vanban.org

Bản án 279/2026/HS-ST — Hình sự

Tòa án nhân dân khu vực 7 - Hà Nội, TP. Hà Nội Tuyên án 29/05/2026 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Áp dụng: Khoản 1 Điều 173; điểm b, điểm s Khoản 1; Khoản 2 Điều 51; điểm

g khoản 1 Điều 52, Điều 38 Bộ luật hình sự. Điều 299, Điều 328 của Bộ luật tố tụng hình sự. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "DƯƠNG VĂN TUYẾN - Trộm cắp tài sản - trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Áp dụng: Khoản 1 Điều 173; điểm b, điểm s Khoản 1; Khoản 2 Điều 51; điểm
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự và Nghị; Điều 173 Bộ luật Hình sự

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

TOÀ ÁN NHÂN DÂN
KHU VỰC 7 - HÀ NỘI
Bản án số: 279/2026/HS-ST
Ngày 29 tháng 05 năm 2026

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 7 – HÀ NỘI

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Tô Thanh Phong.

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Đào Ngọc San.

Ông Kiều Xuân Mai.

Thư ký phiên tòa: Bà Đỗ Thị Hồng Hạnh- Thẩm tra viên.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 7 - Hà Nội tham gia phiên toà: Ông Tạ Ngọc Sang - Kiểm sát viên.

Ngày 29/05/2026 tại Phòng xét xử trụ sở Toà án nhân dân Khu vực 7- Hà Nội xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số: 258/2026/TLST-HS ngày 29/04/2026 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 267/2026/QĐXXST- HS ngày 11/05/2026 đối với bị cáo:

1. Họ và tên: Dương Văn T - sinh năm: 1987; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Nơi thường trú: Thôn Â, xã S, thành phố Hà Nội; Nơi cư trú: Thôn Â, xã S, thành phố Hà Nội; Chưc vụ trước khi phạm tội (Đảng, cơ quan, đoàn thể): Không; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 7/12; Họ và tên cha: Dương Văn A, sinh năm 1960 (Còn sống); Họ và tên mẹ: Dương Thị N, sinh năm 1962 (Còn sống); A, chị, em ruột: Gia đình có 04 người con, bị cáo là con thư ba; Vợ: Nguyễn Thị T1, sinh năm 1987; Con: 03 con (Con lớn nhất sinh năm 2007, con nhỏ nhất sinh năm 2014); Tiền án, tiền sự: Không. Bị cáo bị tạm giư, tạm giam tư ngày 08/09/2025 đến nay tại Phân trại tạm giam khu vực S, Trại tạm giam số 01 – Công an thành phố H.

(Có mặt tại phiên toà) – Số CCCD: 001087028823.

* Bị hại:

1. Anh Nông Đưc H, sinh năm 1998. Nơi cư trú thôn M, xã S, Hà Nội. 0866.150.898.

(Vắng mặt tại phiên toà)

2. Anh Nguyễn Hưu M, sinh năm 2000. Nơi cư trú thôn X, xã Đ, Hà Nội. 0373.145.505

(Vắng mặt tại phiên toà)

* Người có quyền lợi nghĩ vụ liên quan:

1. Anh Hà Văn C, sinh năm 1990. Địa chỉ Tổ G, Ấp T, phường A, tỉnh Đồng Nai

(Vắng mặt tại phiên toà)

2. Anh Lê Văn G, sinh năm 2004. Địa chỉ thôn T, xã X, tỉnh Thanh Hóa. 0335756616

(Vắng mặt tại phiên toà)

