- Tranh chấp gì? Tranh chấp hợp đồng vay tài sản — án dân sự — "Tranh chấp hợp đồng vay tài sản (tiền) giữa Hoàng Thị Bích T và Hoàng Ngọc L"
- Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Hoàng Thị Bích T.
- Căn cứ chính? Điều 35 Bộ luật Tố tụng dân sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CAO BẰNG TỈNH CAO BẰNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 27A/2018/DS-ST Ngày: 24/12/2018 V/v: Tranh chấp hợp đồng vay tài sản (tiền) |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CAO BẰNG - TỈNH CAO BẰNG
- Thành phần hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Nguyễn Quỳnh Mai
Các Hội thẩm nhân dân: 1. Bà Nông Thị Duyên
2. Ông Lã Văn Luật
- Thư ký phiên tòa: Ông Lý Xuân Huy - Thư ký Toà án nhân dân thành phố Cao Bằng, tỉnh Cao Bằng.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cao Bằng tham gia phiên tòa: Bà Trương Thị Nha - Kiểm sát viên.
Ngày 24 tháng 12 năm 2018, tại trụ sở Toà án nhân dân thành phố Cao Bằng, tỉnh Cao Bằng xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 17/2018/TLST-DS ngày 31 tháng 7 năm 2018 về việc “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản (tiền)” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 163/2018/QĐXXST- DS ngày 10 tháng 12 năm 2018 giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Bà Hoàng Thị Bích T - sinh năm 1971;
Trú tại: tổ M, phường S, thành phố C, tỉnh Cao Bằng; (có mặt).
2. Bị đơn: Bà Hoàng Ngọc L
Trú tại: số nhà 1B/30, tổ N, phường H, thành phố C, tỉnh Cao Bằng; (vắng mặt không có lý do).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Trong đơn khởi kiện đề ngày 12/7/2018, lời khai trong quá trình giải quyết vụ án cũng như tại phiên tòa nguyên đơn bà Hoàng Thị Bích T trình bày:
Bà và bà Hoàng Ngọc L có quan hệ họ hàng, bà L là chị dâu con bá, còn bà là con dì. Ngày 14/6/2017, bà L vay bà số tiền 10.000.000 đồng (mười triệu đồng) với mục đích làm vốn kinh doanh buôn bán. Việc vay mượn giữa hai bên được lập thành hợp đồng, có chữ ký của các bên, không có người làm chứng. Trong hợp đồng vay xác định thời điểm thanh toán là ngày 23/6/2017 và lãi suất được các bên thỏa thuận bằng miệng theo lãi suất ngân hàng (xấp xỉ 12%/năm). Hết thời hạn thỏa thuận theo như hợp đồng, bà đã nhiều lần yêu cầu bà L thanh toán số tiền trên nhưng bà L vẫn không trả cho bà bất cứ khoản tiền nào. Theo đơn khởi kiện và trong quá trình giải quyết vụ án, bà yêu cầu bà L trả cho bà số tiền nợ gốc 10.000.000 đồng (mười triệu đồng) và số tiền lãi tính theo lãi suất quy định của pháp luật kể từ ngày vay (ngày 14/6/2017).
Tại phiên tòa, bà rút yêu cầu tính lãi, chỉ yêu cầu bà L thanh toán cho bà số tiền 10.000.000 đồng (mười triệu đồng).
