa: Ông Ngụy Thế Xuân – Thư ký Tòa án nhân dân thị xã Buôn Hồ, tỉnh Đắk Lắk.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Buôn Hồ tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Cẩm Vân - Kiểm sát viên.

Ngày 30 tháng 11 năm 2018, tại Trụ sở Tòa án nhân dân thị xã Buôn Hồ, tỉnh Đắk Lắk xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 78/2018/TLST-DS ngày 19 tháng 7 năm 2018 về việc “Tranh chấp bồi thường thiệt hại do sức khỏe bị xâm phạm” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 33/2018/QĐXXST- DS ngày 29 tháng 10 năm 2018 và Quyết định hoãn phiên tòa số 36/2018/QĐST-DS ngày 14/11/2018, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị H; nơi cư trú: số nhà 13B đường H, tổ dân phố X, phường Đ, thị xã B, tỉnh Đắk Lắk, có mặt.

- Bị đơn: Chị Hoàng Thị L; nơi cư trú: số nhà 15 đường H, tổ dân phố X, phường Đ, thị xã B, tỉnh Đắk Lắk, vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Trong đơn khởi kiện đề ngày 16/7/2018, t i b n t khai, quá trình gi i quyết vụ án và t i phiên tòa nguyên đơn chị Nguyễn Thị H trình bày có nội dung:

Vào khoảng 07 giờ 00’, ngày 03/3/2018, chị Nguyễn Thị H điều khiển xe mô tô đi ra khỏi nhà để đi làm. Khi rẽ ra đường H thì gặp chị Hoàng Thị L (là hàng xóm) đang dắt con gái là Ngô Hoàng Yến C đi bộ cùng chiều phía trước bên lề đường bên phải theo hướng đi. Chi H vượt lên trước thì chị L khạc nhổ nước bọt vào mặt chị H nên chị H dừng xe lại để nói chuyện và dẫn đến xích mích, xô xát lẫn nhau. Trong quá trình xô xát thì chị L dùng miệng cắn vào vành tai trái của chị H gây thương tích, sau đó được mọi người đưa đi bệnh viện đa khoa thị xã Buôn Hồ điều trị với thời gian 10 ngày. Chị H làm đơn yêu cầu Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thị xã Buôn Hồ khởi tố vụ án đối với chị Hoàng Thị L về tội “Cố ý gây thương tích”. Tuy nhiên, tại Bản kết luận pháp y thương tích số 503/PY-TgT ngày 13/4/2018 của Trung tâm Pháp y thuộc Sở Y tế tỉnh Đắk Lắk kết luận: Chị Nguyễn Thị H bị vết thương vành tai trái, thương tích 5%, tạm thời 12 tháng. Vật tác động: cứng có cạnh. Do vậy, Cơ quan điều tra quyết định không khởi tố vụ án và ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính đối với chị Hoàng Thị L.

Tại đơn khởi kiện, chị Nguyễn Thị H yêu cầu chị Hoàng Thị L phải có trách nhiệm bồi thường thiệt hại về sức khỏe và tinh thần tổng cộng số tiền 38.068.902 đồng, cụ thể bao gồm các khoản như sau: Tiền viện phí, thuốc men có hóa đơn, chứng từ là 3.268.902 đồng; tiền công người chăm sóc trong thời gian điều trị là 12 ngày x 200.000 đồng/ngày = 2.400.000 đồng; tiền mua thức ăn bồi dưỡng sức khỏe là 5.000.000 đồng; tiền thu nhập bị mất trong thời gian nghỉ dưỡng phục hồi sức khỏe là 60 ngày x 200.000 đồng/ngày = 12.000.000 đồng; tiền thu nhập thực tế bị mất là 12 ngày x 200.000 đồng/ngày = 2.400.000 đồng; tiền tổn thất về tinh thần tính 10 lần mức lương cơ sở là 10 tháng x 1.300.000 đồng/tháng = 13.000.000 đồng.

Đối với bị đơn là chị Hoàng Thị L đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhiều lần nhưng vẫn vắng mặt không có lý do nên Tòa án không thể tiến hành lấy lời khai, kiểm tra giao nộp chứng cứ và hòa giải được.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Buôn Hồ phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký, những người tham gia tố tụng kể từ khi thụ lý vụ án cho đến tại phiên tòa đã tuân thủ đúng trình tự, thủ tục của pháp luật tố tụng dân sự. Nguyên đơn chấp hành đúng quy định tại Điều 70, Điều 71 của Bộ luật tố tụng dân sự. Bị đơn không chấp hành theo giấy triệu tập của Tòa án là vi phạm Điều 72 của Bộ luật tố tụng dân sự.