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Ngày 05/9/2025, Dương Văn T, sinh năm 1987, trú tại thôn Â, xã S, Hà Nội sử dụng tài khoản zalo tên “Hoang Kiên Mobile” đặt mua 04 điện thoại di động (02 điện thoại di động nhãn hiệu OPPO Reno12 5G màu hồng, 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu OPPO Reno12 5G màu nâu và 01 điện thoại di động VSMART ACTIVE3 6/64GB màu đen) của tài khoản zalo tên “Ha Chi H1” của anh Hà Văn C, sinh năm 1990, trú tại tổ G, Ấp T, phường A, tỉnh Đồng Nai. Khoảng 11 giờ 45 phút ngày 08/9/2025, anh Nông Đưc H, sinh năm 1998, trú tại thôn S, xã S, Hà Nội (shipper giao hàng của Công ty G1) gọi điện đến số điện thoại 0582796408 của Tuyến để giao đơn hàng có mã vận đơn là 1498946846, bên trong đơn hàng có 04 điện thoại di động (02 điện thoại di động nhãn hiệu OPPO Reno12 5G màu hồng, 01 điện thoại di động nhãn hiệu OPPO Reno12 5G màu nâu và 01 điện thoại di động VSMART ACTIVE3 6/64GB màu đen) cho người nhận hàng Hoàng Kiên M1 do T đã đặt mua, T hẹn anh H địa điểm giao hàng tại nhà văn hóa thôn H, xã N, Hà Nội. Trước khi đi, T mang theo 02 chiếc điện thoại di động đã hỏng không sử dụng được (01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu OPPO màu xám và 01 điện thoại di động nhãn hiệu Xiaomi, màu xanh) tại cửa hàng điện thoại của mình. Mục đích lợi dụng sở hở của shipper giao hàng sẽ tráo đổi với nhưng chiếc điện thoại đã đặt mua để bán lấy tiền tiêu sài cá nhân. Khoảng 12 giờ ngày 08/9/2025, T điều khiển xe máy nhãn hiệu Honda Vision, màu xám đen, không lắp BKS đi đến vị trí hẹn giao hàng gặp anh H. Tuyến yêu cầu anh H mở đơn hàng để kiểm tra. Anh H mở đơn hàng (có 02 điện thoại di động nhãn hiệu OPPO Reno12 5G màu hồng, 01 điện thoại di động nhãn hiệu OPPO Reno12 5G màu nâu, 01 điện thoại di động VSMART ACTIVE3 6/64GB màu đen) đưa Tuyến kiểm tra điện thoại. Lợi dụng lúc anh H đi ra chỗ khác nghe điện thoại, không quan sát nên T tráo đổi 02 điện thoại cũ hỏng mang theo lấy 01 chiếc OPPO Reno 12 5G màu hồng và 01 chiếc OPPO Reno 12 5G màu nâu trong đơn hàng đang kiểm tra, cất giấu vào trong túi quần. Sau đó, T nói với anh H "anh đi ra đây tí, tí anh quay lại", rồi điều khiển xe đi về nhà. Sau khi về nhà, T cất giấu điện thoại tại cửa hàng bán điện thoại của mình. Anh H đưng đợi khoảng 20 phút không thấy T quay lại, gọi điện thoại cho T không được, anh H mở đơn hàng ra kiểm tra, phát hiện mất 02 chiếc điện thoại di động mới nên anh H đã trình báo cơ quan Công an. Ngày 08/9/2025, T đến Công an xã N, Hà Nội đầu thú, khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình.

Tại Bản Kết luận định giá tài sản số 1374/KL-HĐĐGTS của Hội đồng Định giá tài sản thường xuyên trong tố tụng hình sự thành phố Hà Nội ngày 12/9/2025, xác định: Giá trị 01 chiếc điện thoại nhãn hiệu OPPO Reno 12, 5G, màu hồng, số Imei 1: 869029076417210, Imei 2: 869029076417202, bộ nhớ 512G tại thời điểm bị chiếm đoạt ngày 08/9/2025 là 5.000.000 đồng; Giá trị 01 chiếc Điện thoại nhãn hiệu OPPO Reno 12, SG, màu nâu đồng. Số Imei 1: 869029075700954, Imei 2: 869029075700947, bộ nhớ 512G tại thời điểm bị chiếm đoạt ngày 08/9/2025 là 5.000.000 đồng.

Trị giá tài sản bị chiếm đoạt ngày 08/9/2025 là 10.000.000 đồng.