Tại biên bản lấy lời khai ngày 18/10/2018 bị đơn bà Hoàng Ngọc L trình bày:
Bà có biết việc bà Hoàng Thị Bích T khởi kiện bà về tranh chấp hợp đồng vay tài sản (tiền) tại Tòa án nhân dân thành phố Cao Bằng, tỉnh Cao Bằng. Bà và bà T là quan hệ họ hàng (con bá con dì). Bà xác định năm 2017 có vay của bà T số tiền 10.000.000 đồng (mười triệu đồng). Việc vay mượn có lập giấy vay tiền, khi vay không có ai làm chứng và lãi suất được thỏa thuận bằng miệng 10.000 đồng/ngày/01triệu, thời hạn trả là 10 ngày kể từ ngày vay tiền. Bà xác định đã trả toàn bộ số tiền vay bà T cả gốc lẫn lãi đúng thời hạn thỏa thuận trong giấy vay tiền (thời điểm vay bà chỉ vay 9.000.000 đồng còn 1.000.000 đồng để lại trả trước lãi suất vay). Sau khi bà trả đủ số tiền vay cả gốc lẫn lãi cả hai bên cùng thỏa thuận bà T sẽ về xé giấy vay tiền nhưng bà T không thực hiện đúng như thỏa thuận. Việc bà trả tiền bà T không ai làm chứng. Về yêu cầu khởi kiện của bà T yêu cầu bà trả 10.000.000 đồng (mười triệu đồng) tiền nợ gốc và số tiền lãi tính theo lãi suất quy định của pháp luật bà hoàn toàn không nhất trí vì bà xác định đã trả đầy đủ số tiền vay cả gốc lẫn lãi đúng thời hạn theo giấy vay tiền nên bà không còn nghĩa vụ trả nợ đối với bà T.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cao Bằng, tỉnh Cao Bằng trình bày:
* Việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử vụ án, thư ký phiên tòa trong quá trình giải quyết vụ án, kể từ khi thụ lý cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án:
- Về việc tuân theo pháp luật trong thời gian chuẩn bị xét xử: Thẩm phán được phân công thụ lý giải quyết vụ án thực hiện đúng quy định tại Điều 48, 195,196,198, 203 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.
- Việc tuân theo pháp luật của Hội đồng xét xử, Thư ký tại phiên tòa: Hội đồng xét xử đã thực hiện đúng các quy định tại Điều 239, 242, 243, 244, 247, 248, 249, 250, 251, 254, 258, 260, 261, 262 và Điều 263 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.
* Việc tuân theo pháp luật tố tụng của người tham gia tố tụng dân sự trong quá trình giải quyết vụ án, kể từ khi thụ lý cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án: từ khi thụ lý vụ án cũng như tại phiên tòa hôm nay nguyên đơn đã thực đầy đủ quyền và nghĩa vụ tố tụng được quy định tại Điều 70, 71, còn bị đơn không thực hiện theo quy định tại Điều 72 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.
* Ý kiến về việc giải quyết vụ án: áp dụng Điều 463, 466 Bộ luật dân sự năm 2015; Điều 147, 266 Bộ luật tố tụng dân sự, đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Hoàng Thị Bích T.
NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên toà, ý kiến trình bày của nguyên đơn, ý kiến của Kiểm sát viên, Hội đồng xét xử xét thấy:
Về tố tụng: bà Hoàng Thị Bích T khởi kiện tranh chấp hợp đồng vay tài sản (tiền) đối với bà Hoàng Ngọc L có nơi cư trú tại tổ N, phường H, thành phố C, tỉnh Cao Bằng nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Cao Bằng, tỉnh Cao Bằng theo khoản 3 Điều 26; điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự.
Bà Hoàng Ngọc L là bị đơn, đã được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai nhưng vắng mặt không có lý do nên Hội đồng xét xử căn cứ khoản 2 Điều 227; khoản 3 Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự để xét xử vắng mặt bị đơn.
Về yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn đối với số tiền nợ gốc:
Do cần vốn để kinh doanh, buôn bán nên ngày 14/6/2017 bà Hoàng Ngọc L có vay của bà Hoàng Thị Bích T số tiền 10.000.000 đồng (mười triệu đồng). Việc vay mượn giữa hai bên có lập văn bản “Giấy vay tiền”, thời hạn vay từ ngày 14/6/2018 đến ngày 23/6/2018, không ghi lãi suất nhưng các bên đều xác nhận lãi suất được thỏa thuận bằng miệng. Giấy vay tiền có chữ ký của hai bên, không có người làm chứng.