Về nội dung vụ án: Căn cứ vào các chứng cứ, tài liệu và lời khai của các đương sự trong quá trình giải quyết vụ án và được thẩm tra tại phiên tòa, đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Về thủ tục tố tụng: Quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn có mặt, bị đơn mặc dù đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhiều lần nhưng vẫn vắng mặt do vậy Tòa án không thể lấy lời khai, mở phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải theo quy định của pháp luật. Tại phiên tòa lần thứ nhất, mặc dù đã được triệu tập hợp lệ nhưng bị đơn vẫn vắng mặt nên Hội đồng xét xử quyết định hoãn phiên tòa. Tại phiên tòa hôm nay, bị đơn đã được triệu tập hợp lệ nhưng vẫn vắng mặt nên Hội đồng xét xử quyết định xét xử vắng mặt bị đơn theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự.

Về thẩm quyền giải quyết vụ án: Nguyên đơn khởi kiện bị đơn là chị Hoàng Thị L có địa chỉ tại số nhà 15 đường H, tổ dân phố X, phường Đ, thị xã B, tỉnh Đắk Lắk do vậy vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thị xã Buôn Hồ, tỉnh Đắk Lắk là phù hợp với quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự.

Về quan hệ pháp luật: Nguyên đơn cho rằng phía bị đơn có hành vi cắn vào vành tai của nguyên đơn gây thương tích 5%, do các đương sự không thỏa thuận giải quyết và có tranh chấp nên xác định đây là tranh chấp bồi thường thiệt hại do sức khỏe bị xâm phạm theo quy định tại khoản 6 Điều 26 Bộ luật tố tụng dân sự là phù hợp.

Về nội dung vụ án:

Xét thiệt hại xảy ra, Hội đồng xét xử thấy rằng, vào khoảng 07 giờ 00’, ngày 03/3/2018, chị Nguyễn Thị H điều khiển xe mô tô đi ra khỏi nhà để đi làm. Khi rẽ ra đường H thì gặp chị Hoàng Thị L (là hàng xóm) đang dắt con gái là Ngô Hoàng Yến C đi bộ cùng chiều phía trước bên lề đường bên phải theo hướng đi. Chị H vượt lên trước thì chị L khạc nhổ nước bọt vào mặt chị H nên chị H dừng xe lại để nói chuyện và dẫn đến xích mích, xô xát lẫn nhau. Trong quá trình xô xát lẫn nhau, chị L có dùng miệng cắn vào vành tai trái của chị H dẫn đến chị H bị thương tích và phải điều trị nằm viện 10 ngày. Như vậy, thiệt hại xảy ra đối với nguyên đơn chị Nguyễn Thị H là có thật.

Tại Bản kết luận pháp y thương tích số 503/PY-TgT ngày 13/4/2018 của Trung tâm Pháp y thuộc Sở Y tế tỉnh Đắk Lắk kết luận: Chị Nguyễn Thị H bị vết thương vành tai trái, thương tích 5%, tạm thời 12 tháng. Vật tác động: cứng có cạnh.

Tại Quyết định không khởi tố vụ án hình sự số 11 ngày 28/5/2018 của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thị xã Buôn Hồ quyết định không khởi tố vụ án hình sự đối với vụ án “Cố ý gây thương tích” xảy ra ngày 03/3/2018 tại tổ dân phố X, phường Đ, thị xã B, tỉnh Đắk Lắk và ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính đối với chị Hoàng Thị L.

Xét hành vi trái pháp luật của các đương sự Hội đồng xét xử thấy rằng, giữa chị H với chị L do có xích mích từ trước nên khi gặp chị H đi xe máy ngang qua thì chị L có nhổ nước bọt trúng vào mặt chị H dẫn đến các bên xảy ra xô xát lẫn nhau, chị L đã dùng miệng cắn vào vành tai trái chị H gây thương tích 5% sức khỏe. Như vậy, hành vi của chị L đã dùng miệng cắn vào vành tai trái của chị H là trái pháp luật, lỗi thuộc về chị L do vậy việc chị L gây thương tích 5% sức khỏe cho chị H nên chị L phải chịu trách nhiệm bồi thường toàn bộ những thiệt hại về vật chất và tinh thần cho chị H là hoàn toàn phù hợp.