Mở rộng điều tra làm rõ: Ngày 13/8/2025, Dương Văn T sử dụng tài khoản zalo tên “Tạ Thanh” đặt mua 08 điện thoại di động của anh Lê Văn G, sinh năm 2004, trú tại thôn T, xã X, tỉnh Thanh Hóa về bán, đặt địa điểm nhận hàng tại xã T, Hà Nội. Khoảng 10 giờ 00 phút ngày 16/8/2025, anh Nguyễn Hưu M (nhân viên giao hàng cho Công ty Cổ phần G1) gọi điện cho T để giao 01 đơn hàng gồm 08 điện thoại (trong đó: 01 điện thoại di động REDMI Note 14pro, số IMEI 99002157984719 và REDMI Note 13 pro số IMEI 99002153856537) có mã vận đơn là 1467082226. Tuyến hẹn anh M đến trước cửa hàng F ơ phố N, xã T để nhận hàng. Tuyến mang theo 02 điện thoại hỏng tại cửa hàng của mình (01 điện thoại di động nhãn hiệu Oppo màu đen và 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 6 Plus màu xám), mục đích lợi dụng sơ hở của S sẽ tráo đổi điện thoại cũ vào đơn hàng để trộm cắp tài sản. Khoảng 10 giờ 30 phút, cùng ngày T đến điểm hẹn để nhận hàng. Tuyến yêu cầu anh M cho Tuyến kiểm tra đơn hàng, anh M mở đơn hàng để Tuyến kiểm tra. Lợi dụng lúc anh M đi ra chỗ khác nghe điện thoại, không quan sát nên T đã tráo đổi 02 điện thoại mới (01 điện thoại di động REDMI Note 14pro và 01 điện thoại di động nhãn hiệu REDMI Note 13pro) bỏ vào túi quần rồi bỏ 02 điện thoại hỏng vào trong hộp đơn hàng. Khi anh M nghe điện thoại xong quay lại, T đưa cho M số tiền 50.000 đồng và nói “chờ anh để anh đi đến chỗ bạn lấy tiền ra trả”, anh M đồng ý. T đi về nhà cất giấu điện thoại tại cửa hàng bán điện thoại của mình. Anh M đợi không thấy T quay lại, thấy nghi ngờ nên kiểm tra lại gói hàng thì phát hiện mất 02 điện thoại mới, do chưa giải quyết xong việc bồi thường nên anh M chưa trình báo cơ quan Công an. Sau đó, T bán cho 01 nam thanh niên lạ 01 điện thoại di động REDMI Note 14pro, giá 3.000.000 đồng và 01 điện thoại di động nhãn hiệu REDMI Note 13pro, giá 2.300.000 đồng. Số tiền bán điện thoại, T đã tiêu sài cá nhân hết. Đến ngày 16/9/2025, anh M thấy bài đăng bắt được đối tượng với phương thưc trộm cắp tương tự trên nhóm facebook “Xã N - TP Hà Nội” nên anh M đã đến Công an xã T trình báo.

Tại Bản Kết luận định giá tài sản số 01/KL-HĐĐGTS của Hội đồng Định giá tài sản thường xuyên trong tố tụng hình sự xã T ngày 27/11/2025 xác định: Giá trị 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu REDMI Note 14 Pro, màu đỏ, Ram 12GB, bộ nhớ 256GB, số IMEI 99002157984719 tại thời điểm bị chiếm đoạt ngày 16/8/2025 là 6.276.000 đồng; Giá trị 01 điện thoại nhãn hiệu REDMI Note 13 Pro, màu xanh, Ram 12GB, bộ nhớ 256GB, số IMEI 99002153856537 tại thời điểm bị chiếm đoạt ngày 16/8/2025 là 4.793.000 đồng.

Trị giá tài sản bị chiếm đoạt ngày 16/8/2025 là 11.069.000 đồng.

Tổng giá trị tài sản bị chiếm đoạt cả hai ngày 16/8/2025 và 08/9/2025 là 21.069.000 đồng.