Tại biên bản lấy lời khai ngày 18/10/2018, bà L xác nhận có việc bà vay bà T số tiền 10.000.000 đồng (mười triệu đồng), tuy nhiên bà chỉ vay 9.000.000 đồng còn 1.000.000 đồng bà để lại trả trước lãi suất. Bà đã trả cho bà T số tiền đã vay (cả gốc và lãi) và việc trả tiền này không có ai làm chứng. Tòa án nhân dân thành phố Cao Bằng, tỉnh Cao Bằng đã tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng cho bà L nhưng bà L không đến Tòa án để tham gia phiên họp kiểm tra việc tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải cũng như phiên tòa xét xử. Ngoài lời trình bày tại biên bản lấy lời khai, bà L không có tài liệu, chứng cứ nào chứng minh việc đã trả số tiền gốc và lãi cho bà T. Do đó, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở để chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà T về việc yêu cầu bà L thanh toán số tiền nợ gốc là 10.000.000 đồng (mười triệu đồng).
Về yêu cầu số tiền lãi: theo đơn khởi kiện đề ngày 12/7/2018 và trong quá trình giải quyết vụ án, bà Hoàng Thị Bích T yêu cầu bà Hoàng Ngọc L phải trả số tiền nợ gốc 10.000.000 đồng (mười triệu đồng) và số tiền lãi tính theo lãi suất quy định của pháp luật. Tại phiên tòa, bà T rút yêu cầu đối với số tiền lãi mà chỉ yêu cầu bà L thanh toán số tiền nợ gốc 10.000.000 đồng (mười triệu đồng). Việc rút yêu cầu này của bà T là tự nguyện, phù hợp với quy định của pháp luật nên Hội đồng xét xử chấp nhận, không xem xét yêu cầu tính lãi.
Về án phí: do yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn được chấp nhận nên bị đơn phải chịu án phí dân sự sơ thẩm là: 10.000.000 đồng x 5% = 500.000 đồng.
Về quyền kháng cáo: các bên đương sự có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ Điều 463, 466 Bộ luật dân sự năm 2015.
Áp dụng khoản 3 Điều 26; khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; khoản 2 Điều 227; khoản 3 Điều 228 và các Điều 147, 271, 272, 273 Bộ luật tố tụng dân sự.
Áp dụng Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Hoàng Thị Bích T.
Buộc bà Hoàng Ngọc L (trú tại: số nhà 1B/30, tổ N, phường H, thành phố C, tỉnh Cao Bằng) có nghĩa vụ thanh toán cho bà Hoàng Thị Bích T (trú tại: tổ M, phường S, thành phố C, tỉnh Cao Bằng) số tiền 10.000.000 đồng (mười triệu đồng).
Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật (đối với các trường hợp cơ quan thi hành án có quyền chủ động ra quyết định thi hành án) hoặc kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành xong tất cả các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật dân sự năm 2015.
2. Về án phí: bà Hoàng Ngọc L phải chịu số tiền 500.000 đồng (năm trăm nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm.
Bà Hoàng Thị Bích T được hoàn lại 500.000 đồng (năm trăm nghìn đồng) tiền tạm ứng án phí đã nộp tại Chi cục thi hành án dân sự thành phố Cao Bằng theo biên lai thu tiền số AA/2016/0000422 ngày 27/7/2018.
3. Về quyền kháng cáo: nguyên đơn có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị đơn (vắng mặt tại phiên tòa không có lý do) có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.
Trong trường hợp bản án, quyết định được thi hành án theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, Điều 7 và Điều 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
Tm héi ®ång xÐt xö s¬ thÈm
| Nơi nhận: - Tòa án tỉnh Cao Bằng; - Viện kiểm sát TP Cao Bằng; - Thi hành án DS TP Cao Bằng; - Đương sự; - Lưu hồ sơ; - Lưu án văn. | ThÈm ph¸n - chñ to¹ phiªn toµ Nguyễn Quỳnh Mai |