Xét quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn chị H đã kê khai các chi phí điều trị và tổn thất về tinh thần bao gồm: tổng cộng số tiền 38.068.902 đồng, cụ thể bao gồm các khoản như sau: Tiền viện phí, thuốc men có hóa đơn, chứng từ là 3.268.902 đồng; tiền công người chăm sóc trong thời gian điều trị là 12 ngày x 200.000 đồng/ngày = 2.400.000 đồng; tiền mua thức ăn bồi dưỡng sức khỏe là 5.000.000 đồng; tiền thu nhập bị mất trong thời gian nghỉ dưỡng phục hồi sức khỏe là 60 ngày x 200.000 đồng/ngày = 12.000.000 đồng; tiền thu nhập thực tế bị mất là 12 ngày x 200.000 đồng/ngày = 2.400.000 đồng; tiền tổn thất về tinh thần tính 10 lần mức lương cơ sở là 10 tháng x 1.300.000 đồng/tháng = 13.000.000 đồng. Hội đồng xét xử thấy rằng, những yêu cầu của nguyên đơn cơ bản là phù hợp, tuy nhiên, có những khoản mà nguyên đơn kê khai là chưa phù hợp nên Hội đồng xét xử cần tính toán lại cho phù hợp. Cụ thể: khoản thu nhập thực tế bị mất của chị H và 01 người chăm sóc trong thời gian nằm điều trị tại Bệnh viện đa khoa thị xã Buôn Hồ là 10 ngày x 200.000 đồng/ngày/người x 02 người = 4.000.000 đồng, khoản chi phí tiền thu nhập bị mất trong thời gian nghỉ dưỡng phục hồi sức khỏe là 15 ngày x 200.000 đồng/ngày = 3.000.000. Riêng yêu cầu 10 tháng lương cơ sở mà nguyên đơn yêu cầu tính mức 1.300.000 đồng/tháng nhưng tại thời điểm xét xử thì mức lương cơ sở theo quy định của pháp luật là 1.390.000 đồng, do vậy cần tính và nhân với mức 1.390.000 đồng và chỉ chấp nhận 05 tháng lương cơ sở là phù hợp, do vậy 05 tháng x 1.390.000 đồng = 6.950.000 đồng.

Như vậy, Hội đồng xét xử cần buộc chị Hoàng Thị L phải có trách nhiệm bồi thường các chi phí điều trị và tổn thất về tinh thần cho chị Nguyễn Thị H số tiền 22.218.902 đồng là phù hợp.

Về án phí: Do yêu cầu của nguyên đơn được chấp nhận một phần nên bị đơn phải chịu án phí dân sự sơ thẩm đối với phần được chấp nhận theo quy định tại khoản 2 Điều 26 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án. Đối với phần yêu cầu của nguyên đơn không được chấp nhận thì nguyên đơn phải chịu án phí đối với phần yêu cầu không được chấp nhận này. Tuy nhiên, do nguyên đơn khởi kiện về bồi thường thiệt hại do sức khỏe bị xâm hại nên nguyên đơn không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định tại điểm d khoản 1 Điều 21 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 6 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228, Điều 233 Bộ luật tố tụng dân sự.

Áp dụng các Điều 584, 585, 586 và 590 Bộ luật dân sự năm 2015.

Tuyên xử: Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn

Buộc chị Hoàng Thị L phải có trách nhiệm bồi thường cho chị Nguyễn Thị H các khoản chi phí điều trị và tổn thất tinh thần số tiền 22.218.902 đồng (trong đó: Tiền viện phí, thuốc men có hóa đơn, chứng từ là 3.268.902 đồng; tiền công người chăm sóc trong thời gian điều trị là 2.000.000 đồng; tiền mua thức ăn bồi dưỡng sức khỏe là 5.000.000 đồng; tiền thu nhập bị mất trong thời gian nghỉ dưỡng phục hồi sức khỏe 3.000.000 đồng; tiền thu nhập thực tế bị mất 2.000.000 đồng; tiền tổn thất về tinh thần 6.950.000 đồng).

Áp dụng Điều 357 Bộ luật dân sự để tính lãi suất trong giai đoạn thi hành án.

Về án phí dân sự sơ thẩm: Áp dụng điểm d khoản 1 Điều 21, khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

Chị Hoàng Thị L phải chịu 1.111.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm.

Chị Nguyễn Thị H không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm.

Nguyên đơn có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Bị đơn vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết hợp lệ.

Trường hợp B n án được thi hành theo quy định t i Điều 2 Luật Thi hành án dân s thì người được thi hành án dân s , người ph i thi hành án dân s có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, t nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định t i các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân s ; thời hiệu thi hành án được th c hiện theo quy định t i Điều 30 Luật thi hành án dân s .

Cỡ chữ