Vật chứng tạm giữ, xử lý vật chứng:

- Thu giư của anh Nông Đưc H: 02 vỏ hộp đựng điện thoại di động, trên hộp có ghi chư “OPPO Reno12 5G”. Bên trong mỗi hộp có 01 sạc điện thoại màu trắng và 01 ốp điện thoại trong suốt; 01 chiếc điện thoại di động OPPO màu xám bị hỏng không sử dụng được; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Xiaomi màu xanh đã hỏng không sử dụng được;

- Thu giư của Dương Văn T: 01 điện thoại nhãn hiệu OPPO Reno12 5G màu hồng, IMEI1: 869029076417210, IMEI2: 869029076417202; 01 điện thoại nhãn hiệu OPPO Reno12 5G màu nâu, IMEI1: 86902975700954, IMEI2: 86902975700947; 01 áo chống nắng tối màu, trên áo có in các chư và các hình khác nhau; 01 quần sooc màu đen, 01 đôi dép lê màu đen; 01 xe mô tô Honda Vision màu xám đen, BKS: 29S6-974.22

- Thu giư của anh Nguyễn Hưu M: 01 vỏ hộp điện thoại nhãn hiệu REDMI Note 14pro, số IMEI 99002157984719; 01 vỏ hộp điện thoại nhãn hiệu REDMI Note 13 pro số IMEI 99002153856537; 01 điện thoại di động nhãn hiệu OPPO màu đen đã bị hỏng; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 6 Plus màu xám đã bị hỏng không lên nguồn.

Đối với 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda Vision màu xám đen, BKS: 29S6-974.22, quá trình điều tra xác định chị Nguyễn Thị T1, sinh năm 1987, trú tại thôn Â, xã S, Hà Nội (vợ của T) là chủ sở hưu tài sản và việc T sử dụng phương tiện phạm tội chị T1 không biết. Ngày 16/10/2025, Cơ quan CSĐT – Công an thành phố H đã ra Quyết định trả lại xe cho chị T1.

Đối với 02 vỏ hộp đựng điện thoại di động, trên hộp có ghi chư “OPPO Reno12 5G”, bên trong mỗi hộp có 01 sạc điện thoại màu trắng, 01 ốp điện thoại trong suốt và 01 điện thoại nhãn hiệu OPPO Reno12 5G màu hồng, IMEI1: 869029076417210, IMEI2: 869029076417202; 01 điện thoại nhãn hiệu OPPO Reno12 5G màu nâu, IMEI1: 86902975700954, IMEI2: 86902975700947. Quá trình điều tra xác định anh Nông Đưc H là chủ sở hưu tài sản nên ngày 16/10/2025, Cơ quan CSĐT – Công an thành phố H đã trả lại cho anh Nông Đưc H. Đối với người mua 02 điện thoại di động Tuyến chiếm đoạt của anh M, T không biết nhân thân nên không có căn cư xác minh làm rõ. Về dân sự: Anh Nông Đưc H đã nhận lại tài sản nên không yêu cầu bồi thường dân sự. Sau đó, Công ty G1 đã trả lại tài sản cho anh Hà Văn C là chủ sở hưu hợp pháp, anh C không yêu cầu bồi thường về dân sự. Chị Nguyễn Thị T1 (vợ bị can T) đã bồi thường thiệt hại cho anh Nguyễn Hưu M số tiền 10.200.000 đồng, anh M không yêu cầu bồi thường phần dân sự và đã có đơn xin miễn truy cưu trách nhiệm hình sự đối với T. Sau khi nhận tiền bồi thường, anh M đã trả lại cho anh Lê Văn G, nên anh G không yêu cầu bồi thường dân sự.

Quá trình điều tra, bị can thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội của mình như đã nêu trên.

Tại phiên tòa hôm nay, bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình theo đúng như nội dung bản cáo trạng của Viện kiểm sát đã truy tố.

Tại bản cáo trạng số: 241/CT-VKS ngày 02/02/2026 của Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 7 – Hà Nội đã truy tố bị cáo Dương Văn T đã phạm tội: “Trộm cắp tài sản” quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố luận tội và tranh luận: Căn cư vào các tài liệu, chưng cư có trong hồ sơ vụ án và lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa hôm nay thấy rằng: Hành vi của bị cáo Dương Văn T đã đủ yếu tố cấu thành tội: “Trộm cắp tài sản” quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự.

Đề nghị hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt vì tại phiên tòa bị cáo thành khẩn, ăn năn, hối cải. Gia đình bị cáo hoàn cảnh khó khăn. Bị cáo nhận thưc pháp luật còn hạn chế. Gia đình bị cáo có công với cách mạng. Bị cáo đã bồi thường cho các bị hại. Bị cáo ra đầu thú. Các bị hại không yêu cầu bồi thường thêm và xin giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo.

* Về tội danh và hình phạt:

1. Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng quy định tại: Khoản 1 Điều 173; điểm b, điểm s Khoản 1; Khoản 2 Điều 51; điểm g Khoản 1 Điều 52; Điều 38 Bộ luật hình sự.

Xử phạt: Dương Văn T từ 09 (chín) tháng đến 12 (mười hai) tháng tù.

* Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

* Về dân sự và xử lý vật chứng: Áp dụng điều 46, 47 của Bộ luật hình sự 2015. Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự 2015.

- Về trách nhiệm dân sự: Đã bồi thường, khắc phục xong nên không đề nghị giải quyết.

- Về xử lý vật chưng đề nghị:

Tịch thu tiêu hủy: 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Oppo màu đen (đã qua sử dụng, không lắp sim, bật không lên nguồn, không kiểm tra tình trạng máy bên trong). Được niêm phong trong 01 phong bì có hình dấu Cơ quan Cảnh sát điều tra, C1 và chư ký cán bộ Hà Minh T2; 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 6Plus màu xám (đã qua sử dụng, không lắp sim, bật không lên nguồn, không kiểm tra tình trạng máy bên trong). Được niêm phong trong 01 phong bì có hình dấu Cơ quan Cảnh sát điều tra, C1 và chư ký cán bộ Hà Minh T2; 01 (một) vỏ hộp giấy, trên bề mặt có in chư Redmi Note 13 Pro (bên trong hộp không có đồ vật, tài sản, tài liệu gì); 01 (một) vỏ hộp giấy, trên bề mặt có in chư Redmi Note 14 Pro (bên trong hộp không có đồ vật, tài sản, tài liệu gì); 01 (một) áo chống nắng màu nâu, trên áo có in các chư và các hình khác nhau; 01 (một) quần sooc màu đen; 01 (một) đôi dép da màu đen, loại dép lê; 01 (một) điện thoại di động Oppo màu xám bị hỏng, không sử dụng được, không kiểm tra tình trạng máy bên trong. Được niêm phong trong 01 phong bì có hình dấu Cơ quan Cảnh sát điều tra, C1 và chư ký cán bộ Hà Minh T2; f01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Xiaomi màu xanh bị hỏng, không sử dụng được, không kiểm tra tình trạng máy bên trong. Được niêm phong trong 01 phong bì có hình dấu Cơ quan Cảnh sát điều tra, C1 và chư ký cán bộ Hà Minh T2.

* Về án phí: Người tham gia tố tụng phải chịu án phí theo qui định pháp luật.

* Về quyền kháng cáo: Người tham gia tố tụng có quyền kháng cáo theo qui định pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cư vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

- Xét lời khai nhận của bị cáo tại phiên tòa là phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, lời khai người tham gia tố tụng cùng các tài liệu, chưng cư khác có trong hồ sơ vụ án cũng như nội dung bản Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 7 – Hà Nội đã truy tố.

HĐXX có đủ cơ sở kết luận: - Ngày 16/8/2025, tại Phố N, xã T, Hà Nội, Dương Văn T có hành vi lợi dụng sơ hở của anh Nguyễn Hưu M, chiếm đoạt 01 điện thoại di động nhãn hiệu REDMI Note 14 Pro, màu đỏ, Ram 12GB, bộ nhớ 256GB, trị giá tài sản là 6.276.000 đồng; 01 điện thoại nhãn hiệu REDMI Note 13 Pro, màu xanh, Ram 12GB, bộ nhớ 256GB, trị giá tài sản là 4.793.000 đồng. Tổng giá trị tài sản là 11.069.000 đồng.

- Ngày 08/9/2025 tại thôn H, xã N, Hà Nội, Dương Văn T lợi dụng sơ hở của anh Nông Đưc H, chiếm đoạt 01 điện thoại nhãn hiệu OPPO Reno 12, 5G, màu hồng, trị giá tài sản là 5.000.000 đồng; 01 điện thoại nhãn hiệu OPPO Reno 12, SG, màu nâu, trị giá tài sản là 5.000.000 đồng. Tổng giá trị tài là 10.000.000 đồng.

Tổng giá trị tài sản Dương Văn T chiếm đoạt là 21.069.000 đồng.

Do đó, Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 7- Hà Nội đã đưa ra các chưng cư buộc tội và truy tố bị cáo theo nội dung cáo trạng là có căn cư và phù hợp với quy định của pháp luật.

Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến trật tự công cộng, làm ảnh hưởng xấu đến nếp sống văn hóa. Hành vi của bị cáo gây tâm lý lo lắng cho quần chúng nhân dân. Hành vi của bị cáo đã xâm phạm trật tự trị an xã hội. Hành vi của bị cáo xâm phạm quyền sở hưu tài sản. Do đó cần thiết phải áp dụng hình phạt tương xưng với hành vi phạm tội của bị cáo nhằm cải tạo bị cáo và để giúp bị cáo sống lành mạnh, lao động có ích cho xã hội.

Bị cáo bị Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 7 – Hà Nội truy tố về tội “Trộm cắp tài sản” quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự. Tòa án nhân dân Khu vực 7 – Hà Nội đã 02 lần trả hồ sơ điều tra bổ sung về tội “Lưa đảo chiếm đoạt tài sản”. Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 7 – Hà Nội giư nguyên quan điểm truy tố. Do vậy, đề nghị Viện kiểm sát nhân dân TP Hà Nội và Tòa án nhân dân TP Hà Nội xem xét.

Xét nhân thân: Bị cáo Dương Văn T chưa có tiền án, chưa tiền sự.

Xét vai trò của bị cáo: Trong vụ án này, bị cáo là người trực tiếp thực hiện hành vi phạm tội. Không có đồng phạm. Do vậy cần áp dụng hình phạt phù hợp đối với bị cáo đủ tác dụng giáo dục.

[4] Tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa:

- Xét tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự của bị cáo: Bị cáo phạm tội 2 lần nên phải chịu tình tiết tăng nặng quy định tại điểm g Khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự.

- Xét tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo:

1. Bị cáo thành khẩn khai báo.

2. Bị cáo ăn năn hối, cải về hành vi phạm tội của mình.

3. Gia đình bị cáo hoàn cảnh khó khăn.

4. Bị cáo hưa sửa chưa, không vi phạm pháp luật nưa.

5. Bị cáo nhận thưc pháp luật còn hạn chế.

6. Gia đình bị cáo có công với cách mạng (Có giấy tờ bản sao nộp lưu hồ sơ vụ án).

7. Bị cáo đã bồi thường cho các bị hại.

8. Bị cáo ra đầu thú.

9. Các bị hại không yêu cầu bồi thường thêm và xin giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo.

Nên xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo. Hội đồng xét xử áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo: theo điểm b, điểm s Khoản 1; Khoản 2 điều 51 Bộ luật hình sự. Nghị quyết Số: 04/2025/NQ-HĐTP ngày 30 tháng 09 năm 2025 của Hội đồng thẩm phán, Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, các tình tiết tăng nặng, trách nhiệm hình sự.

Đối với bị cáo cần phải áp dụng hình phạt phù hợp với tính chất, mưc độ phạm tội để đủ tác dụng giáo dục bị cáo và phòng ngưa chung.

Xét theo qui định pháp luật, áp dụng hình phạt tù là hình phạt chính đối với bị cáo là phù hợp và đảm bảo tính nghiêm minh của pháp luật.

* Không áp dụng hình phạt bổ sung do bị cáo không có thu nhập ổn định.

Đại diện Viện kiểm sát đề nghị áp dụng mưc hình phạt tù đối với bị cáo là có căn cư và phù hợp với pháp luật.

Về dân sự và xử lý vật chứng: Áp dụng điều 46, 47 của Bộ luật hình sự. Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự.

- Về trách nhiệm dân sự: Đã bồi thường đầy đủ cho bị hại nên không xét.

- Về xử lý vật chưng xét nên:

Tịch thu tiêu hủy: 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Oppo màu đen (đã qua sử dụng, không lắp sim, bật không lên nguồn, không kiểm tra tình trạng máy bên trong). Được niêm phong trong 01 phong bì có hình dấu Cơ quan Cảnh sát điều tra, C1 và chư ký cán bộ Hà Minh T2; 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 6Plus màu xám (đã qua sử dụng, không lắp sim, bật không lên nguồn, không kiểm tra tình trạng máy bên trong). Được niêm phong trong 01 phong bì có hình dấu Cơ quan Cảnh sát điều tra, C1 và chư ký cán bộ Hà Minh T2; 01 (một) vỏ hộp giấy, trên bề mặt có in chư Redmi Note 13 Pro (bên trong hộp không có đồ vật, tài sản, tài liệu gì); 01 (một) vỏ hộp giấy, trên bề mặt có in chư Redmi Note 14 Pro (bên trong hộp không có đồ vật, tài sản, tài liệu gì); 01 (một) áo chống nắng màu nâu, trên áo có in các chư và các hình khác nhau; 01 (một) quần sooc màu đen; 01 (một) đôi dép da màu đen, loại dép lê; 01 (một) điện thoại di động Oppo màu xám bị hỏng, không sử dụng được, không kiểm tra tình trạng máy bên trong. Được niêm phong trong 01 phong bì có hình dấu Cơ quan Cảnh sát điều tra, C1 và chư ký cán bộ Hà Minh T2; f01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Xiaomi màu xanh bị hỏng, không sử dụng được, không kiểm tra tình trạng máy bên trong. Được niêm phong trong 01 phong bì có hình dấu Cơ quan Cảnh sát điều tra, C1 và chư ký cán bộ Hà Minh T2.

Các vấn đề khác: Đối với 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda Vision màu xám đen, BKS: 29S6-974.22, quá trình điều tra xác định chị Nguyễn Thị T1, sinh năm 1987, trú tại thôn Â, xã S, Hà Nội (vợ của T) là chủ sở hưu tài sản và việc T sử dụng phương tiện phạm tội chị T1 không biết. Ngày 16/10/2025, Cơ quan CSĐT – Công an thành phố H đã ra Quyết định trả lại xe cho chị T1.

Đối với 02 vỏ hộp đựng điện thoại di động, trên hộp có ghi chư “OPPO Reno12 5G”, bên trong mỗi hộp có 01 sạc điện thoại màu trắng, 01 ốp điện thoại trong suốt và 01 điện thoại nhãn hiệu OPPO Reno12 5G màu hồng, IMEI1: 869029076417210, IMEI2: 869029076417202; 01 điện thoại nhãn hiệu OPPO Reno12 5G màu nâu, IMEI1: 86902975700954, IMEI2: 86902975700947. Quá trình điều tra xác định anh Nông Đưc H là chủ sở hưu tài sản nên ngày 16/10/2025, Cơ quan CSĐT – Công an thành phố H đã trả lại cho anh Nông Đưc H.

Đối với người mua 02 điện thoại di động Tuyến chiếm đoạt của anh M, T không biết nhân thân nên không có căn cư xác minh làm rõ.

Hội đồng xét xử không xét.

Về án phí: Người tham gia tố tụng phải chịu án phí theo qui định pháp luật.

Về quyền kháng cáo: Người tham gia tố tụng được quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra – Công an thành phố H, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 7 – Hà Nội, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa hôm nay, bị cáo đã khai báo thành khẩn, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình. Bị cáo và người tham gia tố tụng khác không có khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đều hợp pháp.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

1. Áp dụng: Khoản 1 Điều 173; điểm b, điểm s Khoản 1; Khoản 2 Điều 51; điểm

g khoản 1 Điều 52, Điều 38 Bộ luật hình sự. Điều 299, Điều 328 của Bộ luật

tố tụng hình sự.

Tuyên bố bị cáo: Dương Văn T phạm tội: “Trộm cắp tài sản”.

Xử phạt: Dương Văn T 08 (tám) tháng 21 (hai mươi mốt) ngày tù. Thời hạn tù bằng thời hạn tạm giư, tạm giam tư ngày 08/09/2025 đến ngày 29/05/2026. Trả tự do cho bị cáo tại phiên toà nếu bị cáo không bị tạm giư, tạm giam về một tội phạm khác:

Miễn hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

* Về dân sự và xử lý vật chứng:

Áp dụng Điều 47 của Bộ luật hình sự. Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự.

- Về trách nhiệm dân sự: Đã bồi thường, khắc phục hậu quả xong nên không xét.

- Về xử lý vật chưng:

Tịch thu tiêu hủy: 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Oppo màu đen (đã qua sử dụng, không lắp sim, bật không lên nguồn, không kiểm tra tình trạng máy bên trong). Được niêm phong trong 01 phong bì có hình dấu Cơ quan Cảnh sát điều tra, C1 và chư ký cán bộ Hà Minh T2; 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 6Plus màu xám (đã qua sử dụng, không lắp sim, bật không lên nguồn, không kiểm tra tình trạng máy bên trong). Được niêm phong trong 01 phong bì có hình dấu Cơ quan Cảnh sát điều tra, C1 và chư ký cán bộ Hà Minh T2; 01 (một) vỏ hộp giấy, trên bề mặt có in chư Redmi Note 13 Pro (bên trong hộp không có đồ vật, tài sản, tài liệu gì); 01 (một) vỏ hộp giấy, trên bề mặt có in chư Redmi Note 14 Pro (bên trong hộp không có đồ vật, tài sản, tài liệu gì); 01 (một) áo chống nắng màu nâu, trên áo có in các chư và các hình khác nhau; 01 (một) quần sooc màu đen; 01 (một) đôi dép da màu đen, loại dép lê; 01 (một) điện thoại di động Oppo màu xám bị hỏng, không sử dụng được, không kiểm tra tình trạng máy bên trong. Được niêm phong trong 01 phong bì có hình dấu Cơ quan Cảnh sát điều tra, C1 và chư ký cán bộ Hà Minh T2; f01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Xiaomi màu xanh bị hỏng, không sử dụng được, không kiểm tra tình trạng máy bên trong. Được niêm phong trong 01 phong bì có hình dấu Cơ quan Cảnh sát điều tra, C1 và chư ký cán bộ Hà Minh T2.

(Biên bản về việc giao nhận vật chưng, tài sản ngày 29/01/2026 tại Kho vật chưng Phòng thi hành án dân sự Khu vực 7- Hà Nội)

* Về án phí và quyền kháng cáo:

Áp dụng Điều 136; 331; 333 của Bộ luật tố tụng hình sự và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban thường vụ quốc hội.

Bị cáo phải nộp 200.000đ (hai trăm ngàn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.

Người tham gia tố tụng có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể tư ngày tuyên án.

Người tham gia tố tụng vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể tư ngày nhận bản án hoặc kể tư ngày bản án được niêm yết.

Cỡ chữ